Tham dự Diễn đàn có Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư TS. Đặng Huy Đông, Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia GS, TS. Tạ Ngọc Tấn cùng đại diện của các cơ quan, doanh nghiệp, các chuyên gia trong và ngoài nước.

Chính sách ưu đãi đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn

Đó là nhận định của ông Đặng Xuân Quang, Cục phó Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) khi đánh giá về thực trạng giảm mạnh đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Ông Đặng Xuân Quang cho biết, tính đến 20/7/2012, đầu tư lũy kế của nước ngoài tại Việt Nam có hơn 14.007 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 206 tỷ USD. Vốn thực hiện khoảng 96 tỷ USD. Trong đó, 96 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam.

Đáng chú ý, công nghiệp chế biến chế tạo chiếm 48,4%; bất động sản 23,9%; nông, lâm, thủy sản 1,6%. Và đầu tư nước ngoài đã có mặt tại tất cả các địa phương trên cả nước.

Ông Quang cho hay, thu hút đầu tư nước ngoài đang bộc lộ những hạn chế sau: (1) Suy giảm vốn đăng ký; (2) Việc thẩm tra cấp GCNĐT tại một số địa phương còn bất cập; (3) Nhiều doanh nghiệp báo lỗ thường xuyên: thất thu NSNN, chuyển giá. (4) Vấn đề lao động: Thiếu lao động, Đình công; (5) Thiếu thông tin cho quản lý điều hành (báo cáo chậm); (6) Ô nhiễm môi trường

Theo ông Quang, nguyên nhân khách quan do suy thoái kinh tế toàn cầu và cạnh tranh trong thu hút FDI của các nước trong khu vực. Còn về chủ quan, do khó khăn nội tại của nền kinh tế (cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, công nghiệp hỗ trợ).

Song, ông Quang cũng cho biết, dự án lớn, vốn ảo đã suy giảm đáng kể, vốn thực hiện duy trì tương đương cùng kỳ trong mấy năm qua; khoảng cách vốn đăng ký và vốn thực hiện được thu hẹp; xuất khẩu vẫn tăng trưởng tốt (tăng 33,6% so cùng kỳ 2011); xuất siêu 2,4 tỷ USD; vốn tăng thêm có xu hướng tăng (tăng 5,6% so với cùng kỳ 2011); cơ cấu đầu tư điều chỉnh theo hướng tích cực (tăng đầu tư vào công nghiệp chế biến, chế tạo).

Tuy nhiên, “Dòng FDI toàn cầu 2013 dự kiến tăng và nhà đầu tư quốc tế vẫn đánh giá Việt Nam là điểm đến hấp dẫn”, ông Quang nhấn mạnh.

Và những rào cản

Những rào cản trong thu hút đầu tư nước ngoài cũng được các đại biểu tại Diễn đàn chỉ ra. Đặc biệt, “chính sách ưu đãi đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn, thủ tục cấp phép còn chậm, còn có khoảng cách giữa luật pháp, chính sách và thực thi ”, ông Quang cho hay.

Bên cạnh đó, vấn đề giải phóng mặt bằng cũng được ông Quang chỉ ra là một “rào cản” lớn trong thu hút đầu tư nước ngoài đã tồn tại từ rất lâu mà chưa được khắc phục triệt để.

Ông Quang cho hay, nhiều giải pháp như chính sách đầu tư các KCN, KKT để cung cấp đất sạch đã được tập trung triển khai.

Để giải quyết được “rào cản” này, theo ông Quang, việc xác định trách nhiệm với các bên liên quan trong giải phóng mặt bằng là rất quan trọng, đó là phải đảm bảo mối quan hệ cân bằng giữa 3 bên Doanh nghiệp - Nhà nước - Người dân, bởi nếu như chỉ nghiêng vào một bên là sẽ gây những hệ lụy khó lường.

Bổ sung cho đánh giá của ông Quang, TS. Nguyễn Đình Thiên, Viện trưởng Viện nghiên cứu Kinh tế Việt Nam cho hay, để giải quyết vấn đề giải phóng mặt bằng cần nhiều biện pháp khác nhau, nhất là trong khi Luật Đất đai 2003 chưa được sửa đổi mặc dù đã bộc lộ những hạn chế, bất cập.

Còn TS. Nguyễn Đức Thành (VEPR) cho rằng, tình hình kinh tế vĩ mô bất ổn tàn phá môi trường kinh doanh, đầu tư dữ dội nhất. Trong năm 2007-2008, vốn FDI tăng vọt, cộng với vốn thực hiện không đổi chứng tỏ nhà đầu tư rất tin vào Việt Nam.

"Tuy nhiên, đến nay, mặc dù dòng tiền nóng vẫn tiếp tục chảy vào Đông Nam Á, nhưng rất tiếc không chảy vào Việt Nam", TS. Thành cho biết.

Về nguyên nhân giảm sút thu hút đầu tư, ông Thành cho rằng, khủng hoảng tài chính có phải nguyên nhân chính. Khó khăn của nền kinh tế Việt Nam bắt nguồn từ chính nội bộ nền kinh tế.

“Năm 2008 tăng trưởng giảm, trong khi khủng hoảng kinh tế chưa đến nước ta. Đặc biệt, lạm phát bùng nổ từ cuối năm 2007, do chính sách của chúng ta có vấn đề”, TS. Thành dẫn chứng. Theo ông Thành, những chính sách điều hành thời gian qua của chúng ta đang rất rối. Và khi lạm phát tăng, giá nhân công tăng, giá Việt Nam cao do tỷ giá không đổi, khiến Việt Nam mất lợi thế cạnh tranh.

Vì thế, “Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật để giải quyết vấn đề chứ không thể đưa ra những nguyên nhân ngụy biện để che giấu”, TS. Thành nhấn mạnh.

Để lấy lại sức hấp dẫn của Việt Nam

Để tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, ông Đặng Xuân Quang cho rằng, cần thúc đẩy giải ngân; hoàn thiện luật pháp, chính sách (chính sách đất đai, ưu đãi hỗ trợ đầu tư…); thực hiện Chỉ thị 1617/CT-TTg; nâng cao chất lượng công tác xúc tiến đầu tư; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xây dựng hệ thống thông tin đầu tư nước ngoài…

Nhận định rằng, viễn cảnh kinh tế Việt Nam năm nay khó khăn, dự báo năm sau vẫn chưa khó khăn, TS. Thành dự báo, năm 2012 tăng trưởng không cao (dưới 5%).Lạm phát tiếp tục khuynh hướng hạ, góp phần ổn định môi trường vĩ mô.

Tuy nhiên, theo TS. Thành, cơ sở cho sự phục hồi nhanh hay không còn phụ thuộc vào cách thức tái cơ cấu nền kinh tế.

Hiện nay, “các chương trình tái cơ cấu nền kinh tế chủ yếu diễn ra với hệ thống ngân hàng thương mại, nhưng hiện nay động lực cho cải cách đang có khuynh hướng giảm”,TS. Thành cảnh báo.

Đồng tình với quan điểm của TS. Thành, TS. Trần Đình Thiên cho rằng, nếu tái cấu trúc thành công, môi trường kinh doanh sẽ được thay đổi tốt hơn. 

Phương Anh