Các quy tắc xuất xứ đang ngày càng trở lên quan trọng khi nền kinh tế thế giới được tạo lập nền tảng trên bối cảnh toàn cầu đang gia tăng và xúc tiến các hoạt động sản xuất dựa trên cơ sở lợi thế so sánh cao hơn. Ngày nay, chỉ có một khối lượng nhỏ hàng hoá được sản xuất tại một nước từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc. Bởi vậy, việc thừa nhận xuất xứ của các sản phẩm đang trở lên phức tạp và dần dần có nhiều phiền phức do có vô số cách áp dụng các quy tắc xuất xứ.

Mặc dù vẫn chưa có một khái niệm quốc tế cụ thể nào được nhất trí nhưng “xuất xứ” có thể được định nghĩa như là quốc tịch kinh tế của hàng hoá.

Các quy tắc xuất xứ được bất cứ một nước nào áp dụng đối với các nước thứ 3 có thể dựa trên cơ sở các quy tắc xuất xứ được hưởng ưu đãi hoặc không được hưởng ưu đãi. Các quy tắc không được hưởng ưu đãi là những quy tắc xuất xứ dựa trên cơ sở nhằm áp đặt mức thuế đền bù đối với các nước thuộc WTO phù hợp với “điều khoản nước được ưu đãi nhất”. Nói cách khác, một mức thuế suất đền bù được đánh vào hàng hoá từ bất cứ nước thành viên WTO nào phù hợp các quy tắc đã được xác định mà không có sự phân biệt.

Các quy tắc xuất xứ được hưởng ưu đãi, cũng giống như là việc bỏ đi “điều khoản nước được hưởng ưu đãi nhất” là những quy tắc mà cho phép áp dụng một cách đặc biệt đối với một nhóm nước, và cơ sở để thực hiện điều này thường được xác định trong những hiệp định cụ thể.

Thổ Nhĩ Kỳ áp dụng quy tắc xuất xứ ưu đãi và không ưu đãi. Từ năm 1996, áp dụng quy tắc xuất xứ như các nước EU đối với nhập khẩu từ nước thứ 3. Quy tắc xuất xứ không ưu đãi của Thổ Nhĩ Kỳ quy định nước xuất xứ là nơi mà hàng hóa được hoàn toàn chế tạo ra hoặc trải qua một giai đoạn chuyển đổi về cơ bản, cuối cùng, hoặc một giai đoạn sản xuất quan trọng. Quy tắc xuất xứ ưu đãi, được quy định trong các hiệp định thương mại khác nhau, dựa trên cơ sở mức độ chế biến hoặc tiêu chí về giá trị tăng thêm, giá trị cộng gộp.

Các quy định pháp lý cơ bản của nguyên tắc xuất xứ không ưu đãi được ghi trong Luật hải quan số 4458, Điều 17 đến 21. Theo quy định của liên minh hải quan, Thổ Nhĩ Kỳ đang áp dụng các quy định tương tự như quy đinh về xuất xứ của EU đối với các nước thứ ba kể từ ngày 1/1/1996.

Các hiệp định ưu đãi thương mại của Thổ Nhĩ Kỳ đều quy định ưu đãi về nguyên tắc xuất xứ cơ bản dựa trên tiêu chuẩn chuyển đổi tương ứng. Thổ Nhĩ Kỳ đã là thành viên của Hệ thống tích hợp xuất xứ Lòng chảo Thái Bình Dương từ năm 1999. Việc này cho phép sử dụng bất kỳ dữ liệu của bất kỳ nước nào trong khu vực (EU, EFTA và Thổ Nhĩ Kỳ) để có thể được hưởng ưu đãi về xuất xứ. Hệ thống này cũng được mở rộng áp dụng cho Đảo Faroe và các nước thuộc vùng Địa Trung Hải tham gia vào quan hệ đối tác châu Âu – Địa Trung Hải thông quan Tuyên bố Barcelona năm 2004. Thổ Nhĩ Kỳ cũng áp dụng việc đánh giá nội bộ về việc sử dụng Quy định GSP mới của EU, trong đó có các quy định sửa đổi về nguyên tắc xuất xứ.

Theo Luật Hải quan số 4458, các công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh có thể yêu cầu đánh giá trước để xác định thuế suất xuất khẩu hoặc nhập khẩu, tính toán việc hoàn thuế trong khuôn khổ quy định của chính sách nông nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc có thể sử dụng các chứng thư cung cấp các thông tin về thuế và xuất xứ để khai báo thông quan.

Bảng tham khảo: Quy tắc xuất xứ ưu đãi năm 2007 của Thổ Nhĩ Kỳ

Hiệp định/Đối tác

Quy tắc xuất xứ

Liên minh quan thuế với EU

Sản phẩm được chế tạo toàn bộ hoặc được biến đổi về cơ bảna

FTA với các nước EFTA

Sản phẩm được chế tạo toàn bộ hoặc được biến đổi về cơ bảna

Tổ chức hợp tác kinh tế-ECO (Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan)

Tối thiểu 50% giá FOBb

Ai cập; Israel; Ma-rốc; Syria; Tuy-ni-dy

Nghị định thư về quy tắc xuất xứ dựa trên cơ sở nghị định thư về xuất xứ ký giữa EU và Thổ Nhĩ Kỳ: sản phẩm được chế tạo toàn bộ hoặc được biến đổi về cơ bản được hưởng ưu đãi thuếa

An-ba-nic d e; Bosnia-Herzegovinad e; Croatiad e; Macedonia (FYR) d e; Pa-le-xtind

Nghị định thư về quy tắc xuất xứ dựa trên cơ sở Phương thức "Pan-Euro-Mediterranean Model" ký giữa EC và : sản phẩm được chế tạo toàn bộ hoặc được biến đổi về cơ bản được hưởng ưu đãi thuếa

(a) Tiêu chí về sự biến đổi về cơ bản (sufficient transformation) được xác định chủ yếu trên cơ sở đặc điểm quy cách sản phẩm (product-specific), và bao gồm việc áp dụng một số yêu cầu về đầu vào hoặc giá trị tăng thêm.

(b) Hàm lượng địa phương tối thiểu ở nước xuất khẩu được xác định là tỷ lệ phần trăm của chi phí tại nhà máy của sản phẩm nhập khẩu.=>?

(c) Hiệp định thương mại song phương có hiệu lực từ năm 2007.

(d) Nghị định thư về quy tắc xuất xứ dựa trên cơ sở cộng gộp xuất xứ song phương.

(e) An-ba-ni, Bosnia-Herzegovina, Croatia, and Macedonia (FYR) chưa là thành viên của Hệ thống cộng gộp ‘Pan-Euro-Mediterranean Cumulation System’.