Cơ hội và thách thức
Dự báo giai đoạn 2011-2015, sự phát triển của nền kinh tế sẽ có một số cơ hội đan xen những thách thức. Đó là kinh tế Việt Nam phát triển trong bối cảnh tình hình quốc tế có những biến đổi phức tạp và khó lường, với nhiều hình thức liên kết kinh tế mới xuất hiện; sự hợp tác giữa các nước trong khu vực ASEAN sẽ đi vào chiều sâu. Tuy có một số thuận lợi nhờ kế thừa, phát huy thành tựu to lớn của 25 năm đổi mới, nhưng cũng phải đối mặt với những yếu kém của nền kinh tế cũng như ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Những cơ hội thu hút đầu tư, mở rộng thị trường sau khi nước ta gia nhập WTO luôn xuất hiện cùng với thách thức về sức ép cạnh tranh trên toàn cầu, nhất là sự yếu kém về chất lượng nguồn nhân lực và công nghệ. Đồng thời, các vấn đề liên quan đến an ninh năng lượng, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, nước biển dâng cao, thiên tai, dịch bệnh... tiếp tục diễn biến phức tạp sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sự ổn định và phát triển của kinh tế thế giới.
Các tổ chức tài chính quốc tế và các nước đều có chung một nhận định tình hình kinh tế thế giới trong năm 2011 và 2012 (là 2 năm đầu của kế hoạch 5 năm của nước ta) còn nhiều khó khăn hơn năm 2010. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2011 dự báo tăng 3,2% (thấp hơn mức 3,8% của năm 2010). Tuy nhiên, dự báo cho cả giai đoạn 2011-2015 tăng trưởng kinh tế thế giới xu hướng sẽ dần hồi phục, nhưng tốc độ tăng sẽ thấp hơn trước khủng hoảng. Những rủi ro đối với tiến trình phục hồi kinh tế thế giới còn tiềm ẩn khá lớn. Trong giai đoạn tới, dự báo kinh tế các nước phát triển tăng trưởng chậm lại, còn các nước đang phát triển và mới nổi, đặc biệt các nước đang phát triển ở khu vực châu Á vẫn có mức tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của thế giới, nhưng thấp hơn tốc độ tăng của giai đoạn trước. Dựa trên thực tế, Bộ Công Thương đưa ra mục tiêu là phát triển với tốc độ nhanh, bền vững, trên cơ sở tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế; nâng cao chất lượng, hiệu quả, cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế, tăng hàm lượng khoa học - công nghệ trong sản phẩm... Về tiêu chí cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng bình quân 9,0-10,0%/năm; giá trị sản xuất công nghiệp bình quân toàn Ngành tăng 13,5%/năm. Tăng trưởng GDP công nghiệp và xây dựng là 7,8%/năm (trong đó công nghiệp tăng khoảng 7,8%/năm). Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân 12,1%/năm. Phấn đấu đến năm 2015, kim ngạch xuất khẩu đạt 133 tỷ USD, trong đó: nhóm nhiên liệu, khoáng sản đạt 13,5 tỷ USD; nhóm công nghiệp chế biến: 86 tỷ USD; nhóm nông, lâm, thuỷ sản: 21 tỷ USD và nhóm hàng hoá khác: 12,5 tỷ USD. Kim ngạch nhập khẩu tăng khoảng 11,5%/năm, dự kiến khoảng 146 tỷ USD vào năm 2015. Như vậy, dự kiến nhập siêu năm 2015 khoảng 9,8% so với kim ngạch xuất khẩu. Về thị trường trong nước, phấn đấu đến năm 2015, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt khoảng 4.000 nghìn tỷ đồng, trong đó tỷ trọng khu vực kinh tế trong nước khoảng 90%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài khoảng 10%.
Định hướng và giải pháp
Tại buổi làm việc với Bộ Công Thương về tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2011, kế hoạch năm 2012 và giai đoạn 5 năm 2011-2015, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải khẳng định: Nhiệm vụ tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng đang đặt ra thách thức lớn với ngành Công Thương trong giai đoạn tới. Kế hoạch giai đoạn 2011 - 2015 của ngành Công Thương là kế hoạch rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm, nhằm đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp vào năm 2020.
Theo đó, ngành Công Thương đã đưa ra 5 nhóm giải pháp thực hiện nhằm tiếp tục duy trì vai trò động lực, quyết định trong phát triển nền kinh tế. Về phát triển công nghiệp, cần phát triển công nghiệp gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Đổi mới mô hình tăng trưởng mà trước hết là phải thực hiện tái cơ cấu đầu tư và khu vực doanh nghiệp nhà nước. Từng bước chuyển dịch theo chiều sâu cơ cấu công nghiệp với một số ngành công nghiệp chế biến, chế tác có hàm lượng công nghệ cao lớn dần, làm cơ sở xây dựng nền công nghiệp theo hướng phát triển mạnh những ngành có lợi thế so sánh và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững...
Mục tiêu đảm bảo tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu để san bằng nhập siêu vào năm 2020 cũng đặt ra thách thức cực kỳ lớn với Ngành, nhất là khi 5 năm vừa qua, Ngành không đạt được mục tiêu Chiến lược xuất khẩu. Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế mở gần như 100% thì xu thế bảo hộ thị trường đang diễn ra cùng với sự cạnh tranh về giá. Vì vậy, về xuất khẩu, cần có chính sách hỗ trợ, khuyến khích hình thành các tập đoàn phân phối lớn cũng như tạo lập mối liên kết chặt chẽ giữa các tập đoàn phân phối này với các nhà sản xuất trong nước, nhằm nâng cao khả năng chiếm lĩnh thị trường của hàng hóa trong nước. Tập trung đầu tư sản xuất các sản phẩm có khả năng cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu để chiếm lĩnh dần thị trường trong nước. Về phát triển thị trường trong nước, cần đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mở rộng thị trường nội địa, nhất là vùng nông thôn, miền núi. Ứng dụng nhanh thương mại điện tử tạo ra các kênh phân phối văn minh, hiện đại; Tăng cường công tác quản lý thị trường, chống buôn lậu, hàng giả, kém chất lượng... Về đầu tư, đa dạng hoá các hình thức đầu tư và hình thức sở hữu, áp dụng linh hoạt các chính sách huy động vốn từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Đẩy mạnh huy động mọi nguồn vốn, hình thức đầu tư để triển khai nhanh các dự án trong kỳ kế hoạch, ưu tiên tập trung những dự án trọng điểm... Về hội nhập kinh tế quốc tế, thì tăng cường năng lực, thực hiện vai trò đầu mối giải quyết tranh chấp của Việt Nam trong WTO; Tổ chức các chương trình truyền thông về Cộng đồng Kinh tế ASEAN nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết cho cộng đồng doanh nghiệp và dân cư, chuẩn bị cho sự hình thành của Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào năm 2015...
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nhận định, trong cả trung hạn và dài hạn, thách thức lớn với ngành Công Thương chính là đảm bảo cân bằng năng lượng, bởi Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ thiếu cả than, khí và điện cho phát triển kinh tế. Để thực hiện mục tiêu đề ra cho cả giai đoạn 2011-2015, Phó Thủ tướng cho rằng, cùng với 5 nhóm giải pháp Bộ Công Thương đã đề ra, Bộ cần lưu ý giải pháp quan trọng là tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quản lý, như chậm ban hành quy hoạch phát triển ngành do thiếu báo cáo đánh giá tác động môi trường. Đồng thời, để đảm bảo cân bằng năng lượng, các tập đoàn lớn như Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam cần phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ để vượt qua thách thức. Riêng lĩnh vực điện hạt nhân, các bộ, ngành, địa phương phải tích cực đào tạo nâng cao năng lực quản lý nhà nước, chuẩn bị tốt các điều kiện để từ nay đến năm 2015 phải khởi công được 2 dự án điện hạt nhân ở Ninh Thuận, góp phần ổn định năng lượng cho đất nước.
Những cơ hội và thách thức phát triển ngành Công Thương giai đoạn 2011 – 2015
Theo báo cáo của Bộ Công Thương, năm 2011, giá trị sản xuất công nghiệp toàn Ngành ước đạt 912,55 nghìn tỷ đồng, tăng 12,7% so với năm 2010. Hoạt động xuất, nhập khẩu cũng tăng trưởng khá tích cực, xu
