Như vậy, mục tiêu đạt 45 - 50% giá trị thiết bị vào năm 2020 theo “Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020” liệu có thành hiện thực? st1\:*{behavior:url(#ieooui) }


Chính sách chưa “nâng đỡ” cơ khí


Sau gần 10 năm phê duyệt “Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020”, mặc dù được coi là một trong những ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, củng cố an ninh quốc phòng của đất nước nhưng đến nay, ngành Cơ khí Việt Nam vẫn chưa có các cơ sở công nghiệp có thiết bị công nghệ tiên tiến đủ khả năng thiết kế, chế tạo máy, thiết bị công nghệ cao đủ sức cạnh tranh với thị trường trong nước và quốc tế. Hầu hết các chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí đều thừa nhận, không một quốc gia nào có ngành cơ khí phát triển mà không cần đến sự “nâng đỡ” của Nhà nước. Nhờ sự nâng đỡ này mà trước khi Việt Nam gia nhập WTO, một số chuyên ngành cơ khí như công nghiệp tàu thủy, lắp ráp ô tô bus, cơ khí thủy công, xi măng… đã vươn lên mạnh mẽ nhưng từ năm 2006 trở đi, khi các cơ chế ưu đãi không còn nữa, ngành cơ khí bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Rất nhiều sản phẩm cơ khí trước đó trong nước đã sản xuất được thì nay lại được nhập khẩu. Ông Nguyễn Văn Thụ, Chủ tịch Hiệp hội Cơ khí Việt Nam (VAMI) dẫn chứng, hơn 20 năm qua, Nhà nước chưa đầu tư được một nhà máy cơ khí trọn vẹn nào. Thế nên, việc huy động nguồn vốn đối với doanh nghiệp cơ khí là rất khó. Ngay các quy định về đấu thầu, chỉ định thầu cũng chưa tạo điều kiện cho DN trong nước. Bà Phạm Thị Thu Hà, Phó TGĐ Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) chia sẻ: “Chúng tôi rất xót xa khi nhìn nhiều dự án của PVN rơi vào tay các nhà thầu nước ngoài mặc dù trong đó rất nhiều dự án DN trong nước có thể làm được. Nhiều chính sách còn bất hợp lý đã dẫn đến tình trạng DN thắng thầu ở nước ngoài nhưng lại thua ngay trên sân nhà. Lý do là khi làm cho dự án nước ngoài thì được áp dụng mức thuế 0%, trong khi dự án trong nước thì lại phải chịu thuế VAT. Điều đó cũng lý giải vì sao các DN cơ khí trong nước thường bỏ thầu giá cao và khó trúng thầu hơn DN nước ngoài”.


Cần một chiến lược tổng thể


Một phần vì thiếu sự “nâng đỡ” của Nhà nước, nên các dự án cơ khí lớn trong nước thường có tỷ lệ nội địa hóa rất thấp. Tiến sĩ Nguyễn Chỉ Sáng, Viện trưởng Viện nghiên cứu cơ khí cho biết: trong số 21 nhà máy xi măng, chỉ có xi măng Sông Thao do Lilama làm tổng thầu EPC có tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%, các dự án còn lại do Trung Quốc làm tổng thầu thì tỷ lệ nội địa hóa là 0% - 5%. Như vậy, mục tiêu đạt từ 45 - 50% giá trị thiết bị mà chúng ta cần để thực hiện CNH-HĐH đất nước đến năm 2020 là rất xa vời!


Chỉ còn 10 năm nữa - một nửa chặng đường để thực hiện “Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020”. Để chủ động và không tụt hậu, VAMI kiến nghị Chính phủ tiếp tục lựa chọn một số sản phẩm cơ khí chế tạo trong 8 nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm để tập trung đầu tư; dành vốn hoặc bảo lãnh cho vay nước ngoài để gấp rút đầu tư những nhà máy quan trọng, có công nghệ tiên tiến để chế tạo thiết bị đồng bộ, máy phục vụ nông nghiệp và chế biến nông lâm ngư nghiệp để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, công nghiệp, nông nghiệp và xuất khẩu. Đồng thời, khẩn trương sắp xếp lại khối các doanh nghiệp cơ khí thuộc sở hữu nhà nước, bỏ cấp chủ quản để tạo sức mạnh liên kết, hợp tác đầu tư sản xuất cho toàn ngành.


Bên cạnh đó, Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ các nguồn vốn cho các viện nghiên cứu thiết kế cơ khí hiện có của các Bộ Công Thương, Xây dựng, Giao thông vận tải, Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam, Công nghiệp Tàu thủy trở thành viện nghiên cứu thiết kế đầu ngành, đáp ứng nhu cầu phát triển cơ khí cho cả nước. Cùng với đó, cần có chính sách cụ thể để ưu tiên dùng hàng cơ khí trong nước đạt chất lượng, giảm nhập siêu, giảm thuế nhập khẩu sắt thép, nguyên vật liệu trong nước chưa sản xuất được, giảm thuế GTGT cho các sản phẩm cơ khí sản xuất trong nước dưới 5%. Ngoài ra, khuyến khích các doanh nghiệp cơ khí đầu tư vào việc chế tạo linh phụ kiện, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các tập đoàn để tăng thêm cơ hội xuất khẩu.


Ông Nguyễn Văn Thụ nhấn mạnh, để tạo bước phát triển mạnh mẽ và hiệu quả cho cơ khí chế tạo Việt Nam, cần thiết xây dựng một trung tâm cơ khí nặng tại miền Bắc, đủ sức chế tạo, sửa chữa các thiết bị nặng như: nhà máy xi măng, nhà máy thủy điện, công nghiệp hóa chất, giấy… Tại miền Nam, Chính phủ cần có chủ trương giao cho lực lượng công nghiệp quốc phòng xây dựng một nhà máy cơ khí lớn để đảm nhiệm quốc phòng và phát triển kinh tế.