Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá đề xuất cấm trưng bày thuốc lá tại cơ sở bán buôn, bán lẻ dưới mọi hình thức. Đây là thay đổi đáng kể so với quy định hiện hành, không chỉ tác động đến cách tổ chức điểm bán mà còn liên quan đến hoạt động kiểm tra, quyền tiếp cận thông tin của người mua và khả năng kiểm soát thị trường bất hợp pháp.
Bán buôn và bán lẻ: cùng là kinh doanh nhưng khác môi trường tiếp cận
Theo các chuyên gia, để quy định đi vào thực tế, trước hết cần xác định đúng đối tượng và môi trường mà chính sách muốn kiểm soát, bởi hoạt động bán buôn và bán lẻ có đặc điểm vận hành và mức độ tiếp xúc với người tiêu dùng rất khác nhau.
Mục tiêu của lệnh cấm trưng bày thuốc lá là giảm việc người tiêu dùng và công chúng, đặc biệt là thanh thiếu niên, tiếp xúc với hình ảnh sản phẩm thuốc lá. Tại điểm bán lẻ, sản phẩm có thể được sắp trên quầy, tủ kính hoặc kệ hàng trong tầm nhìn của khách. Trong khi đó, cơ sở bán buôn là nơi nhập hàng, lưu kho, kiểm đếm và phân phối cho các điểm bán. Đối tượng tiếp xúc tại điểm bán buôn là những thương nhân mua hàng sỉ để kinh doanh, không phải người tiêu dùng cuối cùng. Hàng hóa được sắp xếp, kiểm đếm và di chuyển liên tục tại những cơ sở bán buôn này để chuẩn bị đơn hàng, phục vụ quản lý tồn kho và vận hành hậu cần chứ không nhằm thu hút người mua.
Tuy nhiên, việc phân biệt hoạt động bán buôn và bán lẻ không đồng nghĩa với việc loại trừ hoàn toàn các cơ sở bán buôn khỏi phạm vi quản lý. Nếu khu vực bán buôn có hoạt động trưng bày sản phẩm tại nơi công chúng có thể tiếp cận, quy định cấm trưng bày vẫn cần được xem xét áp dụng nhằm bảo đảm mục tiêu hạn chế sự tiếp xúc của người dân với hình ảnh thuốc lá.
Theo ông Nguyễn Hoàng Dũng, nguyên Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển của Viện Kinh tế và Quản lý TP.HCM việc lựa chọn công cụ quản lý phải trả lời rõ ba vấn đề: rủi ro cụ thể cần kiểm soát; mức độ công cụ được lựa chọn có thể giảm rủi ro đó; và điều kiện để cơ quan chức năng thực thi đồng bộ. Cách tiếp cận này giúp tránh đặt cùng một nghĩa vụ kỹ thuật lên những mô hình kinh doanh có điều kiện vận hành khác nhau mà chưa có đánh giá tác động phù hợp.
Đảm bảo thông tin tối thiểu để phục vụ người tiêu dùng
Bên cạnh việc xác định phạm vi áp dụng của quy định cấm trưng bày thuốc lá, dự thảo lần này cũng đặt ra yêu cầu cần làm rõ ranh giới giữa hoạt động trưng bày mang tính quảng cáo, quảng bá sản phẩm với hoạt động niêm yết giá và sử dụng nhãn hiệu theo Luật Giá và các quy định hiện hành. Luật Giá yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh niêm yết giá rõ ràng, không gây nhầm lẫn cho khách hàng. Trong khi đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định người tiêu dùng có quyền được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về sản phẩm, hàng hóa, còn Nếu quy định cấm trưng bày được hiểu theo hướng xóa luôn cả tên sản phẩm và bảng giá tại điểm bán, cần cân nhắc kỹ tính thống nhất với các quy định này.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng đặt vấn đề từ góc độ quyền tiếp cận thông tin cần thiết của người mua với quyền quảng bá sản phẩm của người bán.. “Người trưởng thành có nhu cầu mua hàng hợp pháp cần được biết điểm bán có những sản phẩm nào và giá bao nhiêu. Nhưng nhu cầu thông tin đó không đồng nghĩa với việc sản phẩm phải được phô bày trực quan hoặc gắn với các yếu tố quảng cáo, khuyến mại. Do vậy, dù sản phẩm được che khuất, người mua trưởng thành vẫn cần có thông tin tối thiểu để nhận biết hàng chính ngạch, nguồn gốc rõ ràng và giá bán. Nếu thiếu thông tin này, khoảng trống nhận diện có thể bị hàng lậu, hàng giả lợi dụng.”, ông Dũng nói.
Lộ trình chuẩn bị đủ dài cho người bán và lực lượng thực thi
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng chính sách cần phù hợp với thị trường và hoạt động kinh doanh của người buôn bán. “Lộ trình thực hiện cần được xác định trên cơ sở đánh giá tác động và khả năng đáp ứng của các cơ sở kinh doanh. Khoảng thời gian chuyển tiếp phải đủ để người bán nắm rõ quy định, sắp xếp lại quầy hàng, cải tạo hoặc thay thế các vật dụng trưng bày”, bà nói.
Luật sư Hoàng Hà, Đoàn Luật sư TP.HCM, cho rằng cần có lộ trình chuyển tiếp, song thời hạn 18-24 tháng nên được quyết định trên cơ sở đánh giá tác động thực tế, thay vì ấn định một cách cơ học. “Có thể thiết kế theo hướng chuyển đổi từng bước. Giai đoạn đầu cần ban hành hướng dẫn thật rõ về cách bố trí điểm bán, cung cấp thông tin sản phẩm, bảng giá và những hành vi nào bị coi là trưng bày; đồng thời tuyên truyền, hỗ trợ cơ sở nhỏ điều chỉnh. Có thể thí điểm tại một số địa bàn có điều kiện quản lý khác nhau để đánh giá khả năng tuân thủ và tác động đến thị trường trước khi áp dụng đồng loạt”, luật sư Hoàng Hà nói. Theo ông, quan trọng hơn, thời gian chuyển tiếp phải được dùng để hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc, kiểm soát vận chuyển, kho hàng, bán hàng trực tuyến và các đầu mối cung ứng bất hợp pháp.
Bên cạnh thời gian, người kinh doanh còn cần sự ổn định của chính sách. Theo chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng, “nguyên tắc quan trọng nhất là bảo đảm tính thống nhất và ổn định của chính sách, tránh tình trạng vừa cắt giảm thủ tục ở nơi này lại phát sinh thêm yêu cầu ở nơi khác”. Ông cũng cho rằng hộ kinh doanh đang cùng lúc thích ứng với nhiều thay đổi về thuế, hóa đơn điện tử, kế toán. “Môi trường pháp lý cần rõ ràng, dễ dự đoán để người dân yên tâm làm ăn. Chính sách tốt không phải là chính sách có nhiều quy định nhất, mà là chính sách tạo ra hiệu quả bảo vệ sức khỏe lớn nhất với chi phí xã hội hợp lý nhất. Cần tránh tình trạng quy định trên văn bản rất chặt chẽ nhưng thực tế khó kiểm tra, dẫn đến tuân thủ hình thức, thực thi không đồng đều và phát sinh những chi phí không cần thiết”, ông phân tích.
Không để kiểm soát điểm bán trở thành khoảng trống quản lý thị trường
Bên cạnh phạm vi áp dụng, sự khác biệt giữa thị trường hợp pháp và bất hợp pháp cũng được các đại biểu và chuyên gia đặt ra trong quá trình góp ý dự thảo.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hải Phòng, cho rằng đề xuất cấm trưng bày sản phẩm thuốc lá cần được nhìn nhận trước hết từ mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, yêu cầu tuân thủ tại các cơ sở kinh doanh công khai phải được thực hiện đồng bộ với phòng, chống thuốc lá nhập lậu, hàng giả và hoạt động kinh doanh trái phép.
Cơ sở kinh doanh hợp pháp thường có địa chỉ rõ ràng, hoạt động công khai và là nơi lực lượng chức năng có thể tiếp cận để kiểm tra. Trong khi đó, thuốc lá lậu, hàng giả có thể được phân phối thông qua những kênh không có địa điểm cố định, giao dịch trên mạng hoặc qua các đầu mối khó nhận diện. Nếu chỉ kiểm tra những cửa hàng hiện hữu mà thiếu biện pháp phát hiện các dòng hàng bất hợp pháp, mục tiêu kiểm soát toàn thị trường sẽ khó đạt trọn vẹn.
Theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, cần tăng cường truy xuất nguồn gốc, kiểm soát việc kinh doanh trái phép trên môi trường trực tuyến, tập trung xử lý các đường dây, kho chứa và đầu mối buôn lậu lớn, đồng thời kiên quyết xử lý vi phạm ngay tại điểm bán.
Luật sư Hoàng Hà, Đoàn Luật sư TP.HCM, cũng nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát chuỗi cung ứng bất hợp pháp trong quá trình áp dụng quy định mới. Bởi một chính sách về trưng bày chỉ điều chỉnh cách sản phẩm xuất hiện tại nơi bán, trong khi hàng lậu, hàng giả còn liên quan đến nguồn cung, vận chuyển, lưu kho và giao dịch trên nhiều kênh.
Lệnh cấm trưng bày thuốc lá nhìn từ kinh nghiệm thế giới
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia triển khai cấm trưng bày công khai thuốc lá tại điểm bán theo lộ trình, có thời gian chuyển tiếp để các cơ sở kinh doanh thích ứng. Các lệnh cấm trưng bày trên thế giới thường được thiết kế dưới dạng “cấm trưng bày tại điểm bán lẻ” (retail display ban hay point-of-sale display ban). Tại Australia, các bang và vùng lãnh thổ áp dụng lệnh cấm đối với cửa hàng bán lẻ, yêu cầu sản phẩm thuốc lá phải nằm ngoài tầm nhìn của công chúng. New Zealand thực hiện lệnh cấm thông qua Đạo luật sửa đổi về Môi trường không khói thuốc (Kiểm soát và Thực thi) năm 2011, nhằm ngăn việc trưng bày thuốc lá tại điểm bán lẻ trước người tiêu dùng cuối cùng, thay vì mở rộng sang hoạt động bán buôn. Na Uy ban hành quy định năm 2009 và thực hiện từ đầu năm 2010. Tại Anh, luật được thông qua năm 2009, áp dụng với cửa hàng lớn từ tháng 4/2012 và mở rộng sang toàn bộ cửa hàng bán lẻ từ tháng 4/2015. Điểm chung của các mô hình này là căn cứ vào việc công chúng có nhìn thấy sản phẩm hay không, chứ không áp một yêu cầu chung cho mọi khâu trong chuỗi phân phối.
