Vị trí thứ 5 về diện tích, thứ 4 về sản lượng

Việt Nam hiện đang đứng thứ 5 thế giới về diện tích trồng cao su, đã phát triển thêm diện tích từ 30.000 - 40.000 ha và thứ 4 thế giới về sản lượng xuất khẩu cao su tự nhiên. Năm 2010, sản lượng cao su đạt khoảng 770.000 tấn mủ và xuất khẩu 750.000 tấn (bao gồm cả nguồn tạm nhập tái xuất) với trị giá xuất khẩu trên 1,8 -2,0 tỷ USD, tăng so với năm 2009. Sản lượng cao su của Việt Nam được xuất khẩu ra 39 nước trên thế giới, trong đó, Trung Quốc chiếm 60%. Sản lượng khai thác và xuất khẩu cao su của Việt Nam năm 2010 tăng từ 10-15% so với năm 2009. Năm 2010 là năm đáng nhớ đối với ngành cao su trong nước vì giá bán cao su liên tục tăng, có lúc trên 4000 USD/tấn. Năm 2010, mức tiêu thụ cao su thiên nhiên đạt khoảng 10,43 triệu tấn, tăng 8% so năm 2009. Theo đó, giá cả cũng sẽ được cải thiện ở mức thoả đáng theo đà phục hồi của giá dầu thô và cao su tổng hợp, đem lại lợi nhuận tốt cho người sản xuất.

Theo Trung tâm Tin học và Thống kê, giá mủ cao su năm 2010 tăng khoảng 30% so với năm 2009 do chính sách khuyến khích sử dụng xe tải nhỏ của Trung Quốc. Bên cạnh đó, giá dầu thế giới trong năm nay luôn trong xu hướng tăng do đà hồi phục kinh tế toàn cầu, nên mủ cao su thiên nhiên vẫn là lựa chọn tối ưu trong ngành sản xuất săm lốp ôtô và thiết bị y tế trên thị trường thế giới.

Nhìn chung, năm 2010, tình hình sản xuất và tiêu thụ cao su thiên nhiên thế giới đã có nhiều thuận lợi cho xuất khẩu cao su của Việt Nam. Năm 2010, sản xuất cao su ở các nước châu Á chiếm 94% sản lượng cao su thiên nhiên thế giới, trong đó, đứng đầu là Thái Lan (3,27 triệu tấn), kế tiếp là Indonesia (2,59 triệu tấn), Malaysia (1 triệu tấn), Ấn Độ (879 ngàn tấn) và Việt Nam đứng thứ 5 (770 ngàn tấn). Đáng chú ý là Malaysia và Ấn Độ đứng thứ 3 và thứ 4 thế giới về sản lượng cao su, nhưng lại là nước tiêu thụ cao su lớn trên thế giới. Lượng cao su Malaysia nhập khẩu nhiều hơn lượng mà nước này xuất khẩu. Còn Ấn Độ, với nền công nghiệp ô tô giá rẻ đang phát triển cực nhanh đã khiến nước này tiêu thụ cao su vượt qua cả Mỹ, đứng thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Riêng Trung Quốc, đứng thứ 6 trên thế giới về sản lượng cao su (660 ngàn tấn, thấp hơn Việt Nam) nhưng lại là nước tiêu thụ cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới. Mỗi năm Trung Quốc nhập khẩu khoảng 2,6 triệu tấn cao su các loại, trong đó cao su thiên nhiên chiếm 1,6 triệu tấn. Năm 2010, nhu cầu cao su của nước này tăng mạnh bởi công nghiệp ô tô Trung Quốc phát triển nhanh. Đây cũng là một trong những điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu cao su Việt Nam vào thị trường Trung Quốc. Như vậy, với diễn biến của thị trường cao su thế giới năm 2010, có thể nói ngành cao su xuất khẩu của Việt Nam đang đạt cả 2 yếu tố là thiên thời và địa lợi.

Định hướng thị trường

Bên cạnh những thuận lợi trên thì tiêu thụ và xuất khẩu cao su Việt Nam năm 2010 vẫn tiềm ẩn những rủi ro và thách thức không nhỏ khi phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc. Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, lượng cao su Việt Nam xuất qua Trung Quốc chiếm trên 50% tổng lượng cao su xuất khẩu của cả nước, nhưng xuất chính ngạch qua Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 9%. Xuất khẩu biên mậu có những lợi ích nhất định vì được phía Trung Quốc áp dụng thuế suất nhập khẩu thấp hơn so với xuất khẩu chính ngạch nên tạo lợi thế cho cao su Việt Nam so với các nước. Hơn nữa, Trung Quốc là một thị trường dễ tính, không đòi hỏi cao về chất lượng, bao bì đóng gói nên hàng chất lượng nào cũng bán được...

Tuy nhiên, thị trường biên mậu lại gặp rất nhiều rủi ro về thanh toán và giá cả, Việc các doanh nghiệp cao su không có sự cải tiến về chất lượng, bao bì sản phẩm... khiến cho hàng hóa không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào các thị trường khác khi tình hình biên giới bị bế tắc hay ép giá. Bên cạnh đó là doanh nghiệp không nâng cao ý thức kinh doanh chuyên nghiệp như các nghiệp vụ đàm phán, ký kết hợp đồng, thanh toán quốc tế hoặc nâng cao thương hiệu của mình trên thị trường.

Sở dĩ xuất khẩu cao su năm 2010 tăng mạnh là do các doanh nghiệp đã chú trọng nhiều hơn sang thị trường các nước khác. Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (Vietnam Rubber Group-VRG) là đơn vị tiên phong trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu sang 30 nước trên thế giới, trong đó có nhiều thị trường tiềm năng như Nga, Đông Âu và Mỹ. Ngoài việc mở rộng thị trường xuất khẩu chính ngạch để giảm thiểu rủi ro ở thị trường biên mậu, các doanh nghiệp Việt Nam đã chú ý hơn đến việc phát triển sang những thị trường mới nổi như Ấn Độ.

Một trong những biện pháp quan trọng nhằm tăng cường tính bền vững cho việc xuất khẩu và tiêu thụ cao su là các doanh nghiệp đã tăng cường cung cấp nguyên liệu cho các nhà công nghiệp chế biến cao su trong nước. Nhu cầu cao su thiên nhiên trong nước dự kiến từ 16% hiện nay sẽ tăng lên 30% vào những năm 2020 tương đương khoảng 300- 400 ngàn tấn/năm; Thứ hai là các doanh nghiệp cũng đã đảm bảo chất lượng và bao bì đóng gói theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế để mở rộng thị trường, chuyển sang xuất khẩu chính ngạch là chủ yếu kể cả thị trường Trung Quốc; Thứ ba, để vừa có thể tiêu thụ ổn định, vừa có giá bán tốt, nên xuất khẩu bằng hợp đồng dài hạn 60-70% sản lượng, phần còn lại tham gia thị trường chuyến để không mất cơ hội khi giá lên.

Cho dù năm 2010, giá cao su cao nhất trong lịch sử, có lúc giá cao su Việt Nam đạt tới mức kỷ lục trên 4.000- 4.200 USD/tấn đối với cao su SVR 3L xuất khẩu (tương đương trên 85-90 triệu đồng/tấn), nhưng trong tương lai, cần phải tính đến chiến lược thị trường lâu dài nếu không sẽ lúng túng trong vấn đề tiêu thụ cao su khi cung cầu cao su thế giới thay đổi có thể thiếu hoặc thừa.

Sự phục hồi của nền kinh tế thế giới trong năm 2010 đã làm tăng nhu cầu về cao su thiên nhiên của Trung Quốc, Ấn Độ và Malaysia, trong khi nguồn cung không kịp đáp ứng. Năm 2010, nền kinh tế thế giới phục hồi dần, tạo thuận lợi cho việc xuất khẩu cao su nguyên liệu và sản phẩm. Theo Tổ chức nghiên cứu cao su quốc tế (IRSG), từ năm 2010, nhu cầu cao su thiên nhiên sẽ tăng trưởng liên tục đến 2019.

Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành Quyết định 750/QĐ-TTg ngày 3/6/2009 về Quy hoạch phát triển ngành Cao su đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Theo đó, mục tiêu đến năm 2015, cả nước sẽ có 800.000 ha cao su và sản lượng mủ đạt 1,2 triệu tấn. Mục tiêu của ngành Cao su Việt Nam đến năm 2015 là nâng diện tích trồng lên 800.000 ha và đạt sản lượng 1,2 triệu tấn vào năm 2020.