Cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ và suy thoái kinh tế thế giới đã có những tác động tiêu cực đến tăng trưởng và phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Một trong những tác động lớn nhất của cuộc khủng hoảng tài chính đến nền kinh tế Việt Nam là làm giảm sự tăng trưởng kinh tế của đất nước, trong đó biểu hiện rõ nét nhất là giảm tỷ lệ tăng trưởng GDP. Suy thoái kinh tế thế giới đã làm cho thị trường xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam bị thu hẹp trên thị trường quốc tế, nhiều doanh nghiệp phải hạn chế sản xuất, hàng hóa tồn đọng. Điều này kéo theo những biến động tiêu cực trong nước, dẫn đến hoạt động sản xuất-kinh doanh trong nước bị đình trệ ... Trước yêu cầu đưa nền kinh tế đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, phát triển nhanh, bền vững, giải quyết tốt an sinh xã hội, việc hỗ trợ kinh tế và kích cầu tiêu dùng, làm thay đổi nhận thức, định hướng kinh doanh cho doanh nghiệp trong nước, tạo đà và duy trì tốc độ tăng trưởng là những vấn đề hết sức quan trọng hiện nay. Tuy nhiên, thị trường trong nước hiện gặp nhiều khó khăn do lâu nay nhiều doanh nghiệp ít quan tâm đến thị trường tiêu dùng trong nước và tâm lý "sính ngoại" của người tiêu dùng Việt Nam hiện vẫn đang ở mức "quá đáng". Nhiều mặt hàng của Việt Nam chất lượng và giá cả bằng hoặc hơn hàng ngoại, nhưng vẫn không bán chạy bằng hàng ngoại.
Trước tình hình đó, ngày 31/7/2009, Bộ Chính trị đã ban hành văn bản số 264-TB/TƯ thông báo Kết luận về việc tổ chức cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam". Mục đích của cuộc vận động là nhằm phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam và sản xuất nhiều hàng Việt Nam có chất lượng, sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Với mục đích đó, nhiều nhiệm vụ và giải pháp cơ bản được đưa ra nhằm thực hiện cuộc vận động như:
- Đẩy mạnh công tác tổ chức thông tin, tuyên truyền, vận động làm cho người tiêu dùng trong nước và ngoài nước nhận thức đúng khả năng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam, chất lượng của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ Việt Nam;
-Vận động người tiêu dùng Việt Nam sử dụng hàng Việt Nam khi tiêu dùng cá nhân, coi đó là thể hiện lòng yêu nước, nét đẹp trong văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam; các cơ quan, đơn vị và tổ chức chính trị - xã hội sử dụng hàng hóa nội địa khi thực hiện mua sắm công; các doanh nghiệp, người sản xuất, kinh doanh trong nước khi triển khai thực hiện các dự án, công trình sử dụng các trang thiết bị, nguyên vật liệu nội địa và dịch vụ có chất lượng tương đương hàng ngoại nhập để sản xuất và kinh doanh.
- Rà soát, ban hành bổ sung luật pháp, cơ chế, chính sách bảo vệ thị trường người tiêu dùng trong nước, sản xuất trong nước không trái với các quy định của WTO.
- Hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động phát triển thị trường.
- Tiếp tục đổi mới công tác quản lý, chấn chỉnh các hoạt động quản lý thị trường, hải quan, thuế.
1. Bảo vệ quyền của người tiêu dùng cũng chính là khuyến khích tiêu dùng
Với quan niệm người tiêu dùng là chủ thể trong các giao dịch thương mại – dân sự, pháp luật luôn hướng đến việc bảo vệ sự công bằng và duy trì tính minh bạch của các hợp đồng, đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại … Bảo vệ người tiêu dùng đã thực sự trở thành một lĩnh vực pháp luật độc lập và có vị trí đáng kể trong hệ thống pháp luật thương mại.
Xuất phát từ thực tiễn đó, ngày 27/04/1999, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh số 13/1999/PL-UBTVQH10 Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Pháp lệnh), có giá trị hiệu lực kể từ ngày 01/10/1999, nhằm xây dựng các quy phạm bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng bị xâm hại trong quá trình tham gia các giao dịch thương mại. Pháp lệnh ra đời đánh dấu bước phát triển mới trong việc thiết lập và hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý quan trọng đối với hoạt động quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng.
Ngày 02/10/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, theo đó, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Từ năm 2004, tại Nghị định số 29/2004/NĐ-CP, Chính phủ đã giao cho Bộ Thương mại thực hiện nhiệm vụ này. Trong đó, Cục Quản lý cạnh tranh có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Thương mại (Nay là Bộ Công Thương) thực hiện chức năng thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong phạm vi cả nước.
Đến năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành Nghị định 55/2008/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thay thế nghị định 69/2001/NĐ–CP, trong đó quy định Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong phạm vi cả nước và Cục Quản lý Cạnh tranh là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên lĩnh vực này. Nghị định cũng quy định chi tiết trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức khác trong công tác phối hợp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trách nhiệm của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa.
Bên cạnh đó, vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn được đề cập ở các mức độ khác nhau tại các văn bản quy phạm pháp luật như: Bộ luật Dân sự (2005), Bộ luật Hình sự (2000), Luật Thương mại (2005), Luật Cạnh tranh (2004), Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (2006), Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi (2005), Pháp lệnh Chất lượng sản phẩm (1999), Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm (2003), Pháp lệnh Quảng cáo (2001),...
Mặc dù Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã có hiệu lực hơn 10 năm nay, song vấn đề vi phạm quyền của người tiêu dùng vẫn ngày càng nghiêm trọng. Các nhà khoa học, các cơ quan có thẩm quyền và các hiệp hội của người tiêu dùng đã có nhiều cố gắng tìm kiếm và phân tích các nguyên nhân của tình trạng trên. Đó là sự thờ ơ của người tiêu dùng trong việc sử dụng các công cụ pháp lý để tự bảo vệ; sự lãnh cảm của nhiều công chức và của các cơ quan có trách nhiệm; vai trò mờ nhạt của một số tổ chức bảo vệ người tiêu dùng ...
Như một tất yếu, nguyên nhân quan trọng nhất được quy về cho sự không đồng bộ và thiếu hiệu quả của hệ thống pháp luật. Để giải quyết tình trạng trên, Nhà nước đang cố gắng nâng cấp Pháp lệnh về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng việc ban hành Luật Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (Luật BVNTD). Việc nâng cấp pháp lệnh thành luật là cần thiết để khẳng định giá trị pháp lý của lĩnh vực pháp luật này. Song nhiệm vụ quan trọng hơn vẫn là pháp luật phải có nội dung hợp lý và xây dựng được thiết chế thực thi hiệu quả. Trong đó, đạo luật đang được xây dựng cần khắc phục những nhược điểm căn bản của các văn bản hiện hành và được đặt vào môi trường pháp lý thuận lợi thì mới có thể phát huy giá trị thực sự.
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là một trong những nhiệm vụ của quản lý nhà nước và là trách nhiệm của các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Thực tiễn cho thấy, khi nền kinh tế thị trường càng phát triển, mức độ tự do hóa thương mại càng gia tăng thì càng nảy sinh nhiều vấn đề gây ảnh hưởng đến quyến lợi người tiêu dùng. Trước sự phát triển ngày càng nhanh chóng và đa dạng của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), chúng ta phải có những điều chỉnh về mọi lĩnh vực để có thể thích ứng với môi trường kinh tế mở và hội nhập quốc tế, trong đó điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật là một yêu cầu quan trọng hàng đầu. Các quy phạm về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng cần phải có sự điều chỉnh bổ sung một cách căn bản.
2. Vấn đề phát triển thị trường nội địa và chính sách hiện hữu đối với người tiêu dùng Việt Nam
2.1. Thực trạng phát triển của thị trường nội địa
Thị trường nội địa luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, một nước có dân số hơn 87 triệu người và đang trong giai đoạn tiến tới việc hình thành đầy đủ và đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì việc phát triển thị trường nội địa càng có ý nghĩa to lớn.
Thị trường nội địa bao gồm mạng lưới bán buôn và bán lẻ. Hệ thống này ngày càng phát triển và đa dạng do có sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế bao gồm: các doanh nghiệp; các tập đoàn kinh tế; các hiệp hội; các công ty đa quốc gia; hệ thống các cửa hàng bán lẻ, siêu thị, các trung tâm thương mại; người tiêu dùng,… Thị trường nội địa giữ vai trò liên kết giữa nhà sản xuất và tiêu dùng, nó tác động trực tiếp đến lợi nhuận của các nhà sản xuất và lợi ích của người tiêu dùng. Việc xây dựng và phát triển thị trường nội địa đã và đang trở thành nhu cầu bức thiết trong việc ổn định kinh tế. 



Nhìn chung, thị trường nội địa Việt Nam đã đạt được những tiến bộ nhất định, được thể hiện ở các mặt sau đây:
- Thị trường đã được hình thành, từ chỗ bị cắt khúc theo địa giới hành chính đến nay đã hình thành thị trường tương đối thống nhất, thông suốt trong cả nước, từ thành thị, nông thôn tới miền núi, hải đảo,… Từ chỗ chỉ có hai chủ thể chính tham gia vào thị trường là thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã buôn bán đến nay thị trường đã có nhiều chủ thể cùng tham gia, trong đó, khu vực ngoài nhà nước ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của mình. Giá cả nhiều mặt hàng đã được hình thành theo quy luật giá trị và cung - cầu hàng hóa trên thị trường.
- Hàng hoá đã đáp ứng được một phần nhu cầu thị trường. Từ chỗ khan hiếm hàng hóa đến nay trên thị trường nội địa hàng hóa đã dồi dào, phong phú với giá cả tương đối ổn định, đáp ứng các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong cả nước cũng như xuất khẩu. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội không ngừng tăng cao, cơ cấu lưu chuyển hàng hóa theo các chủ thể tham gia thị trường có sự thay đổi đáng kể. Các DNNN vẫn là lực lượng chủ lực thực hiện các chính sách xã hội về lưu thông hàng hóa, như cung ứng các mặt hàng thiết yếu thuộc diện chính sách cho đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa và tổ chức thu mua hàng hóa nông sản cho nhân dân ở vùng đặc biệt khó khăn.
- Chính phủ có nhiều chính sách và hành động cụ thể nhằm khuyến khích sự phát triển của thị trường nội địa. Các gói kích thích kinh tế nhằm tháo gỡ những khó khăn do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tạo một cú hích và định hướng tiêu dùng nội địa, thúc đầy mạnh mẽ hơn các hoạt động kinh doanh, mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường trong nước, kể cả khu vực nông thôn, nông nghiệp, nông dân.
- Các doanh nghiệp đã tiếp cận và nắm bắt nhu cầu thị trường trong từng vùng, từng nhóm dân cư, kể cả vùng sâu, vùng xa, vùng có khó khăn về giao thông và triển khai vận chuyển hàng hóa, mở rộng mạng lưới bán buôn, bán lẻ, nên tổng mức tiêu thụ hàng hóa tăng lên đáng kể. Đây là một tín hiệu tốt cho việc tiếp tục phát triển thị trường nội địa khi thị trường xuất khẩu bị thu hẹp do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu. Tuy chưa có con số đánh giá chính thức, nhưng có thể khẳng định rằng, Chương trình xúc tiến thương mại thị trường năm 2009 cơ bản là thành công. Chưa bao giờ nhận thức của cộng đồng về dùng hàng Việt lại sâu rộng như thời gian qua. Thực tế cho thấy, hàng trăm lượt doanh nghiệp đưa hàng về nông thôn, doanh số bán hàng đều ngoài dự kiến của doanh nghiệp. Qua đó cũng cho thấy đây là thị trường tiềm năng, bảo đảm khả năng tăng trưởng dài hạn của các doanh nghiệp.
Ngày 15/7/2009, Bộ Công thương đã ban hành Thông tư số 21/2009/TT-BTC quy định việc xây dựng và hỗ trợ thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại trong nước năm 2009. Theo đó, nhiều hoạt động xúc tiến thương mại trong nước được hỗ trợ kinh phí. Chương trình này bao gồm các nội dung như: hỗ trợ năng lực cộng đồng (hoạt động điều tra, khảo sát thị trường, thông tin mạng lưới phân phối, thương nhân thực hiện vào quý 3 và 4/2009; tổ chức hội thảo và tọa đàm thực hiện vào tháng 8/2009); tổ chức hội chợ nông sản và sản phẩm làng nghề (phía Bắc vào tháng 11/2009 và phía Nam vào 3/2010); các đợt đưa hàng Việt về nông thôn, khu đô thị, khu công nghiệp; hoạt động truyền thông (thời gian từ tháng 8/2009- 8/2010).
Cũng theo Thông tư 21, các hoạt động hỗ trợ năng lực cộng đồng doanh nghiệp và truyền thông được hỗ trợ 100%, các hoạt động tổ chức hội chợ và các đợt bán hàng về nông thôn, khu công nghiệp, khu đô thị được hỗ trợ 70% kinh phí. Các tổ chức có tư cách pháp nhân thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có nhu cầu tham gia Chương trình, có đề án được Hội đồng thẩm định chấp thuận, được Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt, khi triển khai các hoạt động phải tuân theo các quy định tại Thông tư 21/2009/TT-BCT và các quy định của pháp luật có liên quan.
Về nguyên tắc, Chương trình hỗ trợ 100% kinh phí cho các hoạt động hỗ trợ năng lực cộng đồng doanh nghiệp, bao gồm: điều tra, khảo sát thị trường người tiêu dùng, mạng lưới phân phối và thương nhân; tổng hợp, cung cấp kết quả điều tra; tổ chức các hội thảo, toạ đàm; hỗ trợ 100% kinh phí cho các hoạt động truyền thông, gồm: hoạt động truyền thông thông qua truyền hình, báo in và báo điện tử; hỗ trợ 70% kinh phí cho tổ chức các hội chợ hàng nông sản, sản phẩm làng nghề phía Nam và phía Bắc, gồm: hội chợ hàng nông sản, sản phẩm làng nghề phía Nam; hội chợ hàng nông sản, sản phẩm làng nghề phía Bắc.
- Đến nay, sau hơn 1 năm thực hiện cuộc vận động, thị trường nông thôn được nhìn nhận chính là nơi tiêu thụ hàng hóa lớn nhất. Bộ Công Thương đã phối hợp cùng Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ Doanh nghiệp (BSA) chọn thị trường nông thôn làm điểm nhấn nhằm đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa. Theo Bộ Công Thương, trong 6 tháng đầu năm 2010, đã có 68 đợt đưa hàng về nông thôn với 857 lượt doanh nghiệp tham gia, thu hút hơn 4,7 triệu lượt khách tham quan, mua sắm, tổng doanh thu bán hàng đạt gần 1.500 tỷ đồng .
Trong nước, số doanh nghiệp có hàng Việt Nam chất lượng cao ngày càng tăng dần lên. Nếu năm 2008 có 485 doanh nghiệp được bầu chọn thì đến giữa năm 2010 số doanh nghiệp được bầu chọn lên đến 776 trong phạm vi cả nước. Thị hiếu người tiêu dùng đang có sự thay đổi đáng kể khi lựa chọn hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu. Hàng Việt Nam sản xuất trong nước ở nhiều ngành dần khẳng định được thương hiệu với lợi thế giá cả, chất lượng ổn định và mẫu mã tốt, tất nhiên còn nhiều mặt hàng về công nghệ thông tin, hàng cơ khí đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao, chính xác, mỹ phẩm cao cấp mang thương hiệu Việt Nam còn ít trên thị trường. Qua kết quả thăm dò của công ty tư vấn và nghiên cứu FTA Việt Nam cho thấy 71% người tiêu dùng (NTD) tin vào hàng Việt Nam – chất lượng cao. Qua nhiều tháng vận động số lượng chủng loại mặt hàng Việt Nam trong các siêu thị chiếm đến 70 – 80%. Triển vọng nếu cuộc vận động triển khai đúng hướng thì vị thế hàng Việt Nam sẽ có chổ đứng trong nước và trên thị trường thế giới.
Cộng đồng doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam không thụ động mà đang từng bước thích ứng với tình hình mới. Các hành vi tiêu dùng cũng thay đổi: từ mua sắm hàng ngày ở các chợ truyền thống, kể cả “chợ cóc” chuyển sang mua sắm khối lượng lớn cho cả tuần tại các siêu thị, trung tâm mua sắm và qua mạng Internet. Đồng thời giá trị mua sắm ngày càng tăng, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sử dụng ngày càng nhiều, kể cả chăm sóc sắc đẹp cho cả phụ nữ và nam giới, dịch vụ du lịch, bảo hiểm, giáo dục…
Tầng lớp người tiêu dùng trẻ cũng như người tiêu dùng có thu nhập cao tăng lên, thúc đẩy hoạt động bán lẻ cao cấp. Điều đó cho thấy sự phát triển khá lạc quan của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.
Từ những kết quả đã đạt được, có thể nói rằng, thị trường nội địa Việt Nam đang khá hấp dẫn. Các doanh nghiệp nước ngoài coi đây là cơ hội kinh doanh lớn và đang chuẩn bị cho cuộc đổ bộ vào thị trường Việt Nam. Một trong những nhân tố chính khiến thị trường nội địa được coi là thị trường có nhiều tiềm năng, đó là cơ cấu dân số của Việt Nam. Hiện tại, Việt Nam với dân số trên 87 triệu người sống trong nước, trong đó khoảng 70% là dân số trẻ. Thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam hiện nay đã đạt trên mức 1000 USD/người/1 năm. Bên cạnh đó, sức mua của các tầng lớp dân cư liên tục tăng. Nếu năm 2005 là 7,1 triệu đồng, năm 2008 là 11,68 triệu đồng thì năm 2009 dù bị ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nhưng vẫn đạt 12,5 triệu đồng/người/năm. Theo dự báo, tỷ lệ tiêu dùng này sẽ tiếp tục tăng lên trong những năm tới. Chính sức mua của nhân dân được kích thích nên đã thúc đẩy thị trường nội địa hoạt động tích cực và sôi nổi, hiệu quả hơn.
Tại Việt Nam đang hình thành thế hệ khách hàng có sở thích “mua sắm” ngày càng “sành điệu”.Tỷ lệ tiêu dùng so với GDP của Việt Nam cũng thuộc loại cao so với các nước trong khu vực. Tỷ lệ này ở Việt Nam hiện nay là trên 70%, trong khi đó Singapore là 55,9%, Malaysia 58,2%, Thái Lan 67,7%. Hơn nữa, Việt Nam cũng là cửa ngõ để dẫn vào các thị trường Đông Nam Á.
Xu hướng và là động thái tích cực trong thời gian gần đây của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước là cùng nhau liên kết và xây dựng chiến lược dài hạn, tăng cường tính chuyên nghiệp, trong đó đặc biệt chú trọng đến đào tạo nguồn nhân lực và quản lý hiện đại, đồng thời khắc phục những điểm yếu cố hữu trong công tác tài chính và logistic. Điển hình là hàng loạt chuỗi siêu thị, cửa hàng tiện ích của Coop Mart, Hapro Mart, Phú Thái Group, Vinatex Mart, Fivimart, HTX Thuận Thành - Thừa Thiên-Huế…
- Những đánh giá của các tổ chức quốc tế về chính sách phát triển thị trường nội địa Việt Nam cho thấy niềm tin tiêu dùng của dân cư Việt Nam đang rất khả quan. Theo đánh giá của Tập đoàn quốc tế Master Card thực hiện khảo sát trong tháng 10 và tháng 11 năm 2009, trên cơ sở ý kiến phản hồi của 10.623 người tiêu dùng tiến hành ở 24 nền kinh tế toàn cầu thì Chỉ số niềm tin tiêu dùng của Việt Nam có mức phục hồi cao nhất, dẫn đầu ở mức 90% bằng mức trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.
2.2. Thực hiện chính sách bảo vệ quyền của người tiêu dùng và khuyến khích người tiêu dùng ưu tiên dùng hàng trong nước
Như đã nói ở trên, hai văn bản cơ bản để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (1999) do UBTVQH ban hành và Luật Cạnh tranh do Quốc hội ban hành có hiệu lực từ 1/7/2005. Pháp lệnh quy định việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng là trách nhiệm chung của toàn xã hội, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân có trách nhiệm thực hiện các quy định của Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật có liên quan về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, động viên nhân dân tham gia các hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng đã đưa ra các quyền và trách nhiệm của người tiêu dùng như: người tiêu dùng có quyền lựa chọn hàng hoá, dịch vụ; được cung cấp các thông tin trung thực về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng hàng hoá, dịch vụ; được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ và môi trường khi sử dụng hàng hoá, dịch vụ; được hướng dẫn những hiểu biết cần thiết về tiêu dùng; người tiêu dùng có quyền đòi bồi hoàn, bồi thường thiệt hại khi hàng hoá, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng, giá cả đã công bố hoặc hợp đồng đã giao kết; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật đối với việc sản xuất, kinh doanh hàng cấm, hàng giả, hàng hoá, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng và việc thông tin, quảng cáo sai sự thật; người tiêu dùng có quyền đóng góp ý kiến trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thực hiện đúng trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Người tiêu dùng có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng hàng hoá, dịch vụ thuộc nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, bảo vệ sức khoẻ, bảo vệ môi trường và các hàng hoá, dịch vụ khác đã đăng ký, công bố.
Người tiêu dùng có trách nhiệm tự bảo vệ mình trong việc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ; thực hiện đúng hướng dẫn về phương pháp sử dụng hàng hoá, dịch vụ; không được tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ gây tổn hại đến môi trường, trái với thuần phong mỹ tục, gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ của mình và cộng đồng; người tiêu dùng có trách nhiệm phát hiện, tố cáo các hành vi gian dối về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, nhãn hiệu hàng hoá, giá cả và các hành vi lừa dối khác của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, gây thiệt hại cho mình và cộng đồng theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, quyền lợi của người tiêu dùng còn được bảo vệ bởi nhiều quy định trong các văn bản pháp luật khác như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Thương mại, Luật tiêu chuẩn về quy chuẩn kỹ thuật, Luật Bảo vệ môi trường, Pháp lệnh Chất lượng sản phẩm, Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm...
Để Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thực hiện hiệu quả, việc phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước giải quyết, tham vấn, bảo đảm, bênh vực lợi ích chính đáng cho người tiêu dùng, còn có hệ thống hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng gồm: Hội tiêu chuẩn bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam ở cấp trung ương và 26 hội ở các tỉnh và thành phố. Khi bị thiệt hại, người tiêu dùng có quyền gửi khiếu nại đến nhà sản xuất, kinh doanh, văn phòng khiếu nại, hội bảo vệ người tiêu dùng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện ra toà án có thẩm quyền. Trong đó, cơ quan nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chính là: Bộ Công Thương và các Sở Công Thương ở địa phương.
Mặc dù, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo vệ quyền của người tiêu dùng (như Pháp lệnh bảo về quyền lợi người tiêu dùng (1999) hay Pháp lệnh về vệ sinh an tòan thực phẩm (2007)) và đã có những cơ chế, chính sách kích thích kinh tế nhằm phát triển tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng hạn như “gói kích cầu” của Chính phủ thời gian qua. Nhưng việc thực thi các quy định đó còn nhiều bất cập, nhiều tồn tại, vướng mắc chưa được tháo gỡ. Ngoài ra, có thể nói, đến nay vẫn chưa có các chính sách, biện pháp hợp lý để quản lý thị trường một cách có hiệu quả, còn để xảy ra những vụ việc lũng đoạn thị trường về giá cả mặt hàng, về hàng giả, hàng nhái, hàng kém phẩm chất. Thêm vào đó, chính sách khuyến khích, hỗ trợ sản xuất trong nước, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng cũng chưa được tốt, chính vì thế đã xẩy ra nhiều hậu quả đáng tiếc như môi trường bị hủy hoại, sức khỏe của nhân dân suy giảm, mất lòng tin đối với người tiêu dùng và đối với xã hội. Hàng loạt vụ xâm phạm nặng nề đến quyền lợi người tiêu dùng như xăng dầu, điện nước, điện thoại, vệ sinh an toàn thực phẩm chưa bị xử lý thích đáng, rất ít trường hợp nhà sản xuất bồi thường cho người tiêu dùng.
Một thực tế cho thấy, thời gian qua Việt Nam ban hành nhiều Luật nhưng chưa giúp người tiêu dùng yên tâm, tin cậy. Quyền lợi của người tiêu dùng vẫn còn bị vi phạm và rất thiệt thòi, đặc biệt trên hai khía cạnh: quyền được đảm bảo về chất lượng nói chung và nhất là quyền được đảm bảo an toàn về sức khỏe và tính mạng; Quyền về lợi ích tài chính, tức là được mua hàng hóa và trả thanh toán dịch vụ đúng giá, không phải cao ngất ngưởng như giá sữa, giá một số thuốc chữa bệnh, một số hàng hóa dịch vụ khác . Tại Bộ luật Hình sự, Điều 162 quy định về tội lừa dối khách hàng, nhưng điều luật này chưa giúp được người tiêu dùng yên tâm và tin cậy hơn khi mua hàng hóa. Thực trạng hàng nhái, hàng kém chất lượng, các hành vi gian lận trong cân đo, đong, đếm, thông tin về hàng hóa thiếu trung thực, quảng cáo sai sự thật vẫn diễn ra phổ biến.
Cho đến nay, trách nhiệm cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi đối với người tiêu dùng vẫn chưa rõ ràng. Trong các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh chưa đề cập cụ thể đến trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước. Ví dụ, trong thực tế có rất nhiều vụ việc cần phải có vai trò trách nhiệm của Nhà nước như: làm sao người tiêu dùng biết được nước tương có chứa chất gây ung thư, hay phân biệt được hàng thật và hàng giả khi thấy chúng y hệt như nhau, hoặc người mua xăng làm sao biết được xăng có chứa chất Aceton, rồi giá sữa, hay giá thuốc người tiêu dùng khó biết là cao hay thấp để khiếu nại. Hơn nữa, bên cạnh hoạt động quảng cáo ở nước ta, chúng ta thiếu hoạt động kiểm soát các sản phẩm quảng cáo. Sản phẩm nào cũng nhận là siêu rẻ, là tốt nhất, do vậy không ai bảo vệ người tiêu dùng trên thực tế. 

Người tiêu dùng chưa được bảo vệ 

Trong năm 2010, Nhóm nghiên cứu của Hội Siêu thị Hà Nội đã tiến hành điều tra và khảo sát người tiêu dùng về dịch vụ sau khi bán hàng của các doanh nghiệp. Kết quả cho thấy , có tới 93% số người được hỏi nói là có yêu cầu doanh nghiệp bảo hành khi mua hàng, chỉ có 7% người tiêu dùng được hỏi không yêu cầu bảo hành khi mua hàng. Điều này cho thấy người tiêu dùng Việt Nam cũng rất quan tâm đến việc ràng buộc doanh nghiệp sau khi bán hàng.
Có tới 65% số người được hỏi trả lời rằng họ đã từng mua phải hàng giả, hàng xấu (kém chất lượng) và 35% số còn lại là chưa rơi vào tình trạng “thiếu may mắn” này. Điều này cho thấy người tiêu dùng không hài lòng đối với chất lượng sản phẩm của hàng hoá tiêu dùng ngay tại thị trường nội địa.
Khi bị khách hành phàn nàn về chất lượng sản phẩm dịch vụ được cung cấp bởi doanh nghiệp, có 49% số người cho biết rằng doanh nghiệp đã đổi lại hàng hoá khác cho họ, 31% số người trả lời cho rằng doanh nghiệp đã không giải quyết việc khiếu nại của khách hàng về sản phẩm hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp đã cung cấp và 20% số người trả lời rằng họ đã được trả lại tiền.
Có 45% số người cho rằng khi giải quyết việc khiếu nại của họ đối với hàng hoá, dịch vụ doanh nghiệp đã cung cấp, doanh nghiệp tỏ ra rất khó chịu, 33% số người được hỏi cho rằng doanh nghiệp tỏ ra vui vẻ khi có khiếu nại về hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp và 22% số người cho rằng doanh nghiệp không tỏ thái độ gì khi có khiếu nại, tức là phía doanh nghiệp tỏ ra “trung dung”.


2.3. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHCDN) mới chỉ tập trung chủ yếu ở ngành da giầy và may mặc do yêu cầu của các khách đặt hàng nước ngoài. Ngân hàng Thế giới đã tiến hành nghiên cứu về việc áp dụng TNXHCDN trong ngành da giày và dệt may Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số rào cản và khó khăn sau:
- Có sự khác biệt lớn trong nhận thức và hiểu biết về TNXHCDN trong và giữa các doanh nghiệp Việt Nam.
- Việc một công ty áp dụng đồng thời nhiều Bộ Quy tắc ứng xử không mang lại hiệu quả.
- Thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực TNXHCDN (đặc biệt là đối với các DNNVV)
- Sự khác biệt giữa Bộ luật lao động và Bộ Quy tắc ứng xử của khách đặt hàng gây nhầm lẫn cho doanh nghiệp, ví dụ trong vấn đề giờ làm thêm hay hoạt động của công đoàn.
- Sự thiếu minh bạch trong việc áp dụng TNXHCDN trên thực tế đang cản trở lợi ích thị trường tiềm năng mang lại cho doanh nghiệp.
- Mâu thuẫn trong các quy định của Nhà nước khiến cho việc áp dụng Bộ Quy tắc ứng xử không đem lại hiệu quả mong muốn, ví dụ như mức lương, phúc lợi và các điều kiện tuyển dụng.
Tổ chức này cũng chỉ ra những lợi ích và cơ hội mà TNXHCDN đã và sẽ đem lại cho doanh nghiệp Việt Nam:
- Một số công ty Việt Nam đã thu được lợi ích thị trường từ TNXHCDN, thể hiện bằng các hợp đồng mới và hợp đồng gia hạn từ các công ty đặt hàng nước ngoài.
- Cũng những công ty này nói rằng năng suất lao động tăng lên do công nhân có sức khỏe tốt hơn và hài lòng với công việc hơn.
- Khách hàng đang tìm kiếm các giải pháp hợp tác cho phép chia sẻ chi phí và tạo ra tác động lớn hơn ở một số lĩnh vực như xây dựng năng lực sản xuất.
Trong hành xử đối với người tiêu dùng, nhiều doanh nghiệp tỏ ra thiếu văn minh thương mại, trong nhiều khâu từ tiếp thị, bán hàng, giải đáp khiếu nại, trách nhiệm bảo hành, bồi thường ...
Gần đây nhiều nhà kinh doanh nhập hàng trăm tấn thịt, ngũ tạng động vật, mỡ quá đát, hoặc cận đát nhiễm vi sinh bị phát hiện. Trong đo lường ngoài chất lượng xăng kém hành vi, đong thiếu; có doanh nghiệp cố tình gắn chip điện tử để gian lận trong bán xăng; hay gian lận trong đo đếm tính cước taxi. Người tiêu dùng không được bồi thường về những hành vi gian lận thương mại trong các lĩnh vực này. Khá phổ biến hiện tượng thông tin không trung thực, đánh lừa người tiêu dùng về xuất xứ hàng hóa, về thành phần, tính năng công dụng, về bán “sale”, khuyến mãi, giá cả “cắt cổ” trong việc bán sữa ngoại, trong thuốc tân dược, lừa dối người tiêu dùng vì ham lợi nhuận trong bán hàng đa cấp…Về trách nhiệm bảo hành: mập mờ nội dung bảo hành, địa chỉ bảo hành; né tránh trách nhiệm bảo hành; kéo dài việc giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng; bồi thường không thỏa đáng…
Vai trò của người tiêu dùng rất quan trọng trong việc khuyến khích các doanh nghiệp chấp nhận và thực hiện trách nhiệm xã hội, trách nhiệm đối với người tiêu dùng. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang có sự nỗ lực đáng kể tìm hiểu dư luận, sở thích của khách hàng, để cuối cùng cho ra những sản phẩm, dịch vụ mà người tiêu dùng muốn mua. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng đang dần từng bước tiếp cận với khái niệm về trách nhiệm xã hội của họ, hoặc đang thực hiện một mảng nào đó tuy chưa đầy đủ về trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng hay người tiêu dùng qua các tiêu chuẩn của ISO.

2.4. Những tồn tại của thị trường nội địa
Mặc dù, thị trường nội địa đạt được một số kết quả đáng khích lệ, nhưng nhìn nhận một cách khách quan thì khả năng tiêu dùng hàng hóa ở thị trường nội địa của các tầng lớp dân cư, nhất là ở nông thôn nước ta còn rất thấp. Nguyên nhân có nhiều nhưng có thể thấy rõ là do kinh tế của nước ta còn nghèo, thu nhập bình quân đầu người mới ở ngưỡng 1.000 USD, phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn, nhu cầu mua sắm hàng hóa có khả năng thanh toán hằng năm không cao. Đồng thời, đa số dân cư có tâm lý để dành tiền còn nặng, quỹ tiết kiệm trong dân chưa được khai thác phục vụ tiêu dùng và các hoạt động dịch vụ tối thiểu khác.
Ngoài ra, một số bộ phận không nhỏ cư dân ở nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa thuộc diện phải xóa đói, giảm nghèo có thu nhập cực thấp lại đang thiếu những nhu yếu phẩm thiết yếu, trong khi năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nước lại dư thừa đang là nghịch lý phải xử lý. Do vậy, việc phát triển thị trường nội địa Việt Nam đang gặp phải rất nhiều khó khăn, trở ngại. Nguyên nhân của các khó khăn này đến từ nhiều phía, trong đó có cả chủ quan và khách quan. Đó là:
- Thị trường nội địa chưa nhận được sự quan tâm đúng mức. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều chú trọng phát triển thị trường xuất khẩu mà bỏ quên thị trường nội địa. Chính bản thân doanh nghiệp cũng chưa nhận thức được vai trò quan trọng nền tảng của thị trường nội địa. Nhiều doanh nghiệp đang kinh doanh theo kiểu cơ hội, ăn sẵn, thiếu một chiến lược và tư duy tổ chức kinh doanh. Vì vậy, hiện nay thị trường nông thôn, một phân khúc đầy tiềm năng, gần như bị “bỏ trống”, việc phân phối hàng hóa ở đây còn hết sức sơ khai.
- Hệ thống phân phối chưa được đầu tư đúng mức. Kênh phân phối của các doanh nghiệp Việt Nam còn quá yếu, không chuyên nghiệp như các nước trên thế giới, trong khi đó hạ tầng còn chưa đồng bộ. Các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng hệ thống phân phối riêng cho mình. Ngoài ra, do đã bỏ quên thị trường nội địa quá lâu nên các doanh nghiệp phải bắt tay lại từ đầu. Đây là việc làm rất tốn kém cả về thời gian và chi phí.
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất ra sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp là hết sức cần thiết nhưng còn phải qua phân phối thật tốt, thật hợp lý thì hàng hóa mới tiêu thụ được. Các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn đều nhỏ bé, non trẻ nên một phần là chưa có nhận thức đúng về tầm quan trọng của hệ thống phân phối, một phần là tài lực quá yếu không đủ sức gây dựng. Nhiều ý kiến cho rằng, hệ thống phân phối ở Việt Nam còn đang ở bước khởi đầu, còn rất sơ khai; không gian thị trường, hệ thống kết nối giữa sản xuất–phân phối–tiêu dùng chưa được hình thành, thậm chí chưa có mô hình một cách hoàn chỉnh và bền vững. Điều này đã tạo ra những lỗ hổng lớn làm thị trường Việt Nam không ổn định, các nhà bán lẻ Việt Nam vì thế khó vạch ra chiến lược kinh doanh của mình.
- Doanh nghiệp Việt Nam tuy đông về số lượng, nhưng còn yếu kém, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như của sản phẩm thấp. Hơn 90% doanh nghiệp hiện nay là doanh nghiệp nhỏ và vừa với nhiều hạn chế về tài chính, trình độ lao động, năng lực quản lý, kinh nghiệm kinh doanh,… và nhiều hạn chế khác, như khả năng nắm bắt cơ hội, linh hoạt trong hoạt động sản xuất, kinh doanh đều xuất phát từ bản thân các doanh nghiệp. Trong khi đó, sự hỗ trợ của Nhà nước chưa có hiệu quả.
Về quản lý giá, do thị trường nội địa còn manh mún, chắp vá, với rất nhiều tầng lớp trung gian, chưa tạo thành chuỗi khép kín từ sản xuất đến lưu thông, nên giá cả hàng hóa khó có thể kiểm soát.
- Thị trường nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa chưa được chú trọng, quan tâm đúng mức. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam có quan niệm nông dân thu nhập thấp nên sức mua kém, lại có phong cách sống tằn tiện nên thường chỉ mua sắm hàng hóa cấp thấp, rẻ tiền. Thậm chí, khi tham gia Chương trình “Đưa hàng về nông thôn” quan niệm này vẫn chi phối một số doanh nghiệp, nên họ đưa hàng kém phẩm chất, lỗi mốt, hàng xuất khẩu bị loại, hàng thùng về cho nông thôn, khiến người tiêu dùng bất bình, do đó gây mất lòng tin về hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam.
Theo Viện Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp thì nông thôn Việt Nam chiếm đến 70% lượng tiêu thụ hàng hóa, 70% số hộ cũng ở nông thôn, số lượng các cửa hàng bán lẻ cũng tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn (97%). Nghiên cứu tiếp thị của Công ty Truyền thông Tiếp thị Việt Nam cho biết nông thôn nước ta có số lượng khách hàng sẵn sàng mua sắm gấp 3 lần thành thị. Nhiều hộ gia đình ở nông thôn đã tiêu thụ một số mặt hàng cao cấp như tivi, đài, xe máy, điện thoại…Tuy nhiên, hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam lại chưa được phủ kín ở thị trường này.
- Hàng hóa của Việt Nam chưa có vị trí vững chắc trong nhận thức của người dân và phải cạnh tranh khốc liệt với hàng hóa nhập khẩu. Mặc dù đã có những cải tiến về chất lượng, mẫu mã nhưng nhìn chung hàng hóa của các doanh nghiệp trong nước vẫn còn đơn điệu, chất lượng hạn chế, giá thành cao. Giá của một loại hàng hóa có cùng mẫu mã nhưng hàng Việt Nam thường có giá cao hơn từ 10–20%, về mẫu mã thì mỗi tuần Trung Quốc tung ra 1-3 mẫu mới, bình quân hàng tháng có thể đưa ra hàng chục mẫu lạ và có thể cho thu hồi lại các hàng đã lỗi mốt, còn hàng Việt Nam lại ít thay đổi. Chế độ bảo hành thường không được thực hiện nghiêm túc, chỉ làm qua loa, chiếu lệ. Điều này cũng góp phần làm cho người tiêu dùng mất lòng tin.
Việc quảng bá sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước rất kém, bao bì sản phẩm không bắt mắt, nên khó thu hút khách hàng. Thiếu thông tin khiến nhiều mặt hàng có thương hiệu uy tín nhưng khách hành không biết mua ở đâu. Nhiều mặt hàng khác có chất lượng không thua hàng ngoại, nhưng thiếu hướng dẫn, hệ thống phân phối chưa phù hợp, chưa bao phủ được thị trường nên vẫn không bán được hàng.
- Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao cho hệ thống phân phối. Trong hệ thống phân phối, nhân viên trình độ cao rất khan hiếm, nhân viên bậc trung cũng thiếu trầm trọng, đến nhân viên bậc sơ cấp cũng khó tuyển dụng, ít ổn định. Người lao động vẫn coi bán hàng là một công việc tạm bợ, không lâu dài, nên không gắn bó với công việc.
- Kết cấu hạ tầng không theo kịp sự phát triển của thị trường. Mặt bằng của các doanh nghiệp, các cửa hàng kinh doanh khó khăn và khan hiếm, đặc biệt là ở các thành phố và các khu đô thị lớn. Trong khi đó, ở nhiều địa phương còn thiếu chợ, có nơi để chợ mọc tự phát, trong khi nhiều nơi xây dựng chợ nhưng lại bỏ hoang không ai vào mua bán.
- Sự lỏng lẻo trong liên kết giữa các doanh nghiệp và hiệp hội. Ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, đóng gói, hệ thống bán lẻ Việt Nam chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau như chuỗi liên hoàn cung ứng khép kín từ khâu nguyên vật liệu cho đến khâu thành phẩm để đưa đến tay và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Nhìn chung, ở Việt Nam hiện nay chưa có sự liên kết: giữa các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm trong từng vùng, từng miền; giữa các doanh nghiệp sản xuất và các doanh nghiệp phân phối; giữa các doanh nghiệp sản xuất, phân phối với các hiệp hội, ngành hàng. Do đó, siêu thị, trung tâm, cửa hàng thương mại muốn có hàng phải đi thu mua khi tăng khi giảm thất thường; không đồng bộ. Còn doanh nghiệp sản xuất thường gặp khó khăn trong tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm làm ra tự đem bán được khoảng 3%, các cửa hàng phân phối tiêu thụ khoảng 12%, 80-85% phải bán cho thương lái và chịu bị ép giá, khiến nhiều khi bán hàng rồi không thu hồi lại đủ vốn.
- Tâm lý sính ngoại, thích tiêu dùng hàng ngoại đang trở nên phổ biến, là cản trở không nhỏ đối với Nhà nước và các doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường nội địa. Tại thị trường Việt Nam, một thực tế được các chuyên gia chỉ ra là phần lớn người tiêu dùng Việt Nam phải mua hàng ngoại chỉ vì hàng Việt Nam chất lượng thấp, quá đắt so với giá trị của nó hoặc không có cùng chủng loại. Người tiêu dùng Việt sẵn sàng ủng hộ hàng Việt nhưng không phải ủng hộ bằng bất cứ giá nào. Chúng ta không thể kêu gọi Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt một cách chung chung, buộc mọi người phải chấp nhận mua hàng nội kém chất lượng, mẫu mã xấu, giá cao hơn hàng ngoại cùng loại được. Trong khi hàng hóa có chất lượng cao, mẫu mã đẹp thì lại đem xuất khẩu, còn hàng xấu, hàng không đạt tiêu chuẩn lại điều về thị trường nội địa.

3. Một số đề xuất
3.1. Nâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển thị trường trong nước
- Nhà nước cần tập trung vào những giải pháp chính sách thuộc nhóm kích cầu đầu tư như: miễn, giảm, giãn các loại thuế VAT cho hàng hoá là tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng; giảm hơn nữa thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp; hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức cá nhân vay vốn để sản xuất kinh doanh đầu tư mới; tăng đầu tư công cho các công trình trọng điểm; giám sát các quy định các hoạt động mua sắm thuộc ngân sách nhà nước phải sử dụng hàng hoá sản xuất trong nước.
- Nhà nước cũng cần triển khai mạnh mẽ các chương trình xúc tiến thị trường thương nội địa hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam, hàng Việt Nam hướng về thị trường trong nước về người tiêu dùng Việt Nam.
- Các cơ quan chức năng của Nhà nước cần xây dựng chương trình xúc tiến thương mại trong và ngoài nước, hướng đến tổ chức các hội chợ, triển lãm chuyên ngành, đa ngành nhằm giới thiệu, quảng bá tôn vinh sản phẩm Việt; xây dựng chương trình kết nối giữa nhà sản xuất kinh doanh với các nhà phân phối, đại lý trong nước để mở rộng độ bao phủ hàng hóa, tăng sự hiện diện của hàng Việt Nam trên thị trường trong nước, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại đưa hàng Việt ra nước ngoài.
- Nhà nước cần có chính sách cụ thể hỗ trợ cho việc đưa hàng Việt vào các siêu thị Việt Nam; ưu tiên cho việc trưng bày hàng Việt ở các kệ, vận động các siêu thị ngoại bán hàng Việt Nam. Dành ưu tiên về diện tích trưng bày, gia hạn thời gian bán thử cho các sản phầm mới trong nước.
3.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp thông qua các chương trình hỗ trợ, huấn luyện, đào tạo và xây dựng thương hiệu
- Nhà nước cần hỗ trợ và có các chương trình hỗ trợ đào tạo, nâng cao kiến thức, kỹ năng kinh doanh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt kỹ năng bán hàng, chăm sóc khách hàng, tâm lý người tiêu dùng, nhu cầu thị trường nội địa; cung cấp thông tin thị trường.
- Các doanh nghiệp cần tập trung xây dựng thương hiệu, quản trị doanh nghiệp quản lý sản xuất, quản lý nguồn nhân lực…; tổ chức, nghiên cứu nắm thông tin về thị trường, nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng, về các mạng lưới phân phối bán buôn, bán lẻ để xây dựng chiến lược phát triển thị trường nội địa.
3.3. Đẩy mạnh đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
-Nhà nước cần có chính sách giúp doanh nghiệp trong việc đổi mới công nghệ trong sản xuất kinh doanh. Muốn vậy, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý khoa học công nghệ, hiệp hội các doanh nghiệp, nghiên cứu các đề án như:
- Xây dựng chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy Việt Nam, quốc tế và chứng nhận thương hiệu sản phẩm;
- Xây dựng chương trình liên kết hoạt động R&D giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học.
3.4. Tăng cường tuyên truyền, vận động, cổ vũ người tiêu dùng, doanh nghiệp đối với hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam
-Tăng cường tuyên truyền, vận động, cổ vũ người tiêu dùng, doanh nghiệp đối với hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng người dân sẽ có cách nhìn rõ ràng hơn về hàng hoá Việt Nam, từ đó nâng cao được nhận thức của người tiêu dùng đối với hàng hoá, sản phẩm trong nước.
- Nhà nước cần tập trung vào xây dựng chiến lược và chính sách phát triển hàng Việt Nam trong lĩnh vực cần ưu tiên phát triển trung và dài hạn cho thị trường nội địa cũng như cho xuất khẩu; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn sản phẩm, hướng tới hài hoà với tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, trong đó chú trọng tới các giải pháp công nghệ; tăng cường hệ thống giám sát và chứng nhận chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm sản xuất ở Việt Nam và nhập khẩu vào Việt Nam, có chế tài xử lý thật nghiêm những vi phạm; thực thi các biện pháp bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng và các doanh nghiệp nội địa.
3.5. Doanh nghiệp và người tiêu dùng cùng chung tay chống hàng giả
Hiện số vụ vi phạm về hàng giả, hàng nhái, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đã đạt đến con số 3.000-5.000 vụ/năm . Với kỹ thuật làm giả, nhái tinh vi, hàng giả, hàng nhái xuất hiện trên thị trường ngày càng nhiều và công khai bày bán tại các chợ, cửa hàng, thậm chí ở cả những trung tâm thương mại sang trọng. Vấn nạn này không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu dùng và nhà sản xuất chân chính mà còn là rào cản đối với các doanh nghiệp trong việc nỗ lực tìm kiếm thị trường, phát triển và giữ gìn thương hiệu. Điều đáng nói là hàng giả xuất hiện đa dạng, từ sản phẩm có giá trị thấp đến những sản phẩm đắt tiền, hàng hiệu và được không ít người công khai kinh doanh, sử dụng.
Cuộc chiến chống hàng giả cần huy động nguồn lực toàn xã hội cùng hành động mới mong có kết quả tốt. Doanh nghiệp phải cùng chung tay với người tiêu dùng để chống, tẩy chay hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Thực tế, một số doanh nghiệp ngại công bố việc sản phẩm của mình bị làm giả vì sợ người tiêu dùng quá cẩn trọng mà quay sang tẩy chay cả hàng thật. Tuy nhiên, theo quan điểm của một số doanh nghiệp, nhà sản xuất phải có trách nhiệm công bố rõ ràng đặc điểm sản phẩm để người tiêu dùng biết, tránh mua phải hàng giả, hàng nhái. Đó không chỉ là trách nhiệm đối với khách hàng, mà cũng là cách bảo vệ thương hiệu, uy tín của chính doanh nghiệp.
3.6. Khuyến khích, vận động các cơ quan nhà nước tiêu dùng hàng hoá được sản trong nước
- Hiện nay, đầu tư nhà nước mua sắm công chiếm khoảng 40% tổng đầu tư xã hội. Vì vậy, cần sử dụng sức mua lớn này qua việc ủng hộ hàng Việt Nam một cách thiết thực. Nhà nước cũng là người tiêu dùng lớn nhất. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách cụ thể ưu tiên dùng hàng Việt trong mua sắm, tạo cơ hội bình đẳng cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia cung ứng.
- Nhà nước cũng cần có cơ chế vừa là khuyến khích vừa là vận động các cơ quan Nhà nước tiêu dùng hàng hoá nội địa; và các cơ quan nhà nước phải xác định là người đi tiên phong trong Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiêu dùng hàng Việt Nam” do Bộ Chính trị phát động.
3.7. Bảo vệ người tiêu dùng thông qua pháp luật
Luật số 59/2010/QH12 về Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/2011. Về cơ bản Luật đã khắc phục được nhiều nhược điểm trước đây của Pháp Lệnh số 13/1999/PL-UBTVQH10 về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, để bảo vệ được quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng, Nhà nước cần sớm ban hành các văn bản dưới Luật để hướng dẫn thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian tới.
- Nhà nước cần quy định thật rõ chức năng, nhiềm vụ của các cơ quan quản lý về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Chính phủ cần giao cho một cơ quan làm đầu mối có quyền và trách nhiệm kiểm tra, giám sát để người dân khi phát hiện được vi phạm thì báo ngay cho cơ quan đó xử lý. Ngoài ra, Chính phủ cũng cần phân công, phân cấp rõ cho các cơ quan nhà nước quản lý cấp địa phương trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương.
- Nhà nước cần tăng mạnh chế tài trong xử phạt các hành vi vi phạm liên quan đến lợi ích của người tiêu dùng: Mức phát có thể phải đủ mạnh, đủ sức răn đe, thậm chí thu hồi giấy phép kinh doanh nếu cần thiết.
3.8. Công khai các tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm quyền lợi người tiêu dùng
- Hiện tại, quy định của pháp luật hiện hành chưa có những chế tài đặc thù, đủ sức răn đe để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới, ngoài biện pháp phạt tiền, cấm kinh doanh… các nước này còn đưa ra những chế tài đặc thù như công bố công khai danh tính tổ chức, cá nhân vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng, truy thu lợi nhuận bất hợp pháp… Đây là những chế tài rất hiệu quả để áp dụng cho các tổ chức, cá nhân vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng.
- Cùng với đó, cần bổ sung một số chế tài xử lý vi phạm hành chính như: tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; buộc đình chỉ hoặc tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh ngành nghề có hành vi vi phạm pháp luật; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm; tịch thu lợi nhuận thu được do thực hiện hành vi vi phạm; đưa vào danh sách công khai các tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm quyền lợi người tiêu dùng.
- Ngoài ra, Nhà nước cần hoàn thiện các cơ chế, chính sách để bổ sung trách nhiệm quản lý nhà nước và nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Vì việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là lĩnh vực cần có sự tham gia của nhiều Bộ, ngành, cơ quan phát thanh, truyền hình, cơ quan tư pháp… do đó, Nhà nước cần quy định rõ, cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan trong các hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cần có phương tiện và có nguồn tài chính để giúp người tiêu dùng toàn xã hội biết thông tin, nhất là những thông tin về kết quả kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh để mọi người tiêu dùng tự phòng, tránh hoặc có đủ thông tin để đi đến quyết định tiêu dùng. Cùng với đó, cần quy định những chế tài cụ thể đối với các hành vi, vi phạm có tổ chức gây hại cho nhiều người, thậm chí cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng. 



1. Theo báo cáo sơ kết tình hình triển khai Chương trình hành động 6 tháng đầu năm và kế hoạch triển khai 6 tháng cuối năm của Bộ Công thương 7/2010
2. Tham khảo http://www.vtc.vn/bvntd/print/251179/index.htm, ngày 19/06/2010 
3. Hiện nay, hàng Việt Nam chiếm tỉ lệ 70-80% trong các siêu thị (Riêng TP. Hồ Chí Minh đã có 47/70 siêu thị trong cả nước). Có hàng chiếm lời 85 – 95% như thực phẩm hóa, mỹ phẩm, quần áo may sẵn, nước giải khát. Bình quân mỗi siêu thị có 2000 - 3000 nhà cung cấp, là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong nước (ở TP. HCM có 150.000 doanh nghiệp, mà 80% là vừa và nhỏ), tỉ lệ % của doanh nghiệp này so với 2000 - 3000 nhà cung cấp có hàng vào siêu thị còn quá ít.
4. Theo Cục quản lý thị trường (QLTT) - Bộ Công Thương, 2010
5.  Năm 2008, riêng lực lượng quản lý thị trường đã kiểm tra và xử lý 18.539 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và an toàn vệ sinh thực phẩm.
6. Thực tế ở Việt Nam cho thấy, mức xử phạt không tương xứng với lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được từ hành vi vi phạm, do đó có nhiều doanh nghiệp chấp nhận bị phạt để vi phạm. Ví dụ, tại một số điểm bán xăng dầu, sai số đo lường bình quân khoảng 5%, với mức tiêu thụ xăng dầu hiện nay số tiền mà NTD bị thiệt hại lên tới hàng ngàn tỷ đồng (Điểm bán xăng dầu có tiếng "hay gian lận" trên đường Trần Khát Chân, Hà Nội là một minh chứng).