TÓM TẮT:

Nghiên cứu này được thực hiện trong 2 năm (tháng 1/2023 - tháng 12/2024) nhằm tuyển chọn cây đầu dòng và hoàn thiện quy trình nhân giống chè Tiến Vua tại vùng núi cao An Toàn, tỉnh Bình Định. Kết quả đã tuyển chọn được 30 cây đầu dòng ưu tú từ 120 cây khảo sát ban đầu trong tổng số 493 cây chè Tiến Vua cổ thụ được tìm thấy, với các chỉ tiêu vượt trội: năng suất búp tươi đạt 9,8±0,7 tấn/ha/năm, hàm lượng polyphenol 20,3±1,2%, caffeine 2,9±0,3%. Thí nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm cành cho thấy sử dụng chất kích thích NAA nồng độ 1000ppm kết hợp giá thể đất phù sa: xơ dừa: trấu hun (tỷ lệ 2:1:1) đạt tỷ lệ sống cao nhất (86,7±3,2%) sau 60 ngày, với hệ số nhân giống đạt 12,5 lần/năm. Nghiên cứu cũng xây dựng thành công quy trình nhân giống hoàn chỉnh từ khâu chọn cây mẹ đến chăm sóc cây con, góp phần bảo tồn và phát triển bền vững giống chè đặc sản này.

Từ khóa: chè Tiến Vua, cây đầu dòng, nhân giống vô tính, giâm cành, chất kích thích sinh trưởng.

1. Đặt vấn đề

Chè Tiến Vua là giống chè bản địa quý hiếm của vùng núi cao An Toàn, tỉnh Bình Định, có lịch sử phát triển hơn 150 năm. Đặc điểm nổi bật của giống chè này là búp to, nhiều lông tơ trắng, hàm lượng polyphenol và caffeine cao, tạo nên hương vị đặc trưng được ví như "đệ nhất danh trà" của miền Trung. Tuy nhiên, những năm gần đây, giống chè này đang đối mặt với nguy cơ thoái hóa do: (1)Phương pháp nhân giống chủ yếu bằng hạt dẫn đến phân ly tính trạng; (2) Thiếu hệ thống cây đầu dòng chuẩn để nhân giống; (3) Kỹ thuật canh tác chưa được chuẩn hóa. Trước thực trạng đó, cần có một ghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng và hoàn thiện quy trình nhân giống chè tiến vua này nhằm: (1) Tuyển chọn được các cây đầu dòng ưu tú đạt tiêu chuẩn về năng suất và chất lượng; (2) Xác định được phương pháp nhân giống vô tính tối ưu; (3) Xây dựng quy trình nhân giống hoàn chỉnh cho giống chè Tiến Vua.

2. Vật liệu và phương pháp

2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1/2023 đến tháng 12/2024 tại:

Cây chè cổ thụ phân bố tập trung tại: khoảnh 11A tiểu khu 37 với diện tích 25,45 ha; khoảnh 3, tiểu khu 41 với diện tích 3,98 ha; khoảnh 4 tiểu khu 41 với diện tích 42,50 ha; khoảnh 3, tiểu khu 53A với diện tích 0,127 ha với số lượng đếm được 493 cây thuộc xã An Toàn, huyện An Lão, tỉnh Bình Định.

Phòng thí nghiệm, khu thực hành tại Trung tâm Nghiên cứu Dịch vụ Khoa học và Công nghệ Quang Trung - Trường Đại học Quang Trung.

2.2. Vật liệu nghiên cứu

493 cây chè Tiến Vua khoảng 500 năm tuổi.

Cành giâm được lấy từ các cây đầu dòng (đường kính 4-6mm, dài 8-10cm).

Chất kích thích ra rễ: NAA (axit naphthaleneacetic) với các nồng độ 500-1500ppm.

Giá thể giâm: Các tỷ lệ phối trộn khác nhau của đất phù sa, xơ dừa, trấu hun với các nghiệm thức.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp tuyển chọn cây đầu dòng

Điều tra sơ bộ: Đánh giá 493 cây chọn ra 120 cây theo 5 tiêu chí:

Đặc điểm hình thái (tán lá, màu sắc búp)

Năng suất (số búp/cành, trọng lượng búp)

Khả năng sinh trưởng (tốc độ ra búp sau đốn)

Khả năng chống chịu sâu bệnh

Chất lượng (hàm lượng polyphenol, caffeine)

Chọn lọc sơ bộ: Chọn 30 cây tốt nhất

Đánh giá chi tiết: Theo dõi trong 2 năm với 3 lần lặp lại.

2.3.2. Phương pháp nhân giống (Bảng 1, Bảng 2)

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 nhân tố:

Nhân tố 1: Loại chất kích thích NAA.

Nhân tố 2: Nồng độ chất kích thích (500, 1000, 1500ppm).

Bảng 1. Bảng bố trí thí nghiệm

 

Lần I

Lần II

Lần III

Lô 1

NAA 500

NAA 1000

NAA 1500

NAA 500

NAA 1000

NAA 1500

NAA 500

NAA 1000

NAA 1500

Lô 2

NAA 500

NAA 1000

NAA 1500

NAA 500

NAA 1000

NAA 1500

NAA 500

NAA 1000

NAA 1500

Lô 3

NAA 500

NAA 1000

NAA 1500

NAA 500

NAA 1000

NAA 1500

NAA 500

NAA 1000

NAA 1500

Nhân tố 3: Thành phần giá thể (GT1: Đất phù sa: xơ dừa: trấu hun (2:1:1); GT2: Đất phù sa: xơ dừa: trấu hun (1:1:1); GT3: Đất phù sa: xơ dừa: trấu hun (1:2:1); GT4: Đất phù sa: xơ dừa: trấu hun (1:1:2).

Bảng 2. Bố trí thí nghiệm theo các công thức xử lý (GT) và lô thí nghiệm

 

Lần I

Lần II

Lần III

Lô 1

GT1

GT2

GT3

GT4

GT1

GT2

GT3

GT4

GT1

GT2

GT3

GT4

Lô 2

GT3

GT4

GT1

GT2

GT3

GT4

GT1

GT2

GT3

GT4

GT1

GT2

Lô 3

GT1

GT3

GT2

GT4

GT1

GT3

GT2

GT4

GT1

GT3

GT2

GT4

Mỗi công thức 50 cành, lặp lại 4 lần. Theo dõi các chỉ tiêu: Tỷ lệ ra rễ (%); Thời gian ra rễ (ngày); Chiều dài rễ (cm); Số rễ/cành (cái).

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Kết quả tuyển chọn cây đầu dòng

Cây chè Tiến Vua là một trong những giống chè quý, có giá trị kinh tế cao và lịch sử lâu đời. Để đánh giá đặc điểm sinh trưởng và chất lượng của giống chè này, các chỉ tiêu quan trọng như tuổi cây, chiều cao, đường kính tán, năng suất búp, hàm lượng polyphenol và caffeine đã được nghiên cứu. Kết quả tuyển chọn và phân tích 30 cây chè Tiến Vua cho thấy sự biến động của các chỉ tiêu này, phản ánh khả năng thích nghi và tiềm năng của cây chè Tiến Vua trong điều kiện canh tác. (Bảng 3)

Bảng 3. Đặc điểm của các cây đầu dòng được tuyển chọn

Chỉ tiêu

Giá trị trung bình

Khoảng dao động

CV (%)

Tuổi cây (năm)

42,3 ± 12,1

25-68

28,6

Chiều cao (m)

2,8 ± 0,4

2,1-3,5

14,3

Đường kính tán (m)

3,2 ± 0,5

2,4-4,1

15,6

Năng suất búp (kg/cây/năm)

6,5 ± 0,8

5,2-8,1

12,3

Hàm lượng polyphenol (%)

20,3 ± 1,2

18,7-22,5

5,9

Hàm lượng caffeine (%)

2,9 ± 0,3

2,5-3,4

10,3

Cây chè đầu dòng có tuổi trung bình 42,3 năm, dao động từ 25-68 năm, với mức biến động lớn (CV = 28,6%), cho thấy sự chênh lệch về thế hệ cây. Các chỉ tiêu sinh trưởng gồm chiều cao trung bình 2,8 m, đường kính tán 3,2 m và năng suất búp 6,5 kg/cây/năm, với mức biến động trung bình (CV từ 12,3-15,6%), phản ánh sự khác biệt nhưng vẫn trong giới hạn ổn định. Về chất lượng, hàm lượng polyphenol (20,3%) và caffeine (2,9%) có mức biến động thấp (CV = 5,9% và 10,3%), đảm bảo sự ổn định về chất lượng trà. Nhìn chung, giống chè này có năng suất tốt, chất lượng ổn định, phù hợp để phát triển và duy trì lâu dài. (Hình 1)

Hình 1: Tuyển chọn cây chè đầu dòng

chè Tiến Vua

3.2. Kết quả nhân giống bằng giâm cành

Kết quả nghiên cứu 30 cây chè Tiến Vua tiêu biểu đã cho thấy sự đa dạng đáng kinh ngạc: từ cây non trẻ 25 năm tuổi đến những "cổ thụ" gần 70 tuổi, nhưng điểm chung là khả năng cho năng suất ổn định (6,5 kg búp/cây/năm) và chất lượng đặc trưng với hàm lượng polyphenol lên tới 20,3%. Đặc biệt, sự đồng đều về caffeine (2,9%) cùng chỉ số biến động thấp (CV <10%) chứng minh đây chính là nguồn gen quý, sẵn sàng cho công tác chọn giống từ cây đầu dòng. Việc nhân rộng những "cây mẹ" ưu việt này không chỉ bảo tồn nguồn gen quý mà còn mở ra cơ hội phát triển những vườn chè chất lượng cao, kế thừa trọn vẹn tinh hoa của chè Tiến Vua xưa và nay.

Bảng 4. Ảnh hưởng của chất kích thích đến khả năng ra rễ

Công thức

Tỷ lệ ra rễ (%)

Thời gian ra rễ (ngày)

Số rễ/cành

Chiều dài rễ (cm)

Đối chứng

42,3 ± 5,1d

28,5 ± 2,1a

3,2 ± 0,6c

4,8 ± 0,9d

NAA 500ppm

68,7 ± 4,2c

22,3 ± 1,8b

5,1 ± 0,7b

7,5 ± 1,1c

NAA 1000ppm

86,7 ± 3,2a

18,6 ± 1,2c

7,8 ± 0,9a

12,3 ± 1,4a

NAA 1500ppm

79,2 ± 3,8b

19,2 ± 1,4c

6,5 ± 0,8ab

9,8 ± 1,2b

Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trong cùng một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức p<0,05.

Kết quả nghiên cứu Bảng 4: cho thấy ảnh hưởng của các nồng độ NAA đến khả năng ra rễ của cành giâm cây chè Tiến Vua:

+ Đối chứng có tỷ lệ ra rễ thấp nhất (42,3%) và thời gian ra rễ dài nhất (28,5 ngày).

NAA 1000ppm cho hiệu quả tốt nhất với tỷ lệ ra rễ cao nhất (86,7%), thời gian ra rễ ngắn nhất (18,6 ngày), số rễ/cành nhiều nhất (7,8 rễ), và rễ dài nhất (12,3 cm).

+ NAA 1500ppm cũng có hiệu quả cao nhưng thấp hơn NAA 1000ppm về mọi chỉ tiêu.

+ NAA 500ppm có tác dụng cải thiện so với đối chứng nhưng kém hơn NAA 1000ppm và 1500ppm. Vì vậy NAA 1000ppm là nồng độ tối ưu để kích thích ra rễ cành giâm cây chè Tiến Vua.

Nhằm đánh giá ảnh hưởng của các công thức giá thể khác nhau đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây chè Tiến Vua, thí nghiệm được tiến hành với 4 công thức giá thể (GT) có tỷ lệ phối trộn khác nhau giữa đất phù sa, xơ dừa và trấu hun. Trong đó, giá thể ươm đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống, khả năng ra rễ và sinh trưởng của cây. Để xác định công thức giá thể tối ưu cho nhân giống chè Tiến Vua, thí nghiệm này được tiến hành với 4 công thức giá thể khác nhau, phối trộn từ đất phù sa, xơ dừa và trấu hun theo các tỷ lệ: (2:1:1), (1:1:1), (1:2:1) và (1:1:2). Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm tỷ lệ sống, thời gian ra rễ, số rễ/cành, chiều dài rễ, số lá/cây (sau 60 ngày) và chiều cao cây. Kết quả thí nghiệm sẽ cung cấp cơ sở khoa học để lựa chọn giá thể phù hợp, nâng cao hiệu quả nhân giống chè Tiến Vua trong sản xuất.

Bảng 5. Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống và sinh trưởng cây chè Tiến Vua giâm cành

Giá thể

Tỷ lệ sống (%)

Thời gian ra rễ (ngày)

Số rễ/cành

Chiều dài rễ (cm)

Số lá/cây (sau 60 ngày)

Chiều cao cây (cm)

GT1: Đất phù sa : xơ dừa : trấu hun (2:1:1)

92.5 ± 3.1a

18.2 ± 1.5a

8.1 ± 0.9a

12.7 ± 1.3a

6.5 ± 0.8a

15.3 ± 1.8a

GT2: Đất phù sa : xơ dừa : trấu hun (1:1:1)

85.4 ± 4.2b

20.1 ± 1.7b

6.7 ± 0.7b

10.5 ± 1.1b

5.2 ± 0.7b

13.8 ± 1.5b

GT3: Đất phù sa : xơ dừa : trấu hun (1:2:1)

78.3 ± 5.0c

22.5 ± 2.0c

5.3 ± 0.6c

8.9 ± 0.9c

4.1 ± 0.6c

11.2 ± 1.2c

GT4: Đất phù sa : xơ dừa : trấu hun (1:1:2)

80.6 ± 4.8c

21.8 ± 1.9c

5.8 ± 0.7bc

9.4 ± 1.0c

4.3 ± 0.5c

12.0 ± 1.4c

Ghi chú:

+ Số lá/cây được đo ở thời điểm 60 ngày sau giâm, tính từ lá hoàn chỉnh (dài > 2 cm).

+ Chữ cái khác nhau trong cùng một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0.05).

Kết quả nghiên cứu tại Bảng 5 cho thấy giá thể GT1 (Đất phù sa: Xơ dừa: Trấu hun = 2:1:1) là lựa chọn tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè tiến vua. Cụ thể, GT1 giúp cây có tỷ lệ sống cao nhất (92,5%), thời gian ra rễ nhanh nhất (18,2 ngày), số rễ nhiều nhất (8,1 rễ/cành), rễ phát triển dài nhất (12,7 cm), số lá nhiều nhất sau 60 ngày (6,5 lá/cây) và chiều cao cây lớn nhất (15,3 cm).

Ngược lại, GT3 (1:2:1) là giá thể kém hiệu quả nhất, với tỷ lệ sống thấp nhất (78,3%), thời gian ra rễ chậm nhất (22,5 ngày), số rễ trên cành ít nhất (5,3 rễ/cành), rễ ngắn nhất (8,9 cm), số lá ít nhất (4,1 lá/cây) và chiều cao cây thấp nhất (11,2 cm). Điều này cho thấy tỷ lệ xơ dừa cao có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của cây.

GT2 (1:1:1) và GT4 (1:1:2) có kết quả trung bình, với tỷ lệ sống lần lượt là 85,4% và 80,6%, các chỉ tiêu khác cũng nằm giữa GT1 và GT3. Tuy nhiên, chúng vẫn kém hơn GT1 về mọi mặt.

Kết luận: Để cây chè tiến vua sinh trưởng tốt nhất, nên sử dụng giá thể GT1 (Đất phù sa: Xơ dừa: Trấu hun = 2:1:1), giúp cây có tỷ lệ sống cao, nhanh ra rễ, rễ dài và số lá nhiều, đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh.

3.3. Quy trình nhân giống hoàn chỉnh (Hình 2, Hình 3)

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, chúng tôi đề xuất quy trình nhân giống chè Tiến Vua như sau:

Chọn cây mẹ: Từ các cây đầu dòng đã tuyển chọn

Thu cành giâm: Cành bánh tẻ, đường kính 4-6mm

Xử lý chất kích thích: Nhúng 5 giây trong NAA 1000ppm

Giá thể: đặt cành nhúng kích thích NAA vào môi trường giá thể (Đất phù sa: xơ dừa: trấu hun (2:1:1))

Chế độ chăm sóc: Che phủ 70% ánh sáng; Độ ẩm 85-90%.

Hình 2: Quy trình nhân giống

chè Tiến Vua

Hình 3: Cây sau 2 năm trồng

chè Tiến Vua

4. Kết luận và kiến nghị

4.1. Kết luận

Nghiên cứu đã đạt được các mục tiêu đề ra trong việc tuyển chọn cây đầu dòng và xây dựng quy trình nhân giống vô tính cho giống chè Tiến Vua. Kết quả chính thu được như sau:

Đã tuyển chọn được 30 cây đầu dòng ưu tú từ quần thể chè Tiến Vua tại vùng núi cao An Toàn, Bình Định. Các cây này có năng suất cao (trung bình 6,5 kg búp/cây/năm), hàm lượng polyphenol và caffeine ổn định (20,3% và 2,9%), đảm bảo tiềm năng kinh tế và chất lượng sản phẩm.

Trong phương pháp nhân giống bằng giâm cành, nồng độ NAA 1000ppm được xác định là tối ưu, giúp tăng tỷ lệ ra rễ (86,7%), rút ngắn thời gian ra rễ (18,6 ngày), đồng thời tạo bộ rễ khỏe mạnh với số lượng và chiều dài rễ vượt trội.

Giá thể phối trộn theo tỷ lệ Đất phù sa: Xơ dừa: Trấu hun (2:1:1) được xác định là phù hợp nhất, giúp cây có tỷ lệ sống cao (92,5%), sinh trưởng tốt với chiều cao và số lá vượt trội so với các công thức khác.

Từ các kết quả trên, một quy trình nhân giống chè Tiến Vua đã được đề xuất, bao gồm các bước: tuyển chọn cây mẹ, thu cành giâm, xử lý chất kích thích, sử dụng giá thể phù hợp và chế độ chăm sóc thích hợp.

Kết quả nghiên cứu không chỉ giải quyết được nguy cơ thoái hóa giống do nhân giống bằng hạt mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho chè Tiến Vua, góp phần nâng cao giá trị kinh tế và bảo tồn nguồn gen quý.

4.2. Kiến nghị

Ứng dụng và mở rộng mô hình nhân giống: Quy trình nhân giống bằng giâm cành với NAA 1000ppm và giá thể tối ưu nên được áp dụng rộng rãi tại các vườn ươm để bảo tồn và phát triển giống chè Tiến Vua.

Xây dựng vườn cây đầu dòng: Cần thành lập hệ thống vườn cây đầu dòng đạt chuẩn, giúp đảm bảo nguồn giống chất lượng, tránh thoái hóa giống do nhân giống từ hạt.

Nâng cao kỹ thuật canh tác: Xây dựng quy trình kỹ thuật chăm sóc, bón phân, thu hái phù hợp để đảm bảo năng suất và chất lượng chè ổn định.

Tiếp tục nghiên cứu: Đề xuất các nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chè (độ cao, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu) nhằm tối ưu hóa mô hình sản xuất.

Phát triển thương hiệu chè Tiến Vua: Kết hợp với các cơ quan quản lý để bảo hộ giống chè này, xây dựng thương hiệu chè Tiến Vua đặc sản, kết hợp du lịch sinh thái để nâng cao giá trị.

Lời cảm ơn: Bài nghiên cứu này là sản phẩm của đề tài: "Nghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng và áp dụng biện pháp kỹ thuật nhân giống chè Tiến Vua tại vùng núi cao An Toàn, tỉnh Bình Định". Mã số đề tài: ĐTƯD.03/25. Bài nghiên cứu được Trường Đại học Quang Trung tài trợ kinh phí.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2022). Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cây đầu dòng. Nhà xuất bản Nông nghiệp.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2021) Quy trình kỹ thuật nhân giống cây chè bằng phương pháp giâm cành. Nhà xuất bản Nông nghiệp.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2021). Hướng dẫn kỹ thuật canh tác cây chè thích ứng với biến đổi khí hậu, Nhà xuất bản Nông nghiệp.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2023). Hướng dẫn sản xuất chè bền vững, Hà Nội: Nhà xuất bản Nông nghiệp.

Nguyễn Vũ Thanh Thanh, Chu Hoàng Mậu (2011). "Cơ sở di truyền chọn giống cây trồng". Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội.

Trần Thị Thêm (2023), Giáo trình canh tác học, Nhà xuất bản Học viện Nông nghiệp.

SELECTION OF SUPERIOR PARENT TREES AND OPTIMIZATION OF THE PROPAGATION PROCESS FOR TIEN VUA TEA IN AN TOAN HIGHLANDS, BINH DINH PROVINCE

Ngo Van Tuan1

Nguyen Van Chung1

Ho Quoc Bao2

Nguyen Phuc Thien2

1Quang Trung University

2Van Hien University

Abstract:

This two-year study (January 2023 – December 2024) was conducted to select elite parent trees and develop a complete propagation protocol for the Tien Vua tea variety in the An Toan highland region of Binh Dinh Province, Vietnam. From an initial survey of 493 ancient Tien Vua tea trees, 120 candidates were evaluated, and 30 superior parent trees were selected based on key agronomic traits: an average fresh bud yield of 9.8 ± 0.7 tons/ha/year, polyphenol content of 20.3 ± 1.2%, and caffeine content of 2.9 ± 0.3%. Propagation trials using stem cuttings demonstrated that the optimal treatment involved applying 1000 ppm NAA and using a growing medium composed of alluvial soil, coconut fiber, and burnt rice husk in a 2:1:1 ratio. This combination yielded the highest survival rate (86.7 ± 3.2%) after 60 days and achieved a propagation coefficient of 12.5 times per year. The research successfully established a comprehensive propagation protocol, from elite parent selection to young plant care, contributing significantly to the conservation and sustainable development of this specialty tea variety.

Keywords: Tien Vua tea, parent plant, asexual propagation, cuttings, growth stimulant.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 15 năm 2025]