Nhiều cơ hội 

Năng lực nội tại, trong 10 năm qua, ngành Công Thương có bước tiến quan trọng với tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất công nghiệp 11,5%/năm. Năm 2010: Điện đạt sản lượng gần 100 tỷ KWh; than sạch 44 triệu tấn; dầu thô 16,4 triệu tấn (khai thác tấn thứ 260 triệu vào ngày 22/10/2010); khí đốt thiên nhiên 9 tỷ m3 ; lọc hóa dầu đạt 6,5 triệu tấn sản phẩm, đáp ứng 1/3 nhu cầu trong nước; sản xuất thép tròn đạt 4,7 triệu tấn; phân hóa học đạt 2,5 triệu tấn, xi măng 56,7 triệu tấn,... chế tạo được máy biến áp 500kV đạt kỉ lục trong khu vực; hiện đang nội địa hóa thiết bị nhiệt điện đốt than có công suất đến 6000 MW đầu tiên đặt ở nhà máy Nhiệt điện 1 Quỳnh Lập 1 (Nghệ An).

Năm 2010: GDP theo giá thực tế gấp 3,4 lần so với năm 2000; thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 5 lần so với năm 2000, GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt tới 41,9% GDP... tạo ra mức tăng trưởng giá trị hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ trong nước bình quân trên 20%/năm trong 10 năm, hiện xếp thứ 14 trên thế giới về sự hấp dẫn đầu tư đối với thị trường bán lẻ.

Cơ sở vật chất hạ tầng của Ngành ngày càng phát triển theo hướng tập trung hóa, chuyên môn hóa vào hơn 230 khu công nghiệp, khu kinh tế biển, 25 tỉnh biên giới mở khu kinh tế cửa khẩu, cụm điểm công nghiệp hình thành ở các huyện theo Quyết định 105/2009/QĐ-TTg. Tập quán tiêu dùng của người dân chuyển dần vào trung tâm thương mại và siêu thị trong 10 năm tăng từ 5% lên hơn 20% về số lượt người...

Vị thế Công Thương Việt Nam trên thế giới, trước hết tăng năng lực ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu. Ngành Dệt May, cùng với nhóm dầu thô, than đá,... hợp thành 18 mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD/mặt hàng năm 2010. Những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đứng chân ở nhiều thị trường mang thương hiệu quốc gia, tạo cơ hội cho cộng đồng doanh nghiệp duy trì và tăng sản lượng xuất khẩu. Các hiệp định thương mại song phương, đa phương gắn kết hàng hóa dịch vụ của Việt Nam trong chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu...

Tinh thần doanh nhân ngày càng khởi sắc với những thương hiệu nổi tiếng, doanh nghiệp mạnh trên thị trường chứng khoán, trong các cuộc bình chọn, sánh cùng cộng đồng doanh nghiệp thế giới để làm nổi bật hình ảnh Việt Nam lớn mạnh. Ngày càng nhiều những tấm gương doanh nhân vượt qua khó khăn của bản thân, của cơ chế, đối mặt với cạnh tranh và áp lực của dư luận bằng niềm đam mê, sáng tạo, bền bỉ trong sản xuất kinh doanh, các dự án nối tiếp, các thị trường mở rộng về lượng và chất.

Những kết quả ngành Công Thương đạt được trong các năm qua góp phần đưa nền kinh tế vượt qua khủng hoảng (2007- 2009), những thuận lợi mới của thị trường trong nước và quốc tế cùng với những đổi mới quan trọng của Chiến lược, Kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội mà Đại hội XI đang thảo luận và thông qua, tạo cơ hội cho những năm tới, nhưng vẫn còn nhiều thách thức phải vượt qua.

Thách thức tăng trưởng bền vững

Thứ nhất, Bài toán giá năng lượng đang được toàn xã hội quan tâm, việc tăng giá cần theo một lộ trình trong mối liên hệ với đầu vào, đầu ra tác động tới các ngành khác. Vấn đề không phải là thiếu vốn mà là tiến độ chậm của các nhà máy đang xây dựng, là thiếu cơ chế huy động và sử dụng vốn. Nếu như EVN, hay PetroVietnam, Petrolimex lập Tổng công ty cổ phần đầu tư năng lượng với tất cả cổ đông là các hộ tiêu dùng điện, khoảng 2 triệu cổ đông với cổ phần bình quân 1000 USD, chúng ta có khoảng 2 tỷ USD/mỗi dự án, để đầu tư mới.

Thứ hai, khu vực tư nhân (vốn trong nước và nước ngoài) trong ngành Công Thương ngày càng chiếm tỷ trọng cao về giá trị sản xuất công nghiệp, doanh thu thị trường nội địa và kim ngạch xuất khẩu, đóng góp vào GDP, sử dụng nguồn lao động,... Tỷ lệ này cần một ngưỡng xác định để bảo đảm tính chủ đạo của kinh tế nhà nước mà doanh nghiệp nhà nước là nòng cốt, đồng thời bảo đảm công bằng cho các loại hình doanh nghiệp; việc phân bổ nguồn lực như vốn đầu tư, đất đai, các dự án ưu đãi đầu tư chuyển mạnh sang đấu thầu. Khái niệm doanh nghiệp trực thuộc bộ cần điều chỉnh, bởi sự trực thuộc kèm theo những ưu đãi cùng với sự can thiệp hành chính sinh ra những hệ lụy, trái với tinh thần kinh doanh bình đẳng.

Thứ ba, Nâng cao chất lượng tăng trưởng, giảm xuất thô, giảm gia công, tăng chất lượng nguồn nhân lực. Đây là đòi hỏi gắt gao từ cộng đồng doanh nghiệp, của toàn xã hội đối với ngành công nghiệp khai khoáng, chế biến. Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng nhận định hạn chế của công nghiệp “Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng,... công nghiệp chế tạo phát triển chậm, gia công, lắp ráp còn chiếm tỷ trọng lớn. Đầu tư vẫn dàn trải. Hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư còn thấp, nhất là nguồn vốn đầu tư của Nhà nước. Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển chậm, thiếu đồng bộ”. Dự thảo Chiến lược đặt mục tiêu “Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% trong GDP. Giá trị sản phẩm công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP. Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp” cho thấy chúng ta phải phá cái bẫy “thu nhập trung bình” và nguy cơ “sập khóa” (lock-in), tức là bứt ra khỏi tình trạng công nghệ thấp. Nếu không làm được điều đó chúng ta phải chịu áp lực tăng giá đầu vào nhanh hơn đầu ra, tăng trưởng kinh tế gặp ngưỡng chặn của tăng vốn đầu tư, vốn đầu tư toàn xã hội không thể cao tới 50% GDP (hiện 41,9% GDP).

Việc hạn chế đến chấm dứt xuất khẩu khoáng sản thô, giảm nhập khẩu nguyên liệu cần kèm theo các dự án chế biến sâu, nhập khoáng sản thô để chế biến, tạo làn sóng đầu tư ra nước ngoài vào khai thác dầu khí, khai khoáng, chế biến,... cần có những dự án công nghiệp hỗ trợ với quy mô lớn, chất lượng cao. Thông điệp đầu năm, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu “Năm 2011, phải triển khai mạnh mẽ chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, coi đây là một nội dung trọng tâm của tái cấu trúc các ngành sản xuất công nghiệp”

Thứ tư, cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế sẽ ngày càng gay gắt trước hết là hàng hóa từ các nền kinh tế mạnh về năng suất, chất lượng, giá cạnh tranh (do đã khấu hao tài sản, và cả chính sách tỷ giá hỗ trợ xuất khẩu). Nguyên tắc chung là các doanh nghiệp tự bảo vệ mình bằng các biện pháp thị trường không trái pháp luật, các hiệp hội cần đệ trình hàng rào kỹ thuật cho các sản phẩm nhập khẩu, tiến tới có những quy định đầy đủ của Nhà nước theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có hiệu lực từ ngày 01/7/2011.

Đối với hàng hóa xuất khẩu có kim ngạch lớn như thủy sản, dệt may, da giầy, đồ gỗ,... chúng ta đã có những kinh nghiệm đấu tranh trong các vụ kiện. Việc bảo vệ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, phòng vệ thương mại đối với hàng nhập khẩu cần sự hợp tác của doanh nghiệp và sự hỗ trợ của Cục Quản lý cạnh tranh, cảnh báo từ Hội đồng tư vấn phòng vệ thương mại, các thương vụ Việt Nam, hiệp hội ngành hàng, trung tâm tư vấn, tham vấn, trọng tài kinh tế và đoàn luật sư.

Thứ năm, thách thức phát triển nguồn nhân lực của Ngành. Ở khu vực quản lý nhà nước, điểm yếu cơ bản là sự kết nối liên thông với các bộ, sở, tập đoàn, tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp về lĩnh vực liên quan để có cơ sở dữ liệu nhanh, tin cậy. Cải thiện điều này cần xây dựng cơ sở thông tin liên ngành, hình thành các nhóm chuyên gia giải quyết những vấn đề đặt ra như đầu tư, tỷ giá, thuế, lãi suất, và các cân đối vĩ mô, rào cản thương mại,... với những kịch bản đưa ra (dùng bảng cân đối liên ngành I/O), để có những quyết sách đồng thuận, hiệu quả.

Khu vực doanh nghiệp, cần tái cấu trúc các loại hình doanh nghiệp, hình thành nhóm công ty liên kết chia sẻ quyền lợi và trách nhiệm một cách bền vững. Ngoài việc mỗi người lao động tự học tập thực tiễn cần có cơ chế bắt buộc học tập chuyên môn ở các cơ sở đào tạo.

Thành lập mới 2 đại học vùng có quy mô lớn, chất lượng chuẩn quốc tế ở miền Bắc và miền Nam; hai đại học: Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh, Công nghiệp Hà Nội khởi lập đề án.

Thứ sáu, biến đổi khí hậu có thể làm giảm sản lượng thủy điện, giá nông sản và nguyên liệu khai khoáng cao; tăng chi phí tôn tạo, di dời, bảo vệ cơ sở sản xuất do nước biển dâng, lũ lụt tàn phá. Mặt khác, sự ô nhiễm môi trường do sản xuất công nông nghiệp và hoạt động dịch vụ gây ra hàng ngày, đe dọa phát triển bền vững. Ứng phó với tác động này cần có những kế hoạch hành động cụ thể ở từng doanh nghiệp, mỗi ngành, địa phương để giảm thiệt hại.

Ở mỗi địa phương, ngành hàng, doanh nghiệp công thương có những cơ hội, thách thức riêng được đưa vào kế hoạch sản xuất kinh doanh, kèm theo những giải pháp chiến lược và tình huống đồng thuận, cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chúng ta sẽ vượt qua và thu được thành quả ngay từ đầu năm 2011.