TÓM TẮT:

Bài viết trình bày những vấn đề lý luận về nâng cao năng lực đội ngũ công chức cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong đó, vấn đề nghiên cứu thực tiễn được xác định phạm vi không gian tại xã Tuy Phước Bắc, tỉnh Gia Lai. Bài viết cũng đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức cấp xã nói chung và áp dụng cho trường hợp của xã Tuy Phước Bắc, tỉnh Gia Lai nói riêng trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay.

Từ khóa: công chức cấp xã, năng lực, Tuy Phước Bắc, chính quyền địa phương 2 cấp.

1. Đặt vấn đề

Tại tỉnh Gia Lai, việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 đã hình thành nhiều xã mới, trong đó có xã Tuy Phước Bắc - đơn vị chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025 [11]. Là một xã mới thành lập, Tuy Phước Bắc vừa phải nhanh chóng ổn định tổ chức bộ máy, vừa phải thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý nhà nước trong điều kiện không còn cấp trung gian. Điều này đặt ra những thách thức lớn đối với năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức xã.

Bài viết tập trung phân tích thực trạng năng lực đội ngũ công chức xã Tuy Phước Bắc và đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng công vụ ở cấp xã, đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương trong giai đoạn mới.

2. Cơ sở lý luận và khung lý thuyết phân tích

Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2025, công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng vào vị trí việc làm trong cơ quan nhà nước và hưởng lương từ ngân sách [8]. Trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp được xác lập từ ngày 01/7/2025, công chức cấp xã không còn được tổ chức theo các chức danh hành chính truyền thống mà được bố trí theo các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân xã theo Nghị định số 150/2025/NĐ-CP [3]. Cách tổ chức này phản ánh xu hướng chuyên môn hóa và tổng hợp chức năng quản lý ở cấp cơ sở, đồng thời làm gia tăng phạm vi nhiệm vụ và trách nhiệm công vụ của đội ngũ công chức xã.

Năng lực công chức cấp xã được hiểu là tổng hợp các yếu tố về kiến thức, kỹ năng, thái độ và khả năng thích ứng cho phép công chức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ quản lý nhà nước và phục vụ nhân dân tại cơ sở. Năng lực không chỉ phản ánh trình độ đào tạo, mà còn thể hiện ở khả năng vận dụng pháp luật, xử lý công việc thực tiễn, giao tiếp với công dân và thích ứng với các yêu cầu đổi mới quản trị công. Cách tiếp cận năng lực công vụ này phù hợp với lý luận về quản lý nguồn nhân lực khu vực công và đào tạo, bồi dưỡng công chức hiện đại [2].

Trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, công chức cấp xã giữ vai trò then chốt trong việc bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở. Họ là lực lượng trực tiếp tổ chức thi hành pháp luật, giải quyết thủ tục hành chính, cung ứng dịch vụ công và xử lý các vấn đề phát sinh từ đời sống cộng đồng. Đồng thời, công chức xã còn là kênh thông tin quan trọng giúp chính quyền cấp tỉnh nắm bắt tình hình thực tiễn, từ đó điều chỉnh chính sách cho phù hợp. Vai trò này phù hợp với định hướng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương [1].

Bên cạnh đó, công chức cấp xã còn đóng vai trò cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân thông qua hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, hòa giải cơ sở và tuyên truyền, vận động thực hiện chủ trương, chính sách. Trong điều kiện tăng cường phân cấp và đề cao trách nhiệm giải trình, vai trò này càng trở nên quan trọng, bởi mức độ hài lòng của người dân đối với chính quyền cơ sở phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ công chức xã.

Khung phân tích năng lực công chức cấp xã:

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý công, năng lực công chức cấp xã trong nghiên cứu này được tiếp cận theo 5 nhóm thành tố chính.

Thứ nhất là năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, thể hiện ở khả năng nắm vững và vận dụng pháp luật, chế độ, chính sách vào giải quyết công việc.

Thứ hai là năng lực quản lý và tham mưu, bao gồm kỹ năng lập kế hoạch, tổng hợp thông tin, phân tích tình hình và đề xuất giải pháp.

Thứ ba là năng lực giao tiếp và phục vụ nhân dân, phản ánh thái độ, kỹ năng ứng xử, khả năng lắng nghe và giải quyết yêu cầu của công dân.

Thứ tư là năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động hành chính.

Thứ năm là phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ và tinh thần trách nhiệm, giữ vai trò nền tảng chi phối các năng lực khác.

Khung phân tích này được sử dụng làm cơ sở để đánh giá thực trạng năng lực đội ngũ công chức xã Tuy Phước Bắc trong phần tiếp theo, thông qua các tiêu chí về trình độ, kết quả thực thi công vụ, mức độ hài lòng của người dân và đánh giá từ cấp quản lý.

3. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện theo cách tiếp cận quản lý công, kết hợp giữa phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn nhằm đánh giá toàn diện năng lực của đội ngũ công chức cấp xã trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Cách tiếp cận này cho phép vừa nhận diện các yêu cầu thể chế và tiêu chí chuẩn mực về năng lực công chức, vừa phản ánh được mức độ đáp ứng các yêu cầu đó trong thực tiễn vận hành của chính quyền cơ sở.

Về thu thập dữ liệu, nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra xã hội học với 3 nhóm đối tượng.

Nhóm thứ nhất là 50 công chức xã Tuy Phước Bắc, được khảo sát trực tuyến nhằm thu thập thông tin tự đánh giá về trình độ chuyên môn, kỹ năng hành chính, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ.

Nhóm thứ hai là 120 người dân đã thực hiện giao dịch hành chính hoặc tham gia các hoạt động cộng đồng tại xã, được khảo sát kết hợp trực tiếp tại Trung tâm phục vụ hành chính công và trực tuyến nhằm ghi nhận đánh giá về thái độ phục vụ, thời gian giải quyết hồ sơ, mức độ minh bạch và sự hài lòng khi tiếp xúc với đội ngũ công chức xã.

Nhóm thứ ba là 40 cán bộ lãnh đạo, đại biểu Hội đồng nhân dân xã và công chức cấp tỉnh có phối hợp công tác, nhằm thu thập ý kiến đánh giá từ góc nhìn quản lý và giám sát đối với năng lực của công chức xã.

Bên cạnh dữ liệu khảo sát, nghiên cứu còn sử dụng các nguồn tài liệu thứ cấp như văn bản pháp luật, báo cáo cải cách hành chính, báo cáo công tác cán bộ và các tài liệu chuyên môn liên quan đến công chức cấp xã và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Dữ liệu thu thập được mã hóa, kiểm tra và xử lý bằng các công cụ thống kê, chủ yếu là Excel và phần mềm SPSS. Các kỹ thuật thống kê mô tả được sử dụng để phân tích tần suất, tỷ lệ và xu hướng đánh giá của các nhóm đối tượng; đồng thời so sánh kết quả giữa nhóm công chức, người dân và cán bộ quản lý để làm rõ mức độ tương đồng và khác biệt trong nhận thức về năng lực công chức xã. Các phản hồi định tính từ phiếu khảo sát được phân loại theo các chủ đề chính nhằm bổ trợ và làm rõ các kết quả định lượng.

4. Thực trạng năng lực đội ngũ công chức xã Tuy Phước Bắc, tỉnh Gia Lai

4.1. Năng lực tổ chức công việc và xử lý tình huống hành chính

Trong bối cảnh cấp xã phải tiếp nhận nhiều nhiệm vụ từ cấp huyện sau khi chuyển sang mô hình 2 cấp, năng lực lập kế hoạch và tổ chức công việc của công chức giữ vai trò then chốt đối với hiệu quả vận hành của bộ máy hành chính. Kết quả khảo sát 50 công chức xã Tuy Phước Bắc cho thấy 25 người (50%) tự đánh giá ở mức tốt và 13 người (26%) ở mức rất tốt về kỹ năng lập kế hoạch, trong khi 12 người (24%) chỉ đạt mức trung bình; không có trường hợp nào ở mức kém hoặc rất kém. Như vậy, có 76% công chức cho biết, bản thân đáp ứng tốt yêu cầu lập kế hoạch công tác, phản ánh năng lực tổ chức công việc tương đối vững của đa số đội ngũ, song tỷ lệ 24% ở mức trung bình cho thấy vẫn tồn tại một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu quản lý hiện đại.

Năng lực xử lý tình huống phát sinh tiếp tục làm rõ mức độ chủ động của đội ngũ. Trong số 50 công chức được khảo sát, 34 người (68%) cho biết có thể xử lý linh hoạt, kịp thời các tình huống hành chính; 12 người (24%) phải xin ý kiến cấp trên trước khi đưa ra quyết định và 4 người (8%) thừa nhận còn lúng túng khi gặp tình huống bất ngờ. Như vậy, vẫn có 32% công chức chưa thực sự làm chủ tình huống công vụ, phản ánh hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn và năng lực ra quyết định - những yếu tố đặc biệt quan trọng trong mô hình chính quyền 2 cấp, nơi cấp xã phải tự chịu trách nhiệm cao hơn trong giải quyết công việc.

4.2. Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin của công chức cấp xã trở thành một tiêu chí cốt lõi của năng lực công vụ. Kết quả tự đánh giá của 50 công chức xã Tuy Phước Bắc cho thấy 22 người (44,0%) đạt mức tốt và 10 người (20,0%) đạt mức rất tốt về kỹ năng CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, tương đương 64% công chức có năng lực số ở mức khá và cao. Ngược lại, 16 người (32,0%) chỉ ở mức trung bình và 2 người (4,0%) ở mức kém, tức là còn 36% công chức chưa đáp ứng tốt yêu cầu về kỹ năng số.

Sự phân hóa này cho thấy, xã Tuy Phước Bắc đã có nền tảng ban đầu để vận hành các hệ thống quản lý điện tử và dịch vụ công trực tuyến, nhưng việc thiếu đồng đều về năng lực công nghệ thông tin trong đội ngũ có thể làm giảm hiệu quả triển khai chuyển đổi số, đặc biệt trong các khâu xử lý hồ sơ trực tuyến và liên thông dữ liệu.

4.3. Hiệu quả thực thi công vụ nhìn từ phía người dân và tổ chức

Một nền hành chính hiệu quả không chỉ được đánh giá từ nội bộ đội ngũ công chức mà còn từ trải nghiệm thực tế của người dân, đối tượng trực tiếp thụ hưởng dịch vụ công. Kết quả khảo sát 120 người dân về thời gian giải quyết hồ sơ hành chính tại xã Tuy Phước Bắc cho thấy 35 người (29%) đánh giá “nhanh, đúng hẹn” và 55 người (46%) cho hay, “chậm nhưng vẫn trong quy định”, tức là 75% ý kiến cho thấy, việc giải quyết hồ sơ cơ bản đáp ứng yêu cầu về thời gian. Tuy nhiên, vẫn có 20 người (17%) phản ánh “thỉnh thoảng trễ hẹn” và 10 người (8%) cho thấy “thường xuyên trễ hẹn”, tương ứng với 25% người dân trực tiếp trải nghiệm tình trạng chậm trễ.

Đánh giá về tính kịp thời cho thấy bức tranh rõ nét hơn: chỉ 45 người (38%) và 30 người (25%) xếp công chức ở mức khá và rất tốt, trong khi 28 người (23%) đánh giá trung bình, 12 người (10%) đánh giá kém và 5 người (4%) đánh giá rất kém. Như vậy, vẫn còn 37% người dân chưa hài lòng với tính kịp thời trong giải quyết công việc hành chính tại xã.

4.4. Mức độ hài lòng chung của người dân và tổ chức

Mức độ hài lòng chung phản ánh sự tổng hợp các trải nghiệm của người dân khi tiếp xúc với đội ngũ công chức. Kết quả khảo sát cho thấy 38% người dân đánh giá công chức xã Tuy Phước Bắc ở mức tốt và 25% ở mức rất tốt, tức là 63% người dân hài lòng ở mức cao. Tuy nhiên, 35% chỉ đánh giá ở mức trung bình và 2% ở mức kém, nghĩa là vẫn còn 37% người dân chưa thực sự hài lòng với chất lượng phục vụ của công chức xã. Tỷ lệ này phản ánh khoảng cách đáng kể giữa yêu cầu của mô hình chính quyền phục vụ và mức độ đáp ứng hiện tại của đội ngũ công chức cấp xã.

4.5. Đánh giá từ góc nhìn lãnh đạo và cơ quan giám sát

Bên cạnh phản hồi của người dân, đánh giá từ phía lãnh đạo và cơ quan giám sát cung cấp một góc nhìn quan trọng về ý thức công vụ của đội ngũ công chức. Trong 40 phiếu khảo sát lãnh đạo UBND xã, đại biểu Hội đồng nhân dân xã và công chức cấp tỉnh, có 12 người (30,0%) đánh giá công chức xã ở mức rất tốt và 20 người (50,0%) ở mức tốt về ý thức chấp hành pháp luật và kỷ luật công vụ. Như vậy, 80% ý kiến ghi nhận tích cực tinh thần tuân thủ và trách nhiệm công vụ của đội ngũ. Tuy nhiên, vẫn có 7 người (17,5%) đánh giá ở mức trung bình và 1 người (2,5%) đánh giá yếu, phản ánh sự chưa đồng đều về kỷ luật và tác phong công vụ trong nội bộ đội ngũ.

5. Thảo luận

Các kết quả thực nghiệm ở trên cho thấy, năng lực của đội ngũ công chức xã Tuy Phước Bắc trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã hình thành được một nền tảng vận hành cơ bản, song vẫn bộc lộ rõ những điểm nghẽn mang tính cấu trúc và năng lực. Những phát hiện này cần được đặt trong bối cảnh đặc thù của một đơn vị hành chính mới thành lập và chịu áp lực trực tiếp từ yêu cầu mới. Những đặc điểm này phù hợp với đánh giá của Chính phủ về các khó khăn và thách thức khi vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp [4].

Trước hết, kết quả về năng lực tổ chức công việc và xử lý tình huống cho thấy một nghịch lý đáng chú ý. Mặc dù có tới 76% công chức tự đánh giá kỹ năng lập kế hoạch ở mức tốt và rất tốt, vẫn có 32% công chức chưa đủ khả năng xử lý độc lập các tình huống phát sinh, phải xin ý kiến cấp trên hoặc còn lúng túng khi ra quyết định.

Thứ hai, sự phân hóa rõ rệt về năng lực số trong đội ngũ công chức là một vấn đề có tính hệ thống. Tỷ lệ 64% công chức có năng lực công nghệ thông tin ở mức tốt và rất tốt cho thấy xã Tuy Phước Bắc đã hình thành được một lực lượng nòng cốt phục vụ vận hành chính quyền số. Tuy nhiên, 36% còn ở mức trung bình hoặc kém lại tạo ra một điểm nghẽn nội bộ, làm suy giảm hiệu quả chung của toàn bộ hệ thống hành chính điện tử.

Thứ ba, các đánh giá của người dân cho thấy khoảng cách đáng kể giữa mức độ tuân thủ quy trình và chất lượng phục vụ thực tế. Mặc dù 75% người dân cho biết, hồ sơ được giải quyết trong phạm vi quy định, vẫn có tới 25% trải nghiệm tình trạng trễ hẹn và 37% chưa hài lòng về tính kịp thời.

Thứ tư, kết quả về mức độ hài lòng chung và kỷ luật công vụ phản ánh một trạng thái mang tính hai mặt: Một mặt, 63% người dân hài lòng ở mức tốt và rất tốt, và 80% lãnh đạo, cơ quan giám sát đánh giá cao ý thức chấp hành pháp luật và kỷ luật công vụ của công chức. Mặt khác, tỷ lệ 37% người dân chưa hài lòng và 20% đánh giá từ phía quản lý ở mức trung bình hoặc yếu cho thấy vẫn tồn tại một bộ phận công chức chưa đạt chuẩn mực công vụ tương xứng với yêu cầu của mô hình chính quyền 2 cấp.

6. Kết luận và hàm ý chính sách và các giải pháp

Các kết quả nghiên cứu cho thấy việc nâng cao năng lực đội ngũ công chức xã Tuy Phước Bắc trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp không thể tiếp cận theo cách chung chung, mà cần tập trung trực diện vào những những vấn đề cụ thể. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, các hàm ý chính sách và giải pháp dưới đây được đề xuất theo hướng gắn chuẩn năng lực với yêu cầu thể chế mới.

Thứ nhất, cần chuẩn hóa năng lực công chức theo vị trí việc làm trong mô hình chính quyền 2 cấp. Tỷ lệ 24% công chức chỉ đạt mức trung bình về kỹ năng lập kế hoạch và 32% chưa xử lý tốt tình huống phát sinh cho thấy tiêu chuẩn năng lực hiện hành còn thiên về thủ tục, chưa phản ánh đầy đủ yêu cầu ra quyết định và điều phối trong bối cảnh cấp xã phải tự chịu trách nhiệm cao hơn. Do đó, tỉnh Gia Lai cần rà soát, ban hành bộ tiêu chí năng lực cho từng vị trí công chức xã, trong đó nhấn mạnh năng lực tổng hợp, phân tích và xử lý tình huống, thay vì chỉ dựa vào mô tả chức danh hành chính.

Thứ hai, cần thiết kế các chương trình bồi dưỡng chuyên sâu nhằm khắc phục khoảng trống về năng lực ra quyết định và tham mưu. Việc có tới 32% công chức chưa thể xử lý độc lập tình huống hành chính cho thấy nhu cầu cấp thiết về đào tạo theo hướng tình huống, mô phỏng và huấn luyện tại chỗ. Các chương trình bồi dưỡng nên chuyển từ hình thức truyền đạt kiến thức sang rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn, đặc biệt trong các lĩnh vực nhạy cảm như đất đai, an sinh xã hội, giải quyết khiếu nại và phối hợp liên ngành.

Thứ ba, cần thu hẹp khoảng cách về năng lực số trong đội ngũ công chức xã. Tỷ lệ 36% công chức chỉ đạt mức trung bình hoặc kém về công nghệ thông tin cho thấy nguy cơ thiếu đồng bộ trong vận hành chính quyền số ở cấp xã. Vì vậy, cần triển khai các chương trình đào tạo phân tầng, trong đó nhóm công chức yếu về công nghệ được bồi dưỡng nền tảng, còn nhóm khá và giỏi được đào tạo nâng cao để trở thành lực lượng nòng cốt hỗ trợ đồng nghiệp. Song song đó, cần gắn yêu cầu sử dụng thành thạo các hệ thống số với đánh giá, xếp loại công chức hằng năm.

Thứ tư, cần cải thiện chất lượng phục vụ và tính kịp thời trong giải quyết công việc cho người dân. Mặc dù 75% hồ sơ được xử lý đúng hạn hoặc trong phạm vi quy định, việc vẫn có 37% người dân chưa hài lòng về tính kịp thời cho thấy khoảng cách giữa quy trình và trải nghiệm thực tế. Do đó, xã Tuy Phước Bắc cần rà soát lại các quy trình nội bộ, giảm các khâu trung gian không cần thiết, tăng cường theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ và công khai thời gian giải quyết để người dân giám sát.

Thứ năm, cần củng cố kỷ luật công vụ và chuẩn mực hành chính. Việc 20% ý kiến từ lãnh đạo và cơ quan giám sát đánh giá công chức ở mức trung bình hoặc yếu về kỷ luật công vụ cho thấy vẫn tồn tại vùng trũng nhất định về trách nhiệm và tác phong. Do đó, cần gắn chặt kết quả đánh giá công chức với chế độ khen thưởng, kỷ luật và bố trí sử dụng, bảo đảm những người không đáp ứng yêu cầu của mô hình chính quyền 2 cấp phải được đào tạo lại hoặc sắp xếp lại vị trí công tác.

 

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN VÀ THAM KHẢO:

  1. Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (2018). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
  2. Ngô Thành Can (2020). Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực thực thi công vụ cho cán bộ, công chức, viên chức, Sách chuyên khảo. NXB Tư pháp, Hà Nội.
  3. Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2025). Nghị định số 150/2025/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh và UBND cấp xã.
  4. Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2025). Kết luận tổng kết mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, truy cập tại https://nhandan.vn/quyet-liet-thao-go-moi-kho-khan-van-hanh-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-thong-suot-post912050.html
  5. Đảng bộ xã Tuy Phước Bắc (2025). Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ xã lần thứ I.
  6. Đảng bộ xã Tuy Phước Bắc (2025). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ xã Tuy Phước Bắc lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.
  7. Hội đồng nhân dân xã Tuy Phước Bắc (2025). Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 2025.
  8. Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2025). Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15 ngày 24/6/2025.
  9. Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, ngày 16/6/2025.
  10.  Tỉnh ủy Gia Lai (2025). Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai, nhiệm kỳ 2020 - 2025 trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.
  11.  Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1664/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Gia Lai năm 2025.
  12.  Văn phòng Quốc hội (2025). Văn bản hợp nhất số 52/VBHN-VPQH, ngày 21/7/2025: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 

Enhancing the competence of commune-level civil servants under the two-tier local government model: Evidence from Tuy Phuoc Bac commune, Gia Lai province

Tran Hai Dinh1

Nguyen Hung Tan2

1Academy of Public Administration and Governance

2Chairman of the People's Committee Tuy Phuoc Bac commune, Gia Lai province

Abstract:

This study examines the theoretical foundations of capacity building for commune-level civil servants within the framework of the two-tier local government model, with empirical insights drawn from Tuy Phuoc Bac commune in Gia Lai province. Through an analysis of current institutional arrangements and administrative practices, the study identifies key dimensions of competence required for effective performance at the commune level under this governance structure. The findings contribute to a clearer understanding of how capacity building can be aligned with the requirements of the two-tier local government system, while situating the discussion within the specific socio-administrative context of Tuy Phuoc Bac commune.

Keywords: commune-level civil servants, capacity, Tuy Phuoc Bac, two-tier local government.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 1/2026]