TÓM TẮT:
Qua các nghiên cứu tổng quan tài liệu trên thế giới và Việt Nam cho thấy, Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) có vai trò then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, vùng miền hiện nay. Phát triển bền vững HTXNN là xu hướng tất yếu, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, cải thiện thu nhập cho thành viên và bảo vệ môi trường. Bài viết nhằm tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững HTXNN trên thế giới, cũng như ở nước ta. Qua đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm thúc đẩy phát triển bền vững HTXNN bao gồm cả căn cứ pháp lý hỗ trợ HTXNN, lựa chọn các mô hình bền vững, nâng cao nhận thức và năng lực của Ban quản trị HTXNN, cũng như các thành viên của HTXNN cho vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ.
Từ khóa: phát triển bền vững, hợp tác xã nông nghiệp, nông nghiệp bền vững, chính sách hợp tác xã nông nghiệp.
1. Đặt vấn đề
Hiện nay, kinh tế tập thể đóng góp 10% GDP của cả nước và đặc biệt có vai trò quan trọng đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo và cải thiện môi trường. Việc phát triển các HTXNN giữ vai trò nòng cốt thúc đẩy sự liên kết các chủ thể quy mô nhỏ trong sản xuất và tiêu thụ nông sản. Bên cạnh đó, thị trường ngày càng yêu cầu nhiều hơn về sản phẩm chất lượng cao, nên việc phát triển các HTXNN hướng đến chuỗi sản phẩm chất lượng rất được quan tâm [1, 5, 6].
Phát triển kinh tế tập thể, mà trọng tâm là HTXNN, là xu thế tất yếu khách quan, có vai trò và đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. an ninh, chính trị của đất nước. Đặc biệt trong bối cảnh mới đặt ra yêu cầu HTXNN phải đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ cao (CNC), chuyển đổi số (CĐS), tăng cường khả năng quản trị, thích ứng với các yếu tố rủi ro tiềm năng để nâng cao hiệu quả kinh tế, phát triển bền vững trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện.
Ở trên thế giới và Việt Nam, khu vực công thông qua công cụ chính sách được coi là bàn tay hữu hình, giúp thúc đẩy và điều tiết các chủ thể của nền kinh tế vận động đúng hướng. Trong khi các nghiên cứu hiện nay còn ít những nội dung tổng quan lý luận và thực tiễn về các giải pháp, chính sách nhằm phát triển bền vững HTXNN, bài viết này được thực hiện với mục tiêu: (i) Tổng quan một số lý luận về phát triển bền vững HTXNN; (ii) Kinh nghiệm quốc tế về phát triển bền vững HTXNN; (iii) Tổng quan thực trạng và một số giải pháp, chính sách phát triển bền vững HTXNN ở Việt Nam; (iv) Từ kinh nghiệm thế giới và Việt Nam, gợi mở một số chính sách thúc đẩy phát triển bền vững HTXNN vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ.
2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tại bàn (desk study): thực hiện việc đánh giá ban đầu nhằm mục tiêu tổng quan tài liệu nghiên cứu. Từ đó, nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin thứ cấp là các văn kiện được ban hành, các công trình nghiên cứu khoa học, tài liệu liên quan tới chủ đề phát triển bền vững HTXNN
Phương pháp phân tích, tổng hợp: từ kinh nghiệm thực tiễn trên thế giới và trong nước, kết hợp rà soát các chính sách liên quan tới việc thúc đẩy phát triển bền vững các HTXNN ở Việt Nam để gợi mở một số bài học phát triển HTXNN vùng trung du và miền núi Bắc Bộ
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Một số vấn đề về phát triển bền vững HTXNN
3.1.1. Những lý luận chung
Mô hình hợp tác xã được hình thành cách đây khoảng 200 năm ở châu Âu, từ đó phát triển ở hầu khắp các nước trên thế giới. Hợp tác xã là thành quả của nền văn minh nhân loại, được khởi nguồn và xuất phát từ mong muốn, ước mơ về một xã hội dân chủ, công bằng, một cuộc sống ấm no và hạnh phúc.
Phát triển bền vững được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 theo báo cáo Brundtlan (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban thế giới về Môi trường và Phát triển - WCED (hay là Ủy ban Brundtland). Theo đó, phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, giữ gìn.
Theo FAO (2012), có thể hiểu, phát triển bền vững HTX gắn liền với khả năng tạo thu nhập ổn định, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên, tăng cường tính tự chủ và khả năng ứng phó với rủi ro của các nông hộ thành viên. Đặc biệt, HTX được nhấn mạnh là một yếu tố then chốt để giải quyết vấn đề an ninh lương thực và dinh dưỡng, giúp nông dân tăng cường khả năng tự lực và chống chịu trước các biến động ảnh hưởng tới an ninh lương thực.
Phát triển bền vững HTXNN đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ sớm trên thế giới, tập trung vai trò và tiềm năng HTXNN. HTXNN là sự phát triển dựa trên sự tham gia của thành viên, nhưng bên cạnh đó, HTXNN cho phép các thành viên có tiếng nói, tham gia vào quá trình ra quyết định và kiểm soát các nguồn lực của chính họ. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy một số tồn tại như việc hoạch định chính sách trong phát triển bền vững HTXNN, công tác quản lý, quản trị còn yếu kém và sự phụ thuộc vào bên ngoài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững HTXNN (Birchall, 2003).
Ở Việt Nam, Theo Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam (2012), có thể thấy HTXNN là một tổ chức có đặc điểm kép. Một mặt, đó là một hiệp hội của những người hợp tác với nhau để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chung. Mặt khác, đó là một doanh nghiệp có giá trị và nguyên tắc riêng, phục vụ các thành viên của mình, đồng thời cân nhắc đến các lợi ích của khách hàng của mình và cộng đồng rộng hơn.
Phát triển bền vững HTXNN bao gồm 3 khía cạnh chính: bền vững về kinh tế, về xã hội và về môi trường. Bền vững về mặt kinh tế tập trung vào việc tối đa hóa thu nhập mà vẫn duy trì các nguồn tài sản tạo ra thu nhập đó. Nó đòi hỏi sự hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên, cũng như tối ưu hóa quá trình phân bổ chúng. Bền vững về mặt xã hội nhấn mạnh đến việc duy trì ổn định của hệ thống văn hóa và xã hội, với mục tiêu thúc đẩy bình đẳng và sự công bằng trong cộng đồng. Bền vững về mặt môi trường là việc bảo vệ sự ổn định của hệ thống sinh thái và vật chất, tập trung vào khả năng phục hồi và sự thích ứng với những thay đổi tự nhiên và con người [6]. Bên cạnh đó, hiện nay để hợp tác xã phát triển bền vững cần có cơ chế quản lý minh bạch, hiệu quả, dân chủ và có sự tham gia của các thành viên và việc liên kết, phát triển trong mô hình kinh tế tuần hoàn có ứng dụng CNC, CĐS nhằm chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và nguồn lực là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
3.1.2. Các mô hình HTXNN bền vững
Theo Nghị quyết số 106/NQ-CP năm 2023, mô hình HTXNN phát triển bền vững, hoạt động hiệu quả, phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực, ngành hàng và vùng, miền, địa phương được xây dựng. Ưu tiên hỗ trợ phát triển mô hình HTXNN kiểu mới, hoạt động hiệu quả, gắn với vùng sản xuất sản phẩm chủ lực, liên kết với doanh nghiệp hình thành chuỗi giá trị quy mô lớn, cung cấp nguyên liệu đầu vào, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp về sản lượng, chất lượng, phục vụ thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Xây dựng mô hình HTXNN gắn với ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong sản xuất kinh doanh và quản lý hợp tác xã, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, bảo đảm minh bạch thông tin và an toàn thực phẩm; hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực sản xuất, phân loại, sơ chế và tổ chức cung cấp dịch vụ logistics của HTXNN.
Các mô hình hợp tác xã (HTX) nông nghiệp bền vững thường tập trung vào việc kết hợp các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường để tạo ra sự phát triển hài hòa và lâu dài. Một số mô hình phổ biến bao gồm: mô hình HTX sản xuất theo hướng hữu cơ, mô hình HTX ứng dụng công nghệ cao, mô hình liên kết chuỗi giá trị, và mô hình HTX gắn với du lịch nông thôn [1, 3, 4,5,6].
3.2. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển bền vững HTX nông nghiệp [3, 11]
ILO & ICA (2015) nêu bật kinh nghiệm Nhật Bản và Hàn Quốc trong việc gắn kết nông dân vào chuỗi giá trị thông qua HTXNN, nhờ hỗ trợ chính sách và vai trò trung gian thị trường. Tất cả các nông sản sản xuất bởi HTXNN Nhật Bản đều đảm bảo một quy chuẩn chất lượng chung (3H - Healthy, High quality, High technology), được gắn cùng một nhãn hàng “JA” và có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Tại Trung Quốc, các HTXNN tự phát hoặc chính phủ hướng dẫn thành lập liên minh đang trong giai đoạn quan trọng từ tăng trưởng số lượng đến nâng cao chất lượng, nhu cầu chung giữa các HTX ngày càng trở nên nổi bật ở các khu vực khác nhau, các lĩnh vực khác nhau, là tiêu chí của hiện đại hóa nông thôn. Hiện nay, Trung Quốc đang tập trung các giải pháp tác động từ nhận thức của chính quyền địa phương, tăng cường truyền thông, giáo dục; tăng cường các giải pháp cải tiến mô hình sản xuất.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Zeng et al. (2019), cho thấy thương mại điện tử nông nghiệp là một hiện tượng mới nổi lên ở các vùng nông thôn Trung Quốc. Thong qua nghiên cứu điển hình tại huyện Thư Dương, tỉnh Giang Tô, đã đưa ra một mô hình tích hợp làm sáng tỏ cơ chế hình thành của các cụm thương mại điện tử nông nghiệp ảnh hưởng tới sự bền vững của HTX ở Trung Quốc.
Kinh nghiệm phát triển HTXNN của Thái Lan cho thấy chính phủ tiếp tục các giải pháp như sửa đổi Luật HTX, tạo điều kiện cho các HTXNN tự chủ, năng động, hỗ trợ thị trường, tín dụng,...
Tại Hàn Quốc, mô hình HTXNN không ngừng hoàn thiện về mô hình tổ chức, hình thức hoạt động, đến nay đã rất hoàn chỉnh mà đứng đầu là Liên minh HTXNN quốc gia (NACF). Cơ chế tổ chức do xã viên bầu. Các chính sách hỗ trợ được thông qua NACF, tập trung vào hoạt động chế biến, tín dụng, dịch vụ cung ứng, bảo hiểm,…
3.3. Thực trạng phát triển bền vững HTXNN Việt Nam và chính sách hỗ trợ của Nhà nước
Theo Cục Kinh tế Hợp tác (2024), HTXNN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số HTX ở Việt Nam. Tính đến ngày 31/12/2023, cả nước có khoảng 20.789 HTXNN (tăng 1.357 HTX so với cùng thời điểm năm 2022) và chiếm khoảng 67,8 % tổng số HTX cả nước. Trong đó, 1769 HTXNN thành lập mới và 412 HTXNN đã giải thể, ngừng hoạt động. Cơ cấu HTXNN phân theo vùng kinh tế được thể hiện tại Biểu đồ 1.
Biểu đồ 1: Cơ cấu HTXNN theo vùng kinh tế cả nước năm 2023
![]()
Nguồn: Cục Kinh tế Hợp tác, 2023
Trong những năm qua, mặc dù các HTXNN có xu hướng tăng lên nhưng số lượng thành viên của các HTXNN lại có xu hướng giảm đi. Tuy nhiên, từ năm 2020 trở lại đây, số lượng HTXNN có xu hướng tăng chậm hơn so với trước nhưng số lượng thành viên HTXNN lại tăng lên khá mạnh. Điều này cho thấy các địa phương đã không chú trọng nhiều đến việc tăng số lượng HTX, đi sâu vào tăng quy mô thành viên và nâng cao hiệu quả của các HTXNN. Thực trạng một số mô hình HTXNN điển hình là:
Thực trạng HTXNN là chủ thể OCOP
Năm 2022, cả nước có khoảng 1.200 HTXNN là chủ thể OCOP, chiếm 38% tổng số chủ thể OCOP cả nước, sở hữu 40% số sản phẩm OCOP cả nước. Đến năm 2023, theo Cục Kinh tế Hợp tác (2024), cả nước có 11.056 sản phẩm OCOP đạt 3 sao trở lên (tăng 2.189 sản phẩm so với năm 2022); với 5.724 chủ thể tham gia Chương trình OCOP, trong đó HTXNN là chủ thể OCOP chiếm 37,9% tổng số chủ thể OCOP cả nước. Phần còn lại có 24% là doanh nghiệp, 35,3% là cơ sở sản xuất/hộ kinh doanh, còn lại là tổ hợp tác. Theo số liệu năm 2022 và theo địa giới hành chính mới (từ tháng 7/2025), những tỉnh có tỉ lệ HTXNN là chủ thể sản phẩm OCOP lớn cả nước thể hiện Bảng 1.
Bảng 1. Những tỉnh tỉ lệ HTXNN là chủ thể sản phẩm OCOP lớn cả nước năm 2022

Nguồn: Cục Kinh tế Hợp tác, 2023
Thực trạng HTXNN tham gia hoạt động du lịch nông nghiệp nông thôn
Du lịch nông nghiệp, nông thôn là một loại hình dịch vụ rất có tiềm năng phát triển đối với các HTXNN. Theo thống kê sơ bộ của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, năm 2023, cả nước có khoảng trên 1000 HTXNN làm dịch vụ du lịch nông nghiệp, nông thôn. Đây là một xu hướng mới giúp ngành nông nghiệp phát triển theo hướng tích hợp đa giá trị, góp phần chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp ở khu vực nông thôn, xây dựng nông thôn trở thành miền quê đáng sống.
Thực trạng HTXNN áp dụng tiêu chuẩn GAP
Hiện nay cả nước có khoảng 11,25% HTXNN đang áp dụng các tiêu chuẩn GAP vào trong sản xuất, mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho thành viên. Việc sản xuất theo tiêu chuẩn GAP cũng tạo thuận lợi cho HTXNN liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản với doanh nghiệp hoặc tạo thuận lợi cho HTX tham gia phân phối trực tiếp sản phẩm. Người nông dân có ý thức hơn trong việc bảo vệ sức khỏe, môi trường như không xả thải thuốc dư thừa, chai lọ đựng thuốc sau sử dụng ra môi trường.
Thực trạng HTXNN ứng dụng công nghệ cao
Năm 2022, cả nước có 1.931 HTX ứng dụng công nghệ cao chiếm 9,86% tổng số HTXNN. Đến hết năm 2023 số HTXNN ứng dụng CNC là 2.500 chiếm đến 12% số HTXNN cả nước.
Bảng 2. Số HTXNN ứng dụng CNC theo các vùng cả nước năm 2022

Nguồn: Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, 2023
Thực trạng HTXNN tham gia hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ
Liên kết chuỗi giá trị (CGT) nông sản là một giải pháp quan trọng trong chiến lược cơ cấu lại nông nghiệp Việt Nam. Liên kết CGT nhằm khắc phục vấn đề được mùa mất giá, tổ chức sản xuất theo yêu cầu của thị trường, ổn định thị trường nông sản và lợi nhuận cho hộ nông dân. Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ cho liên kết CGT trong ngành nông lâm thủy sản, trong đó có HTXNN.
Biểu đồ 2: Tỉ lệ HTXNN bao tiêu sản phẩm cho thành viên các năm
Nguồn: Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, 2023
Bảng 3. Tình hình tham gia chuỗi liên kết của HTXNN theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP năm 2022
|
TT |
Chỉ tiêu |
ĐVT |
Số lượng |
|
1 |
Chuỗi liên kết |
Chuỗi |
2038 |
|
2 |
HTX tham gia |
HTX |
1250 |
|
3 |
HTX là chủ trì liên kết |
% |
67 |
Nguồn: Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, 2023
Đối với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước về phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được quy định tại Nghị quyết số 20-NQ/TW về phát triển kinh tế tập thể.
Chính sách phát triển nguồn nhân lực
Nghị quyết nhấn mạnh đưa nội dung đào tạo về kinh tế tập thể vào chương trình của một số trường đại học, giảng dạy chính thức trong chương trình đào tạo lý luận chính trị, chương trình bồi dưỡng quản lý nhà nước cho cán bộ, đảng viên. Chuẩn hóa các chức danh quản lý trong tổ chức kinh tế tập thể (giám đốc, kế toán, kiểm soát). Khuyến khích thu hút cán bộ quản lý và khoa học về công tác tại các tổ chức kinh tế tập thể, nhà nước hỗ trợ trả lương cho cán bộ quản lý và khoa học được nhận về công tác tại các tổ chức kinh tế tập thể.
Chính sách đất đai
Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích các tổ chức kinh tế tập thể tích tụ đất đai cho sản xuất kinh doanh, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp để hình thành chuỗi sản xuất, cung cấp dịch vụ chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp quy mô lớn. Hoàn thiện lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp, trong đó bố trí quỹ đất cho các tổ chức kinh tế tập thể thuê. Ưu đãi hợp lý về giá và thời gian cho thuê đất đối với các tổ chức kinh tế tập thể chuyển đổi và thành lập mới chưa được hỗ trợ thuê đất, bảo đảm sử dụng đất đai có hiệu quả.
Chính sách tài chính
Nghiên cứu, rà soát, hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với tổ chức kinh tế tập thể. Hỗ trợ phí kiểm toán, bảo hiểm nông nghiệp đối với các tổ chức kinh tế tập thể.
Chính sách tín dụng
Các tổ chức kinh tế tập thể được vay vốn như các tổ chức kinh tế khác; được hỗ trợ để phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm bền vững, nâng cao năng lực tài chính, quản trị điều hành, các tiêu chuẩn, điều kiện cấp tín dụng, tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng đối với các dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Nâng cao và phát huy vai trò của Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã trong việc hỗ trợ các tổ chức kinh tế tập thể vay vốn với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư và bảo lãnh tín dụng đầu tư, bảo đảm công khai, minh bạch, không để thất thoát. Hướng dẫn thực hiện hoạt động tín dụng nội bộ tại các tổ chức kinh tế tập thể có đủ điều kiện.
Thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động và thành viên của các tổ chức kinh tế tập thể làm việc theo hợp đồng, hưởng tiền lương, tiền công theo quy định của pháp luật; các thành viên khác không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì tạo điều kiện để tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Chính sách khoa học - công nghệ
Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho việc cung cấp dịch vụ tư vấn về quản lý và khoa học - công nghệ cho các tổ chức kinh tế tập thể trên cơ sở nhu cầu và theo hợp đồng được ký kết với cơ sở cung cấp dịch vụ tư vấn. Hỗ trợ đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, hướng dẫn các tổ chức kinh tế tập thể có dự án ứng dụng, nâng cao trình độ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo được vay vốn trung và dài hạn từ Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và của các bộ, ngành, địa phương.
Chính sách hỗ trợ về thông tin kinh tế, kỹ năng tiếp thị và nghiên cứu thị trường
Hỗ trợ các tổ chức kinh tế tập thể tiếp cận, nghiên cứu, khảo sát thị trường; xây dựng, đăng ký thương hiệu; đăng ký sản phẩm thương mại; tham gia hội chợ, triển lãm ở trong và ngoài nước.
Chính sách đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
Tổ chức kinh tế tập thể được hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích chung của cộng đồng thành viên hoặc là nơi tiếp nhận/triển khai các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng của Nhà nước vì mục tiêu phát triển cộng đồng. Xây dựng kết cấu hạ tầng xúc tiến thương mại, đầu tư; xây dựng và ứng dụng thương mại điện tử, sàn giao dịch. Hỗ trợ của Nhà nước là tài sản chung không chia khi thành viên ra khỏi tổ chức kinh tế tập thể hoặc tổ chức kinh tế tập thể giải thể, phá sản.
Chính sách bảo hiểm xã hội
Thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động và thành viên của các tổ chức kinh tế tập thể làm việc theo hợp đồng, hưởng tiền lương, tiền công theo quy định của pháp luật; các thành viên khác không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì tạo điều kiện để tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
3.4. Gợi ý giải pháp phát triển bền vững HTXNN ở Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ
Từ cơ sở lý luận và kinh nghiệm phát triển HTXNN trên thế giới và trong nước, để thúc đẩy sự phát triển bền vững của các HTXNN, Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ đồng bộ, tập trung vào các yếu tố then chốt và tạo môi trường pháp lý thuận lợi, cụ thể:
Hỗ trợ CĐS và ứng dụng CNC: khuyến khích và hỗ trợ các HTXNN áp dụng CNS< CĐS vào quản lý, sản xuất và kinh doanh, bao gồm phần mềm quản lý, hệ thống truy xuất nguồn gốc và kết nối với các sàn thương mại điện tử.
Đào tạo: tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn về ứng dụng CNC, CĐS cho cán bộ quản lý và thành viên HTXNN.
Liên kết chuỗi giá trị: hỗ trợ kết nối nhằm tạo điều kiện để HTXNN kết nối với các doanh nghiệp, các tổ chức và các thị trường tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó đầu tư nhằm hỗ trợ HTXNN đầu tư vào cơ sở hạ tầng, thiết bị, và công nghệ để nâng cao năng lực sản xuất, chế biến và bảo quản sản phẩm.
Hoàn thiện pháp lý: trên cơ cở cải cách thủ tục để đơn giản hóa thủ tục hành chính, loại bỏ các rào cản, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã tiếp cận các nguồn lực. Đồng thời xây dựng chính sách hỗ trợ nhằm ban hành các chính sách hỗ trợ phù hợp với từng loại hình hợp tác xã và từng giai đoạn phát triển.
Nâng cao năng lực: bằng việc đào tạo cán bộ để tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn. Đồng thời hỗ trợ tư vấn nhằm cung cấp dịch vụ tư vấn về sản xuất, kinh doanh, pháp lý, và tài chính cho hợp tác xã.
Tăng cường vai trò của các tổ chức: phối hợp nhằm đẩy mạnh sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc hỗ trợ phát triển HTXNN. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò, ý nghĩa của hợp tác xã trong phát triển kinh tế nông nghiệp.
4. Kết luận
Phát triển bền vững các HTX nông nghiệp đã được nhiều quốc gia quan tâm trong đó có Việt Nam. Hiện nay, thực tiễn phát triển bền vững HTX nông nghiệp ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế trong ban hành văn bản chính sách, quy hoạch, tín dụng, đất đai, chuyển giao CN và nhân lực. Một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển bền HTX nông nghiệp bao gồm cụ thể hóa căn cứ pháp lý giúp xác định mô hình HTX nông nghiệp bền vững; đẩy nhanh tiến độ lập và phê duyệt đề án nông nghiệp bền tại các địa phương; linh hoạt các hình thức thế chấp khi vay vốn; nới lỏng hạn điền; nâng cao nhận thức người SX và người tiêu dùng về vai trò của việc sản xuất nông nghiệp bền vững, chú ý nâng cao năng lực cho Ban quản trị HTX cũng như bồi dưỡng kỹ năng nghề cho lao động nông nghiệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2023). Toàn cảnh hợp tác xã nông nghiệp Việt Nam 2022, hướng tới nền nông nghiệp hiện đại, tuần hoàn, phát thải thấp.
Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2024). Toàn cảnh hợp tác xã nông nghiệp Việt Nam 2023, hướng tới chuyển đổi nông nghiệp xanh, phát thải thấp ở Việt Nam.
Đào Anh Xuân, Trần Hữu Tuấn (2023). Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Kinh tế và Phát triển, tập 132, số 5A.
Lê Thị Thanh Loan, Phạm Bảo Dương, Nguyễn Thị Thiêm (2021). Thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao cho các hợp tác xã nông nghiệp: Lý luận và thực tiễn. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.
Vũ Mạnh Hùng (2022). Hợp tác xã nông nghiệp ở một số nước trên thế giới. Tạp chí Cộng sản - Chuyên đề Phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh, số 04 - 2022, 186-196.
Vũ Trọng Bình (2013). Phát triển nông nghiệp bền vững - Lý luận và thực tiễn, Tạp chí Kinh tế và Phát triển.
Harm-Jan Steenhuis, Erik J. de Bruijn (2008). High technology revisited: definition and position (Tổng quan công nghệ cao: Định nghĩa và vị trí); Conference of Aotearoa New Zealand international development studies (Devnet), Lyne M, Martin SK; Wellington.
Johnston Birchall (2003). Rediscovering the cooperative advantage: Poverty reduction through self-help. International Labour Organization 2003, ISBN 92-2-113603-5.
Liao W., Zeng F., Chanieabate M. (2022). Mechanization of small-scale agriculture in China: Lessions for enhancing smallhoder access to agricultural machinery. Sustainability, 2022.
Lin Xie, Biliang Luo and Wenjing Zhong (2021). How Are Smallholder Farmers Involved in Digital Agriculture in Developing Countries: A Case Study from China. Land 2021, 10, 245.
Trienekens, J. H. (2011). Agricultural value chains in developing countries a framework for analysis; International Food and Agribusiness Management Review, 14, 51-82.
Sustainable development of agricultural cooperatives: Theoretical foundations and practical evidence
Tran Van Doai1
Chu Thi Thu2
Nguyen Ngoc Son3
Nguyen Thien Dung3
1 Ministry of Ethnic and Religious Affairs
2 Vietnam National University of Forestry
3 Thuyloi University
ABSTRACT:
Based on a comprehensive review of international and Vietnamese literature, this paper demonstrates that agricultural cooperatives currently play a pivotal role in national and regional socio-economic development strategies. The sustainable development of agricultural cooperatives has become an inevitable trend, contributing to enhanced production efficiency, improved member incomes, strengthened value-chain linkages, and environmental protection. The study aims to synthesize the theoretical foundations and practical experiences related to the sustainable development of agricultural cooperatives worldwide and in Vietnam. Drawing on this analysis, the study identifies key lessons for promoting cooperative sustainability, including the establishment of supportive legal and institutional frameworks, the selection and replication of appropriate sustainable cooperative models, and the enhancement of awareness, governance capacity, and managerial skills among cooperative boards and members. Particular emphasis is placed on policy implications for agricultural cooperatives in Vietnam’s northern midland and mountainous regions, where sustainable cooperative development is essential for inclusive growth and rural transformation.
Keywords: sustainable development, agricultural cooperative, sustainable agriculture, agricultural cooperative policy.
