Trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và gia tăng yêu cầu về khả năng chống chịu của hệ thống logistics, việc hình thành các Trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại đang trở thành một trong những động lực quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và vùng kinh tế.

Là trung tâm kinh tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), thành phố Cần Thơ có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống giao thông đa phương thức, nguồn hàng nông sản và thủy sản xuất khẩu, cũng như vai trò trung tâm thương mại - dịch vụ của vùng. Tuy nhiên, hệ thống logistics của thành phố hiện vẫn chưa phát huy đầy đủ tiềm năng và cần một lộ trình cụ thể để trở thành một Trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại.

Kết quả nghiên cứu cho thấy thành phố Cần Thơ hiện đạt cấp độ Trung tâm logistics vùng đang hình thành (Emerging Regional Logistics Hub); còn khoảng cách phát triển giữa hiện trạng và mô hình Trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại (ILHM), tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực hiệu năng logistics, dịch vụ logistics giá trị gia tăng, năng lực logistics, logistics số và logistics xanh.

logistics Cần Thơ

TS. Bùi Bá Nghiêm, Chuyên viên cao cấp, Cục Xuất nhập khẩu trình bày tham luận tại Hội thảo khoa học Phát triển dịch vụ logistics thành phố Cần Thơ với vai trò trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chiều 10/6/2026.

Mô hình Trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại (ILHM)

Nghiên cứu thấy rằng hiện nay chưa có một mô hình đánh giá thống nhất nào phản ánh đầy đủ các yếu tố cấu thành của một Trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại (ILHM) trong điều kiện của Việt Nam. Các mô hình hiện có thường chỉ tập trung vào hạ tầng logistics, năng lực vận tải, hiệu quả logistics, chỉ số LPI,… Trong khi đó, xu thế phát triển logistics hiện đại cho thấy một ILHM cần được tiếp cận như một hệ sinh thái tích hợp, được đề xuất trên cơ sở kết hợp giữa lý thuyết logistics hiện đại, quản trị chuỗi cung ứng, tạo thuận lợi thương mại, chuyển đổi số, phát triển xanh và kinh nghiệm quốc tế về các trung tâm logistics thành công như: Singapore, Rotterdam, Duisburg.

Từ cơ sở lý thuyết và thực tiễn, nghiên cứu đề xuất mô hình ILHM gồm 08 hợp phần cấu thành như sau:

(1) Hợp phần 1: Kết nối hạ tầng logistics đa phương thức

Kết nối hạ tầng là nền tảng vật chất đầu tiên của một ILHM. Một ILHM không thể chỉ phụ thuộc vào một phương thức vận tải đơn lẻ mà phải bảo đảm khả năng kết nối giữa đường bộ, đường thủy nội địa, đường biển, đường sắt và hàng không.

Các chỉ tiêu đánh giá hợp phần này gồm: mức độ kết nối đường bộ, năng lực đường thủy nội địa, khả năng tiếp nhận tàu tại cảng, kết nối hàng không, khả năng kết nối đường sắt và khả năng liên thông giữa các phương thức vận tải.

(2) Hợp phần 2: Năng lực logistics

Năng lực logistics phản ánh khả năng tiếp nhận, xử lý, lưu trữ, gom hàng, chia tách, phân phối và trung chuyển hàng hóa của trung tâm logistics. Đây là hợp phần quyết định quy mô vận hành thực tế của một ILHM. Một ILHM cần có hệ thống cảng, ICD, depot container, kho ngoại quan, kho lạnh, trung tâm phân phối, trung tâm kiểm định, trung tâm xử lý hàng thương mại điện tử và các cơ sở logistics chuyên ngành.

Các chỉ tiêu đánh giá hợp phần này gồm: công suất cảng, công suất kho bãi, công suất kho lạnh, số lượng và năng lực ICD, depot container, kho ngoại quan, trung tâm phân phối và trung tâm logistics chuyên ngành.

(3) Hợp phần 3: Hiệu năng logistics

Hiệu năng logistics phản ánh chất lượng vận hành của hệ thống logistics. Nếu hạ tầng là điều kiện cần thì hiệu năng là thước đo kết quả thực tế. Một ILHM đại phải giúp doanh nghiệp giảm chi phí, rút ngắn thời gian vận chuyển, tăng độ tin cậy, giảm rủi ro và nâng cao khả năng dự báo của chuỗi cung ứng.

Các chỉ tiêu đánh giá hợp phần này gồm: chi phí logistics trên giá trị hàng hóa, thời gian vận chuyển, thời gian thông quan, thời gian xử lý tại cảng/kho, tỷ lệ giao hàng đúng hạn, năng suất bốc xếp và mức độ ổn định của lịch trình vận tải.

(4) Hợp phần 4: Dịch vụ logistics giá trị gia tăng

Dịch vụ logistics giá trị gia tăng là yếu tố phân biệt một ILHM với một khu kho bãi hoặc điểm trung chuyển thông thường. Trong chuỗi cung ứng hiện đại, giá trị không chỉ được tạo ra từ vận tải và lưu kho, mà còn từ các dịch vụ như đóng gói, phân loại, dán nhãn, truy xuất nguồn gốc, kiểm định, bảo quản lạnh, hoàn thiện đơn hàng, logistics thương mại điện tử, tài chính thương mại, bảo hiểm, đại lý hải quan và tư vấn chuỗi cung ứng.

Các chỉ tiêu đánh giá hợp phần này gồm: tỷ trọng dịch vụ 3PL, 4PL, logistics thương mại điện tử, fulfillment, cross-docking, dịch vụ chuỗi lạnh, dịch vụ kiểm định, dịch vụ hải quan, dịch vụ C/O và dịch vụ hỗ trợ xuất nhập khẩu.

(5) Hợp phần 5: Logistics số

Trong kỷ nguyên dữ liệu, logistics số là hợp phần cốt lõi của ILHM. Nếu logistics truyền thống cạnh tranh bằng vị trí địa lý và hạ tầng vật chất thì logistics hiện đại cạnh tranh bằng dữ liệu, khả năng dự báo, khả năng kết nối và năng lực điều phối theo thời gian thực. Một ILHM cần có các nền tảng như Logistics Data Hub, Port Community System, Cargo Community System, hệ thống đặt chỗ điện tử, e-C/O, e-seal, chứng từ vận tải điện tử, truy xuất nguồn gốc, trí tuệ nhân tạo, IoT và Digital Twin.

Các chỉ tiêu đánh giá hợp phần này gồm: tỷ lệ chứng từ điện tử, mức độ kết nối dữ liệu giữa cảng - hải quan - doanh nghiệp, sự tồn tại của PCS/CCS, tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng nền tảng số, ứng dụng AI/IoT, năng lực truy xuất nguồn gốc và khả năng giám sát dòng hàng theo thời gian thực.

(6) Hợp phần 6: Logistics xanh

Logistics xanh là yêu cầu ngày càng bắt buộc trong thương mại quốc tế. Các thị trường lớn như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và các tập đoàn đa quốc gia ngày càng quan tâm đến logistics xanh, do vậy một ILHM cần đảm bảo các yêu cầu về phát thải carbon, tiêu chuẩn ESG, sử dụng năng lượng sạch và minh bạch môi trường trong chuỗi cung ứng.

Các chỉ tiêu đánh giá hợp phần này gồm: tỷ lệ doanh nghiệp logistics xanh, mức giảm phát thải, tỷ lệ phương tiện sạch, tỷ lệ kho/cảng sử dụng năng lượng tái tạo, năng lực chống chịu ngập lụt, sạt lở, xâm nhập mặn và hệ thống đo lường phát thải carbon logistics.

(7) Hợp phần 7: Liên kết vùng và quốc tế

Một ILHM không thể chỉ phục vụ phạm vi địa phương. Tiêu chí cốt lõi của ILHM là khả năng tổ chức và điều phối dòng hàng của một vùng kinh tế rộng hơn, đồng thời kết nối với các hành lang thương mại quốc tế.

Các chỉ tiêu đánh giá hợp phần này gồm: tỷ lệ hàng hóa vùng Đồng bằng sông Cửu Long xử lý qua Cần Thơ, số tuyến logistics liên vùng, kết nối với Campuchia, kết nối với cảng cửa ngõ quốc tế, kết nối ASEAN, số tuyến vận tải quốc tế và mức độ phối hợp giữa các địa phương.

(8) Hợp phần 8: Hệ sinh thái logistics

Hệ sinh thái logistics là hợp phần bảo đảm tính bền vững và khả năng tự phát triển của ILHM. Một ILHM không thể chỉ dựa vào hạ tầng do Nhà nước đầu tư, mà cần có hệ sinh thái doanh nghiệp, nhân lực, đổi mới sáng tạo, tài chính, đào tạo, nghiên cứu, hiệp hội và cơ chế chính sách hỗ trợ.

Các chỉ tiêu đánh giá hợp phần này gồm: số lượng doanh nghiệp logistics chuyên nghiệp, tỷ lệ lao động logistics qua đào tạo, số chương trình đào tạo logistics, số doanh nghiệp 3PL/4PL, mức đầu tư R&D, số dự án đổi mới sáng tạo, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và mức độ tham gia của hiệp hội ngành hàng.

mô hình

Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị một số vấn đề trong xây dựng mô hình ILHM Cần Thơ

Singapore là mô hình điển hình về phát triển logistics dựa trên thể chế số và tạo thuận lợi thương mại để nâng cấp năng lực logistics quốc gia. Nghiên cứu trường hợp của UNESCAP về TradeNet cho thấy Singapore đã chuyển từ khoảng 20 loại biểu mẫu thương mại sang một biểu mẫu điện tử duy nhất dùng cho gần như toàn bộ nhu cầu chứng từ; hệ thống liên kết 35 cơ quan quản lý, cho phép xử lý giấy phép xuất nhập khẩu và C/O qua một điểm giao dịch chung; thời gian phê duyệt rút từ nhiều giờ hoặc nhiều ngày xuống còn khoảng 10 phút.

Hà Lan: Rotterdam là cảng biển lớn nhất châu Âu và là mô hình thành công về tích hợp cảng biển, logistics số, logistics xanh và logistics nông sản. Rotterdam Food Hub là ví dụ điển hình về phát triển logistics chuyên ngành cho nông sản và thực phẩm, cho thấy sức mạnh của mô hình cảng - dữ liệu - ngành hàng chuyên biệt. Cảng Rotterdam công bố rõ định hướng kết nối châu Âu bằng mạng lưới deepsea, shortsea, RoRo, đường sắt, đường thủy nội địa và đường ống; công cụ Routescanner được dùng để lập kế hoạch vận tải đa phương thức; đồng thời Rotterdam Food Hub được phát triển như một không gian chuyên biệt cho chuỗi nông sản - thực phẩm với quỹ đất 60 ha, kết nối cầu cảng, kho lạnh, terminal container biển sâu và mạng tiêu thụ châu Âu; riêng hệ thống terminal của Rotterdam có 18.500 điểm cắm reefer.

Đức: Duisburg là cảng nội địa lớn nhất thế giới, phát triển dựa trên mô hình logistics đa phương thức. Đây là trường hợp đặc biệt phù hợp với Cần Thơ ở góc độ trung tâm nội địa. Duisport tự xác định mình là một đầu mối logistics trimodal của vùng Rhine-Ruhr, tích hợp đường sắt, đường thủy, đường bộ, real estate logistics, contract logistics, thủ tục hải quan và gần đây là hệ thống Port Community System RPIS cho khai báo tàu, rời cảng, bốc xếp.

Từ kinh nghiệm quốc tế, việc xây dựng mô hình Trung tâm logistics quốc tế hiện đại tại Cần Thơ cần lưu ý một số vấn đề.

Một là, logistics phải gắn với chuỗi cung ứng và nguồn hàng. Muốn làm logistics nông sản, thủy sản hiệu quả thì phải có hạ tầng chuỗi lạnh, không gian logistics chuyên ngành và công cụ lập tuyến đa phương thức theo thời gian thực.

Hai là, logistics số phải được xem là hạ tầng chiến lược, không có logistics hiện đại nếu không có một hạ tầng phát triển, vận hành trên nền tảng dữ liệu số và thủ tục liên ngành.

Ba là, một trung tâm dịch vụ logistics thành công không nhất thiết phải là cảng biển nước sâu, nhưng bắt buộc phải là đầu mối đa phương thức, có dịch vụ logistics “từ đầu đến cuối” và có nền tảng dữ liệu dùng chung cho các chủ thể trong hệ sinh thái.

Bốn là, logistics xanh sẽ trở thành tiêu chuẩn bắt buộc.

Năm là, liên kết vùng có ý nghĩa quyết định đối với thành công của trung tâm dịch vụ logistics.

Sáu là, phát triển ILHM phải theo mô hình hệ sinh thái tích hợp thay vì phát triển các công trình hạ tầng riêng lẻ.

Đánh giá thực trạng phát triển logistics Cần Thơ theo mô hình ILHM và Bộ chỉ số ILHI

Đánh giá thực trạng logistics Cần Thơ theo mô hình ILHM

Nhóm 1: Kết nối hạ tầng logistics đa phương thức: Cần Thơ hiện có cảng hàng không quốc tế Cần Thơ, hệ thống cảng trên sông Hậu, mạng lưới quốc lộ và cao tốc đang được đầu tư, hệ thống đường thủy nội địa lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, chưa có đường sắt, chưa có cảng nước sâu và kết nối đa phương thức chưa hoàn chỉnh.

Nhóm 2: Năng lực logistics: Cần Thơ đã bước đầu hình thành Trung tâm logistics Cái Cui, hệ thống kho bãi thương mại và một số kho lạnh chuyên ngành. Tuy nhiên, còn thiếu ICD quy mô vùng, thiếu depot container, thiếu trung tâm logistics hàng không và thiếu kho lạnh quy mô lớn.

Nhóm 3: Hiệu năng logistics: Các chuỗi hàng nông sản và thủy sản của Cần Thơ hiện vẫn chịu chi phí logistics cao, thời gian vận chuyển dài, tỷ lệ trung chuyển lớn.

Nhóm 4: Dịch vụ logistics giá trị gia tăng: Logistics tại Cần Thơ chủ yếu mới dừng ở vận tải, giao nhận, kho bãi; các dịch vụ 3PL, 4PL, Fulfillment và Supply Chain Management vẫn còn hạn chế.

Nhóm 5: Logistics số: Mức độ chuyển đổi số trong logistics tại Cần Thơ bước đầu được cải thiện nhưng chưa có Logistics Data Hub, chưa có PCS, chưa có CCS và chưa có nền tảng dữ liệu logistics vùng.

Nhóm 6: Logistics xanh: Đây là hợp phần phát triển chậm nhất của Cần Thơ, hiện nay chưa có cảng xanh, chưa có kho xanh và chưa có hệ thống kiểm kê phát thải logistics.

Nhóm 7: Liên kết vùng và quốc tế: Cần Thơ có lợi thế kết nối toàn vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, kết nối quốc tế trực tiếp còn hạn chế và chưa hình thành vai trò trung tâm logistics của tiểu vùng Mekong.

Nhóm 8: Hệ sinh thái logistics: Cần Thơ hiện có Đại học Cần Thơ, Đại học Nam Cần Thơ và các hiệp hội doanh nghiệp logistics, xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu nhân lực logistics chất lượng cao, thiếu doanh nghiệp logistics quy mô lớn và thiếu trung tâm đổi mới sáng tạo logistics.

Giải pháp và lộ trình phát triển thành phố Cần Thơ trở thành ILHM đến năm 2035

Giải pháp và lộ trình phát triển

Để Cần Thơ trở thành Trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại (ILHM), lộ trình phát triển được đề xuất chia thành 03 giai đoạn gồm:

(i) Giai đoạn 2026 - 2030: Tập trung xử lý 05 khoảng cách lớn.

(ii) Giai đoạn 2028 - 2035: Nâng cấp 03 hợp phần nền tảng.

(iii) Giai đoạn 2030 - 2035: Chuyển đổi từ Trung tâm logistics vùng phát triển sang ILHM.

Tập trung xử lý 05 khoảng cách lớn (2026 - 2030)

Nhóm 1. Nâng cao hiệu năng logistics: Mục tiêu đến năm 2030: (i) Giảm chi phí logistics đối với hàng nông sản, thủy sản từ khoảng 30% xuống dưới 20% giá thành sản phẩm; (ii) Giảm thời gian vận chuyển hàng hóa nội vùng tối thiểu 30%; (iii) Tăng tỷ lệ giao hàng đúng hạn trên 95%, nâng cao độ tin cậy của chuỗi cung ứng vùng ĐBSCL.

Các nhiệm vụ trọng tâm gồm:

Một là, hoàn thiện kết nối khai thác hiệu quả các tuyến cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ, Cần Thơ - Cà Mau, Lộ Tẻ - Rạch Sỏi và các tuyến vành đai logistics vùng.

Hai là, tổ chức lại mạng lưới vận tải đa phương thức theo mô hình "đường thủy là trục chính - đường bộ là trục hỗ trợ".

Ba là, hình thành các tuyến vận tải container đường thủy cố định kết nối Cần Thơ với Cái Mép - Thị Vải, Trần Đề, Thành phố Hồ Chí Minh và Campuchia.

Bốn là, xây dựng hệ thống giám sát và công bố các chỉ số logistics thời gian thực (Lead Time Dashboard) phục vụ quản lý và điều hành.

Năm là, triển khai cơ chế phối hợp liên ngành nhằm giảm thời gian xử lý thủ tục xuất nhập khẩu, kiểm tra chuyên ngành và logistics cửa khẩu.

Nhóm 2. Phát triển dịch vụ logistics giá trị gia tăng: Mục tiêu là chuyển dịch từ logistics vận chuyển đơn thuần sang logistics tạo giá trị gia tăng cao: (i) Tỷ trọng dịch vụ logistics giá trị gia tăng đạt trên 35% doanh thu logistics; (ii) Hình thành tối thiểu 02 trung tâm logistics chuyên ngành nông sản và thủy sản quy mô vùng; (iii) Có ít nhất 10 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ 3PL và 4PL hoạt động hiệu quả.

Các nhiệm vụ trọng tâm gồm:

Một là, hình thành Trung tâm logistics nông sản - thủy sản xuất khẩu vùng ĐBSCL.

Hai là, phát triển hệ thống kho lạnh, trung tâm đóng gói, phân loại, kiểm định, truy xuất nguồn gốc và bảo quản sau thu hoạch.

Ba là, thu hút doanh nghiệp 3PL, 4PL, e-Logistics và Fulfillment Center đầu tư tại Cần Thơ.

Bốn là, xây dựng Trung tâm dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu tích hợp gồm logistics, hải quan, kiểm dịch, C/O, chứng nhận chất lượng và tài chính thương mại.

Năm là, phát triển logistics thương mại điện tử phục vụ toàn vùng ĐBSCL.

Nhóm 3. Nâng cao năng lực logistics: Mục tiêu là nâng cao năng lực tiếp nhận, lưu trữ, trung chuyển và phân phối hàng hóa: (i) Tăng gấp 2 lần công suất kho bãi và kho lạnh hiện có; (ii) Hình thành ít nhất 01 ICD cấp vùng; (iii) Hình thành mạng lưới logistics đa cực của ĐBSCL lấy Cần Thơ làm trung tâm. Các nhiệm vụ trọng tâm gồm:

Một là, đầu tư hoàn thiện Trung tâm logistics Cái Cui quy mô khoảng 100 ha.

Hai là, triển khai Trung tâm logistics hàng không gắn với Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ quy mô khoảng 100 ha.

Ba là, xây dựng ICD Cần Thơ và hệ thống Depot Container vùng ĐBSCL.

Bốn là, mở rộng hệ thống kho ngoại quan, kho lạnh, bãi container rỗng và trung tâm phân phối.

Năm là, hình thành mạng lưới logistics vệ tinh tại An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau.

Nhóm 4. Phát triển logistics xanh: Mục tiêu là xây dựng Cần Thơ trở thành trung tâm logistics xanh đầu tiên của vùng ĐBSCL: (i) Tối thiểu 30% trung tâm logistics áp dụng tiêu chuẩn logistics xanh; (ii) Giảm ít nhất 20% cường độ phát thải logistics; (iii) 100% trung tâm logistics mới đáp ứng tiêu chuẩn công trình xanh.

Các nhiệm vụ trọng tâm gồm:

Một là, xây dựng Bộ tiêu chí Logistics xanh thành phố Cần Thơ.

Hai là, khuyến khích phát triển kho xanh, cảng xanh và trung tâm logistics phát thải thấp.

Ba là, ưu tiên vận tải thủy nội địa và phương tiện sử dụng nhiên liệu sạch.

Bốn là, triển khai điện mặt trời mái nhà tại kho bãi và trung tâm logistics.

Năm là, xây dựng hệ thống kiểm kê phát thải carbon logistics vùng ĐBSCL.

Nhóm 5. Phát triển logistics số: Mục tiêu là tạo đột phá về quản trị, điều phối và minh bạch chuỗi cung ứng: (i) Trên 90% chứng từ logistics được số hóa; (ii) 100% trung tâm logistics kết nối nền tảng dữ liệu dùng chung; (iii) Hình thành Trung tâm điều phối logistics số của vùng ĐBSCL.

Các nhiệm vụ trọng tâm gồm:

Một là, xây dựng Nền tảng dữ liệu logistics vùng ĐBSCL (Mekong Logistics Data Hub).

Hai là, triển khai Port Community System (PCS) cho các cảng trong khu vực.

Ba là, xây dựng Cargo Community System (CCS) tại Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ.

Bốn là, phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc số cho nông sản và thủy sản xuất khẩu.

Năm là, ứng dụng AI, IoT, Blockchain và Digital Twin trong điều hành logistics.

Nâng cấp 03 hợp phần nền tảng (2028 - 2035)

Nhóm 6. Hoàn thiện kết nối hạ tầng logistics đa phương thức: Mục tiêu đến năm 2035: (i) Cần Thơ trở thành trung tâm logistics đa phương thức lớn nhất ĐBSCL; (ii) Trên 70% hàng hóa xuất khẩu vùng được kết nối qua mạng logistics Cần Thơ.

Các nhiệm vụ trọng tâm gồm:

Một là, hoàn thiện mạng lưới cao tốc vùng ĐBSCL.

Hai là, nâng cấp luồng hàng hải sông Hậu và kết nối với cảng nước sâu Trần Đề.

Ba là, phát triển hệ thống cảng thủy nội địa và logistics ven sông.

Bốn là, nghiên cứu kết nối đường sắt Thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ.

Năm là, hình thành mạng lưới logistics đa phương thức hoàn chỉnh giữa đường bộ, đường thủy, hàng không và đường biển.

Nhóm 7. Nâng tầm liên kết vùng và quốc tế: Mục tiêu đến năm 2035: (i) Cần Thơ trở thành trung tâm logistics của toàn vùng ĐBSCL; (ii) Trở thành đầu mối logistics quốc tế của tiểu vùng Mekong.

Các nhiệm vụ trọng tâm gồm:

Một là, thiết lập Hội đồng Điều phối logistics vùng ĐBSCL.

Hai là, xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu logistics liên tỉnh.

Ba là, kết nối hành lang logistics Campuchia - Cần Thơ - Trần Đề.

Bón là, kết nối trực tiếp với các trung tâm logistics quốc tế tại Singapore, Rotterdam, Bangkok và Phnom Penh.

Năm là, thu hút doanh nghiệp logistics toàn cầu đầu tư vào Cần Thơ.

Nhóm 8. Hoàn thiện hệ sinh thái logistics: Mục tiêu đến năm 2035: (i) Có trên 500 doanh nghiệp logistics hoạt động chuyên nghiệp; (ii) Trên 80% lao động logistics được đào tạo chuyên môn; (iii) Hình thành hệ sinh thái logistics hoàn chỉnh của vùng.

Các nhiệm vụ trọng tâm gồm:

Một là, thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo logistics Mekong.

Hai là, hình thành Viện nghiên cứu logistics và chuỗi cung ứng ĐBSCL.

Ba là, phát triển hệ sinh thái startup logistics số và logistics xanh.

Bốn là, xây dựng Trung tâm đào tạo logistics chất lượng cao cấp vùng.

Năm là, thu hút các định chế tài chính hỗ trợ đầu tư logistics.

Chuyển đổi từ Trung tâm logistics vùng phát triển sang ILHM (2030 - 2035)

Điều phối chuỗi cung ứng vùng: Cần Thơ chuyển từ vai trò trung chuyển hàng hóa sang vai trò điều phối chuỗi cung ứng nông sản, thủy sản và thương mại của toàn vùng ĐBSCL.

Trung tâm dữ liệu logistics Mekong: Hình thành Trung tâm dữ liệu logistics lớn nhất vùng ĐBSCL - Mekong Logistics Data Center, tích hợp dữ liệu vận tải, kho bãi, cảng biển, hàng không, thương mại và xuất nhập khẩu.

Trung tâm logistics nông nghiệp quốc tế: Xây dựng Trung tâm logistics nông nghiệp quốc tế ĐBSCL, phục vụ bảo quản, chế biến, phân phối và xuất khẩu nông sản, thủy sản của Việt Nam sang ASEAN, Đông Bắc Á, EU và Bắc Mỹ.

Trung tâm logistics xuyên biên giới Mekong: Hình thành mạng logistics xuyên biên giới kết nối Việt Nam - Campuchia - Thái Lan - Lào thông qua hành lang Mekong và hệ thống vận tải đa phương thức.

Xây dựng thương hiệu quốc tế Can Tho International Logistics Hub: Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, truyền thông quốc tế và xây dựng thương hiệu logistics của thành phố theo mô hình: "Can Tho International Logistics Hub - Gateway of Mekong Supply Chains".

Đến năm 2035, Cần Thơ phấn đấu trở thành Trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại của vùng ĐBSCL và tiểu vùng Mekong theo đầy đủ các tiêu chí của mô hình ILHM.

Cần Thơ
TS. Bùi Bá Nghiêm trình bày nghiên cứu với chủ đề: " Định hướng phát triển thành phố Cần Thơ trở thành Trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại giai đoạn đến năm 2035"

Kết quả nghiên cứu cho thấy thành phố Cần Thơ có đầy đủ điều kiện để phát triển trở thành Trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại của vùng ĐBSCL và tiểu vùng Mekong theo mô hình ILHM. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, thành phố cần chuyển từ tư duy phát triển logistics theo hướng hạ tầng đơn lẻ sang tư duy phát triển hệ sinh thái logistics tích hợp, trong đó hạ tầng, dữ liệu, dịch vụ, doanh nghiệp, nguồn nhân lực và cơ chế điều phối được phát triển đồng bộ.

Một hàm ý quan trọng của nghiên cứu là trong giai đoạn đến năm 2030, thành phố cần ưu tiên tập trung nguồn lực xử lý các khoảng cách phát triển lớn.

Trong giai đoạn 2030 - 2035, Cần Thơ cần tiếp tục hoàn thiện các hợp phần nền tảng gồm kết nối hạ tầng logistics đa phương thức, liên kết vùng và quốc tế, hệ sinh thái logistics; đồng thời từng bước hình thành các chức năng đặc trưng của mô hình ILHM như: trung tâm điều phối chuỗi cung ứng vùng, trung tâm dữ liệu logistics Mekong, trung tâm logistics nông nghiệp quốc tế và trung tâm logistics xuyên biên giới Mekong.

Nghiên cứu cũng cho thấy lợi thế cạnh tranh khác biệt của Cần Thơ không nằm ở việc trở thành một trung tâm trung chuyển hàng hóa đơn thuần mà ở khả năng trở thành trung tâm điều phối chuỗi cung ứng nông sản, thủy sản và thương mại của toàn vùng ĐBSCL. Vì vậy, Cần Thơ cần ưu tiên phát triển logistics số, logistics xanh, logistics chuỗi lạnh và các dịch vụ logistics giá trị gia tăng gắn với các ngành hàng chủ lực của vùng.

Về dài hạn, Cần Thơ cần định vị thương hiệu “Can Tho International Logistics Hub” như một ILHM, thông minh, xanh và có vai trò cửa ngõ logistics của tiểu vùng Mekong. Đây sẽ là nền tảng để mở rộng không gian phát triển của thành phố từ vai trò Trung tâm logistics vùng lên Trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của vùng ĐBSCL và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.

TS. Bùi Bá Nghiêm, Chuyên viên cao cấp, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương)