Phát triển bền vững ngành sữa Việt Nam: Từ tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi giá trị đến hiện thực hóa mục tiêu chiến lược
Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị phổ biến Chiến lược phát triển ngành sữa Việt Nam giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Chiến lược phát triển ngành sữa Việt Nam giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được ban hành theo Quyết định số 309/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và cụ thể hóa tại Kế hoạch số 2188/KH-BCT của Bộ Công Thương. Đây được xem là bước ngoặt mang tính căn cơ nhằm định hình đường ray phát triển dài hạn cho một ngành công nghiệp có vai trò thiết yếu đối với sức khỏe cộng đồng và sự tăng trưởng chung của nền kinh tế. 

Tuy nhiên, để cụ thể hóa các mục tiêu chiến lược này, bài toán đặt ra cho ngành sữa không chỉ dừng lại ở việc mở rộng quy mô hay gia tăng tổng sản lượng đơn thuần, mà tập trung vào việc tháo gỡ các điểm nghẽn về nguồn nguyên liệu nội địa, chi phí sản xuất, hạ tầng logistics, mức độ liên kết chuỗi giá trị và năng lực đổi mới công nghệ. Do đó, việc tổ chức thực thi chiến lược đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ và quyết liệt giữa các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, Hiệp hội Sữa Việt Nam cùng cộng đồng doanh nghiệp nhằm sớm chuyển hóa các định hướng chính sách thành động lực phát triển thực tế.

Tăng cường tính tự chủ nguồn nguyên liệu và tối ưu hóa chi phí sản xuất

Tại Hội nghị phổ biến Chiến lược phát triển ngành sữa Việt Nam giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 do Bộ Công Thương tổ chức ngày 8/10 vừa qua, đại diện các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp cùng thống nhất nhận định, nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp chế biến sữa nằm ở khả năng tự chủ nguồn sữa tươi nguyên liệu trong nước.

Chiến lược phát triển ngành sữa Việt Nam đặt ra các chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể: nâng lượng sữa tươi nguyên liệu nội địa lên 2.600 triệu lít vào năm 2030 và đạt 8.000 triệu lít vào năm 2045. Tương ứng, tỷ lệ tự chủ nguyên liệu trong nước phục vụ chế biến cần được nâng từ mức 60-65% vào năm 2030 lên 80-85% vào năm 2045. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, việc gia tăng quy mô đàn bò sữa và cải thiện năng suất chăn nuôi được xác định là giải pháp mang tính quyết định.

Phát triển bền vững ngành sữa Việt Nam: Từ tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi giá trị đến hiện thực hóa mục tiêu chiến lược
Thứ trưởng Trương Thanh Hoài chủ trì Hội nghị phổ biến Chiến lược phát triển ngành sữa Việt Nam giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Dù vậy, khi bước vào giai đoạn tăng tốc mở rộng quy mô, rào cản lớn nhất đối với các doanh nghiệp chăn nuôi tập trung hiện nay lại nằm ở quỹ đất dành cho hạ tầng trang trại và vùng nguyên liệu trồng thức ăn thô xanh. Thực tế sản xuất từ các đơn vị lớn cho thấy nhu cầu mở rộng diện tích đang trở nên vô cùng cấp thiết. Điển hình như Tập đoàn TH, đơn vị hiện sở hữu đàn bò sữa 80.000 con và đang có kế hoạch nâng quy mô lên 150.000 con. Do đặc thù chăn nuôi quy mô lớn đòi hỏi diện tích đất rất rộng để trồng cỏ và cây thức ăn, doanh nghiệp đề xuất cơ quan quản lý xem xét cơ chế cho phép chuyển đổi các diện tích đất nông nghiệp hiệu quả thấp sang trồng cỏ phục vụ chăn nuôi.

Cùng chung mục tiêu mở rộng trang trại, Công ty Cổ phần Sữa Quốc tế LOF kiến nghị Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Bộ Tài chính hỗ trợ quỹ đất ưu đãi và hoàn thiện nhanh chóng các thủ tục pháp lý tại Cụm công nghiệp Suối Hai, khu vực lân cận nhà máy Ba Vì.

Phát triển bền vững ngành sữa Việt Nam: Từ tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi giá trị đến hiện thực hóa mục tiêu chiến lược
Ông Nguyễn Văn Hội - Viện trưởng Viện Nghiên cứu, Chiến lược, Chính sách Công Thương trình bày tóm tắt Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Không chỉ các tập đoàn lớn phát triển theo mô hình trang trại tập trung gặp vướng mắc về quỹ đất, khu vực chăn nuôi nông hộ và hợp tác xã vốn gắn kết chặt chẽ với các doanh nghiệp bao tiêu cũng đang đứng trước những thách thức lớn về chi phí và áp lực từ quy hoạch địa phương.

Điển hình như tại Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu, đơn vị có truyền thống gắn bó lâu đời với mô hình giao khoán và bao tiêu sản phẩm cho bà con nông dân, thực trạng phát triển du lịch tại địa phương đang trực tiếp làm thu hẹp diện tích vùng nguyên liệu. Việc diện tích thu hẹp cộng với cam kết bao tiêu sản phẩm cho nông dân khiến chi phí đầu vào của doanh nghiệp gia tăng nhưng doanh nghiệp không thể điều chỉnh tăng giá bán đột ngột ra thị trường.

Thực tế này đòi hỏi cơ quan quản lý cần sớm có quy hoạch vùng nguyên liệu cụ thể để bảo vệ tính bền vững của chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ.

Phát triển bền vững ngành sữa Việt Nam: Từ tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi giá trị đến hiện thực hóa mục tiêu chiến lược
Ông Tống Xuân Chinh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Sữa Việt Nam cho rằng nâng tỷ lệ sữa tươi nguyên liệu trong nước lên khoảng 60% trở lên vào năm 2030 là mục tiêu cần thiết

Những áp lực đan xen về quy hoạch không gian cùng sự gia tăng chi phí đầu vào này đang đặt ra bài toán về sức cạnh tranh của giá thành sữa tươi Việt Nam trên bản đồ quốc tế. Chia sẻ tại hội nghị, đại diện Hiệp hội Sữa Việt Nam đưa ra số liệu so sánh, giá thành sản xuất 1kg sữa tươi nguyên liệu tại New Zealand hiện dao động khoảng 31-33 cent USD/kg, trong khi các tập đoàn sở hữu chuỗi khép kín tại Việt Nam như Vinamilk hay TH True Milk đạt mức giá thành khoảng 30-32 cent USD/kg. Sự tương quan này cho thấy các doanh nghiệp lớn nhờ lợi thế quy mô công nghiệp đã kiểm soát tốt chi phí và giữ được sức cạnh tranh. 

Ngược lại, khu vực nông hộ và hợp tác xã nếu thiếu chính sách hỗ trợ của Nhà nước về con giống, diện tích trồng cỏ và công nghệ chế biến thức ăn sẽ rất khó tồn tại. Do đó, việc bố trí nguồn lực tài chính cụ thể để hỗ trợ khu vực chăn nuôi nhỏ lẻ là điều kiện quan trọng để đạt mục tiêu tự chủ trên 60% nguyên liệu vào năm 2030.

Phát triển bền vững ngành sữa Việt Nam: Từ tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi giá trị đến hiện thực hóa mục tiêu chiến lược
Phát triển bền vững ngành sữa Việt Nam: Từ tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi giá trị đến hiện thực hóa mục tiêu chiến lược
Phát triển bền vững ngành sữa Việt Nam: Từ tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi giá trị đến hiện thực hóa mục tiêu chiến lược
Đại diện các doanh nghiệp chia sẻ tại hội nghị

Song song với nỗ lực tháo gỡ các nút thắt về quỹ đất trong nước, giải pháp mở rộng vùng nguyên liệu sang các quốc gia lân cận đang được xem là một hướng đi chiến lược nhằm bảo đảm an ninh nguyên liệu dài hạn. Các định hướng chiến lược khuyến khích doanh nghiệp mở rộng quy mô, đàn bò và năng lực chế biến thông qua việc đầu tư sang các nước có tiềm năng như Lào hay Campuchia. Đặc biệt, Hiệp định Thương mại biên giới giữa Việt Nam và Lào ký kết năm 2015 tạo ra khung khổ pháp lý đặc thù, cho phép các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sản xuất kinh doanh tại các vùng, xã biên giới của Lào được mang sản phẩm về nước với ưu đãi miễn thuế, miễn kiểm tra, kiểm nghiệm và kiểm dịch. Ngoài ra, việc các doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh trang trại tại nước ngoài như TH đầu tư tại Nga hay Vinamilk đầu tư tại Lào, Úc và Hoa Kỳ cũng đòi hỏi các cơ quan quản lý tiếp tục đơn giản hóa thủ tục kiểm dịch và tạo hành lang thuế quan thuận lợi để thu hút nguồn sữa tươi chất lượng cao về phục vụ chế biến nội địa.

Chuẩn hóa quy chuẩn kỹ thuật và làm sạch môi trường kinh doanh

Nâng cao sức cạnh tranh của ngành sữa không thể tách rời việc thiết lập trật tự thị trường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Bởi thị trường nội địa đóng vai trò là đầu ra trực tiếp và là động lực quan trọng để doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ. Dù vậy, trên thực tế, tình trạng vi phạm thương mại trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh sữa vẫn diễn biến phức tạp.

Phát triển bền vững ngành sữa Việt Nam: Từ tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi giá trị đến hiện thực hóa mục tiêu chiến lược
Ông Nguyễn Thanh Bình - Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước nhấn mạnh, thời gian tới, lực lượng Quản lý thị trường sẽ tiếp tục theo dõi cung cầu, phân phối, tiêu dùng, giá cả, nhập khẩu và hoạt động kinh doanh trên thương mại điện tử; đồng thời tăng cường kiểm tra, xử lý hàng giả, hàng nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc và hàng không bảo đảm chất lượng

Theo số liệu từ Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), tính từ năm 2025 đến ngày 11/10/2026, lực lượng Quản lý thị trường trên toàn quốc đã tiến hành kiểm tra gần 200 vụ việc liên quan đến nhóm hàng sữa, xử phạt vi phạm hành chính khoảng 1.834 tỷ đồng, đồng thời tịch thu và tiêu hủy lượng lớn tang vật vi phạm. Qua kiểm tra cho thấy, các hành vi vi phạm chủ yếu tập trung vào việc kinh doanh hàng nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, vi phạm quy định về nhãn mác, hạn sử dụng, niêm yết giá và đặc biệt là các hình thức gian lận thương mại phát sinh trên các nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội và hoạt động livestream.

Trước thực trạng thông tin sản phẩm chưa rõ ràng như hiện nay, các doanh nghiệp đề nghị cơ quan quản lý nhà nước sớm ban hành quy định rõ ràng nhằm phân biệt minh bạch giữa các khái niệm "sữa", "thực phẩm bổ sung" và "thực phẩm chức năng". Điều này xuất phát từ thực tế là việc quảng cáo thổi phồng công dụng không chỉ gây thiệt hại về kinh tế, sức khỏe cho người tiêu dùng mà còn làm suy giảm uy tín của các nhà sản xuất tuân thủ đúng quy định.

Phát triển bền vững ngành sữa Việt Nam: Từ tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi giá trị đến hiện thực hóa mục tiêu chiến lược
Thứ trưởng Trương Thanh Hoài yêu cầu siết chặt kiểm soát đối với các sản phẩm sữa bổ sung vi chất và các dòng sản phẩm được quảng cáo có tính năng riêng biệt

Đứng trước yêu cầu cấp thiết đó, trong chỉ đạo về công tác quản lý chất lượng, Thứ trưởng Trương Thanh Hoài yêu cầu siết chặt kiểm soát đối với các sản phẩm sữa bổ sung vi chất và các dòng sản phẩm được quảng cáo có tính năng riêng biệt. Cụ thể, hiện nay nhiều sản phẩm trên thị trường công bố giúp trẻ phát triển trí não hay tăng chiều cao nhanh chóng nhưng chưa được trải qua quá trình thử nghiệm lâm sàng. 

Về nguyên tắc quản lý, Thứ trưởng chỉ rõ, nếu sản phẩm chỉ chứa thành phần canxi thì doanh nghiệp chỉ được phép ghi rõ có chứa canxi, tuyệt đối không được quảng cáo có tác dụng tăng chiều cao khi chưa qua thử nghiệm lâm sàng và chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Song song với đó, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cũng được giao nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị chức năng mở chiến dịch kiểm tra, nhằm làm sạch các hoạt động quảng cáo sữa trên thị trường.

Hiện nay, công cụ quản lý chất lượng cũng đang được nâng cấp thông qua việc Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số hoàn thiện Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sữa dạng lỏng. Quy chuẩn mới này vẫn giữ nguyên tính nhất quán về chỉ tiêu kỹ thuật, nhóm sản phẩm và phương pháp quản lý nhằm tạo hành lang pháp lý minh bạch. Dự kiến, quy chuẩn quản lý chất lượng sữa mới sẽ được ban hành ngay trong tháng 10/2026, hướng tới tiệm cận với các tiêu chuẩn khắt khe của khu vực và quốc tế.

Ở góc độ kiểm định chất lượng, đại diện Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia (Bộ Y tế) nhận định, năng lực công nghệ của ngành sữa Việt Nam đang phát triển nhanh chóng và tiệm cận với trình độ thế giới. Trên cơ sở đó, đơn vị kiểm nghiệm cam kết sẽ phối hợp chặt chẽ trong công tác giám sát an toàn thực phẩm, phân tích vi chất và kiểm soát chất lượng sữa lưu thông trên thị trường.

Hoàn thiện thể chế pháp lý và đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng

Sự phát triển bền vững của ngành sữa đòi hỏi một khung khổ pháp lý vừa tạo điều kiện khuyến khích đầu tư, vừa ngăn ngừa các hành vi độc quyền hay lạm dụng vị trí thị trường. Để đạt được mục tiêu đó, đại diện Vụ Pháp chế (Bộ Công Thương) định hướng công tác hoàn thiện thể chế pháp luật phải đi trước một bước, với trọng tâm tập trung vào 4 nội dung.

Một là, rà soát và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến toàn bộ chuỗi giá trị ngành sữa, đảm bảo tính đồng bộ, khả thi và tương thích với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Hai là, tạo hành lang pháp lý thuận lợi thúc đẩy liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến, vừa khuyến khích dòng vốn đầu tư vừa bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sản xuất và người tiêu dùng.

Ba là, hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy định quản lý chất lượng, ghi nhãn và truy xuất nguồn gốc dựa trên nguyên tắc quản lý rủi ro; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số như mã định danh và công nghệ chuỗi khối (blockchain).

Bốn là, đồng hành cùng doanh nghiệp trong đổi mới sáng tạo và hội nhập kinh tế; thực hiện đánh giá kỹ lưỡng chi phí tuân thủ thủ tục hành chính và tham vấn rộng rãi ý kiến của các hiệp hội, cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách.

Phát triển bền vững ngành sữa Việt Nam: Từ tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi giá trị đến hiện thực hóa mục tiêu chiến lược
Bà Bùi Thị Bình Giang - Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế nhấn mạnh, công tác hoàn thiện thể chế pháp luật phải đi trước một bước

Song song với việc hoàn thiện thể chế, công tác thi hành Luật Cạnh tranh cũng cần được triển khai nghiêm ngặt. Theo đó, đại diện Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia lưu ý các chính sách ưu đãi phát triển doanh nghiệp lớn và thương hiệu quốc gia phải dựa trên tiêu chí công khai, minh bạch, tuyệt đối không tạo ra sự phân biệt đối xử hoặc ngăn cản các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường. Bên cạnh đó, các mô hình liên kết chuỗi và hoạt động của hiệp hội ngành hàng phải bảo đảm không bị biến tướng thành công cụ để thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, thống nhất giá hay chia sẻ thị phần.

Thực tế triển khai cho thấy, chỉ tính riêng trong 9 tháng đầu năm 2026, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đã xác minh dấu hiệu vi phạm đối với 9 doanh nghiệp kinh doanh sữa, tiến hành điều tra chính thức 4 doanh nghiệp, ban hành quyết định xử lý 1 doanh nghiệp và đang tiếp tục điều tra 3 doanh nghiệp còn lại. Qua công tác kiểm tra, lực lượng chức năng nhận diện các hành vi vi phạm chủ yếu là lôi kéo khách hàng bất chính, cung cấp thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn về tính năng của sản phẩm.

Đáng chú ý, trong bối cảnh lực lượng điều tra còn mỏng, việc phối hợp cung cấp thông tin giữa các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp được xem là giải pháp kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm.

Phát triển bền vững ngành sữa Việt Nam: Từ tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi giá trị đến hiện thực hóa mục tiêu chiến lược

Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Phó Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia khuyến nghị, việc triển khai chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và thương hiệu cần xây dựng tiêu chí công khai, minh bạch, khách quan, tránh tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp có cùng điều kiện

Liên quan trực tiếp đến đời sống xã hội, đặc biệt là chính sách Sữa học đường và bữa ăn học đường, các cơ quan chuyên môn đều thống nhất quan điểm, việc ưu tiên sử dụng sữa tươi nguyên liệu sản xuất trong nước và hỗ trợ giá sữa cho trẻ em tại vùng sâu, vùng xa, vùng có hoàn cảnh khó khăn là chính sách mang ý nghĩa nhân văn và kinh tế lớn.

Tuy nhiên, để chính sách này phát huy tối đa hiệu quả, quy trình lựa chọn nhà cung cấp và tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm phải được thực hiện công khai, minh bạch, bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng và không tạo ra các rào cản kỹ thuật trá hình. Thực tiễn từ các nước trong khu vực như Thái Lan và Trung Quốc cũng đã khẳng định việc kết nối chương trình Sữa học đường với nguồn sữa tươi nội địa chính là đòn bẩy hiệu quả nhất để kích cầu tiêu dùng và nâng cao thể trạng thế hệ trẻ.

Bứt phá xuất khẩu nhờ FTA, chuyển đổi số và xanh hóa chuỗi sản xuất

Bên cạnh việc củng cố thị trường nội địa, Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng đặt mục tiêu đưa thương hiệu sữa Việt Nam vươn mạnh ra thị trường quốc tế. 

Phát triển bền vững ngành sữa Việt Nam: Từ tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi giá trị đến hiện thực hóa mục tiêu chiến lược
Ông Nguyễn Quốc Lân - Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại báo cáo một số thông tin tổng quan về thị trường

Số liệu thương mại từ Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương) cho thấy, trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu sữa của Việt Nam đạt 919 triệu USD (tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước). Ở chiều ngược lại, kim ngạch xuất khẩu đạt 291 triệu USD (tăng trưởng ấn tượng 31,2% so với cùng kỳ), trong đó Iraq và Campuchia là hai thị trường tiêu thụ chính.

Dựa trên đà phát triển này, doanh thu toàn thị trường sữa được dự báo sẽ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng từ 8-10%/năm trong thời gian tới. Dù vậy, ngành sữa vẫn phải đối mặt với áp lực tăng giá thành do biến động chi phí nguyên liệu trên thị trường thế giới, biến động tỷ giá và chi phí logistics.

Đánh giá sâu hơn về động lực xuất khẩu, đại diện Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) cho biết xuất khẩu sữa và các sản phẩm từ sữa đang ghi nhận tốc độ tăng trưởng đứng đầu trong nhóm hàng nông, lâm, thủy sản.

Để duy trì lợi thế này, việc thực hiện mục tiêu nâng sản lượng sữa tươi nguyên liệu nội địa lên 2.600 triệu lít vào năm 2030 và 8.000 triệu lít vào năm 2045, tương ứng nâng tỷ lệ tự chủ nguyên liệu lên 60-65% năm 2030 và 80-85% năm 2045 được xem là chìa khóa để sản phẩm sữa Việt Nam đáp ứng quy tắc xuất xứ thuần túy trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, từ đó tận dụng hiệu quả các ưu đãi thuế quan.

Cùng với mục tiêu gia tăng tỷ lệ tự chủ nguyên liệu, để hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu, Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên cam kết đẩy mạnh công tác dự báo các rào cản kỹ thuật, tích cực đàm phán mở cửa thị trường và chỉ đạo hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài kết nối trực tiếp với các kênh phân phối bản địa. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp nhập khẩu con giống thuần, máy móc, thiết bị và công nghệ chế biến hiện đại từ các quốc gia có nền nông nghiệp phát triển như New Zealand, Úc, Châu Âu và Hoa Kỳ.

Phát triển bền vững ngành sữa Việt Nam: Từ tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi giá trị đến hiện thực hóa mục tiêu chiến lược
Phát triển ngành sữa cần được nhìn nhận đồng bộ từ đàn bò, năng suất chăn nuôi, nguồn nguyên liệu trong nước đến chế biến, thị trường và mối liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi

Song song với hoạt động thương mại, chuyển đổi số và công nghệ xanh đang được xác định là hai trụ cột quan trọng cho quá trình hiện đại hóa toàn ngành. Cụ thể hóa định hướng này, đại diện Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số cho biết Cục đang triển khai 4 nhóm nhiệm vụ nhằm đồng hành cùng doanh nghiệp.

Thứ nhất, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi mô hình quản trị, ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm nâng cao năng suất, quy mô và chất lượng sản phẩm.

Thứ hai, khuyến khích ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học, máy móc thiết bị, phụ gia, công nghệ bảo quản và chế biến tiên tiến để gia tăng giá trị cho sản phẩm sữa.

Thứ ba, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, nâng cao năng lực chuyên môn và ứng dụng công nghệ số vào hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Thứ tư, hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến áp dụng phương thức sản xuất sạch hơn, công nghệ tiên tiến và tiến hành đánh giá vòng đời sản phẩm hướng tới tiêu chí xanh.

Phát triển bền vững ngành sữa Việt Nam: Từ tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi giá trị đến hiện thực hóa mục tiêu chiến lược
Ông Nguyễn Việt Tấn - Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số cho biết, Cục đang nghiên cứu, sửa đổi quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sữa dạng lỏng

Có thể thấy, dư địa phát triển của ngành sữa Việt Nam còn rất lớn, không chỉ đóng góp thiết thực vào tăng trưởng kinh tế quốc gia mà còn mang ý nghĩa chiến lược đối với việc nâng cao tầm vóc, thể lực của người Việt. Để Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 nhanh chóng đi vào cuộc sống, Thứ trưởng Trương Thanh Hoài đã yêu cầu các đơn vị chức năng thuộc Bộ Công Thương tập trung thực hiện hai nhiệm vụ trọng tâm.

Một là, khẩn trương hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển ngành sữa Việt Nam, trong đó tích hợp đầy đủ các cơ chế, chính sách ưu đãi cụ thể, đồng thời bố trí nguồn lực tài chính và hạ tầng cần thiết để triển khai.

Hai là, chủ trì xây dựng hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về ngành sữa, đảm bảo khả năng kết nối thông suốt dữ liệu từ vùng nguyên liệu, năng lực chế biến của nhà máy, công tác kiểm định chất lượng đến lưu thông trên thị trường, từ đó phục vụ hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước và định hướng đầu tư của doanh nghiệp.

Phát triển bền vững ngành sữa Việt Nam: Từ tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi giá trị đến hiện thực hóa mục tiêu chiến lược
Thứ trưởng Trương Thanh Hoài khẳng định, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, Hiệp hội Sữa Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình triển khai Chiến lược

Thứ trưởng Trương Thanh Hoài khẳng định: " Với sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương, Hiệp hội Sữa và cộng đồng doanh nghiệp, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để đưa ngành sữa Việt Nam phát triển hiện đại, bền vững, tự chủ và nâng cao vị thế cạnh tranh trên trường quốc tế".