Toàn cảnh phiên thảo luận về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi)
Toàn cảnh phiên thảo luận về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi)

Tại phiên thảo luận, các ý kiến cơ bản đồng tình với sự cần thiết sửa đổi Luật trong bối cảnh hiện nay. Trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, biến động của thị trường năng lượng và thực tiễn triển khai, quy định của luật cần tiếp tục được hoàn thiện để tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển ngành dầu khí.

Đại biểu đánh giá cao những điểm mới trong dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi): về đơn giản hoá thủ tục, phân cấp, phân quyền; mở rộng không gian phát triển sang các lĩnh vực mới như thu giữ, lưu trữ cacbon (CCS) và năng lượng ngoài khơi.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên thảo luận
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên thảo luận

Góp ý về hoạt động thu giữ và lưu trữ cacbon (CCS), đại biểu Lê Thị Ngọc Linh - Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau nhận định, đây là lĩnh vực mới, đóng vai trò then chốt trong mục tiêu giảm phát thải và chuyển dịch năng lượng. Đại biểu ủng hộ việc khuyến khích tận dụng các công trình dầu khí hiện hữu và cấu tạo địa chất phù hợp để triển khai lưu trữ cacbon (tại Điều 48, 49). 

Đại biểu Lê Thị Ngọc Linh – Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau cho ý kiến
Đại biểu Lê Thị Ngọc Linh – Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau cho ý kiến

Để hiện thực hóa điều này, đại biểu đề nghị cần làm rõ một số vấn đề.

Một là, cần quy định cụ thể quyền nghiên cứu, đề xuất chuyển đổi các mỏ đã hoặc sắp kết thúc khai thác thành cơ sở lưu trữ cacbon.

Hai là, tạo điều kiện cho các nhà thầu dầu khí hiện hữu hoặc Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam nghiên cứu đề xuất, chuyển đổi mỏ sang khai thác làm cơ sở lưu trữ cacbon trong một thời hạn nhất định, nhằm tận dụng lợi thế về dữ liệu địa chất và hạ tầng sẵn có.

Ba là, xây dựng quy định riêng cho nhà thầu trong lĩnh vực CCS để đảm bảo an toàn môi trường và giải pháp kỹ thuật.

các đại biểu tham dự phiên thảo luận
Các đại biểu tham dự phiên thảo luận

Tháo gỡ nút thắt pháp lý cho hoạt động thu giữ, lưu trữ cacbon (CCS)

Khẳng định CCS là hướng đi tất yếu để giảm phát thải và tận dụng hạ tầng dầu khí sẵn có, đại biểu Trần Quốc Tuấn – Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long cho rằng các quy định hiện tại (tại Điều 48, 49, 50) vẫn còn sự chồng chéo giữa dự án CCS gắn với hợp đồng dầu khí và dự án CCS độc lập.

Để tháo gỡ nút thắt này, đại biểu đề xuất, cần phân định rõ phạm vi điều chỉnh, sửa đổi Điều 48 theo hướng khuyến khích tận dụng công trình dầu khí để triển khai CCS gắn với hoạt động dầu khí theo luật này. Đồng thời, bổ sung quy định xác định các dự án CCS độc lập sẽ thực hiện theo pháp luật chuyên ngành liên quan. Ngoài ra, cần quy định rõ thời hạn hủy giếng, thu dọn công trình, trách nhiệm quan trắc sau đóng cửa, các điều kiện bàn giao và trách nhiệm tài chính của nhà đầu tư trước khi bàn giao. Theo đại biểu, việc luật hóa các nội dung này sẽ giúp giảm rủi ro pháp lý và tạo niềm tin cho nhà đầu tư.

Đại biểu Trần Quốc Tuấn – Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long phát biểu
Đại biểu Trần Quốc Tuấn – Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long phát biểu

 

Cũng bày tỏ tán thành với việc đưa hoạt động thu giữ, lưu trữ cacbon (CCS) và năng lượng ngoài khơi gắn với dầu khí vào Chương VIII và IX của dự thảo Luật, đại biểu Đào Chí Nghĩa – Đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ cho rằng, cách tiếp cận này giúp tận dụng tối đa hạ tầng dữ liệu của ngành dầu khí mà không chồng lấn với các luật chuyên ngành khác.

Để mở rộng không gian phát triển mới, đại biểu đề xuất, cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng khung pháp lý cho các dự án CCS độc lập và điện gió ngoài khơi quy mô thương mại, vốn chưa có quy định đồng bộ. Chính phủ cần sớm ban hành các văn bản chi tiết cho Chương VIII và IX ngay khi luật có hiệu lực. Đây là cơ sở quan trọng để các địa phương có biển chủ động bổ sung, hoàn thiện quy hoạch không gian kinh tế biển tại địa phương.

Theo đại biểu, việc hoàn thiện các cơ chế này không chỉ tháo gỡ nút thắt cho các dự án hiện hữu mà còn đón đầu xu hướng chuyển dịch năng lượng, tạo động lực phát triển bền vững cho các địa phương ven biển.

Đại biểu Đào Chí Nghĩa – Đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ nêu đề xuất
Đại biểu Đào Chí Nghĩa – Đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ nêu đề xuất

Tiếp tục cho ý kiến về thu giữ và lưu trữ cbon (CCS), đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn – Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng cũng cho rằng, CCS mở ra khả năng tái sử dụng mỏ cạn kiệt và hạ tầng dầu khí hiện hữu, nhưng đồng thời phát sinh nghĩa vụ giám sát kéo dài hàng chục năm, kể cả sau khi hợp đồng dầu khí chấm dứt.

Từ đó, đại biểu đề nghị Luật quy định nguyên tắc bắt buộc về ký quỹ, bảo đảm tài chính hoặc bảo hiểm trách nhiệm tại Điều 49; mức cụ thể giao Chính phủ quy định. Theo đại biểu, đây là nghĩa vụ tài sản chứ không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật. Nếu Luật không đặt nguyên tắc, sẽ có nguy cơ nghĩa vụ tài chính dài hạn cuối cùng chuyển sang Nhà nước.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn – Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng cho ý kiến
Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn – Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng cho ý kiến

Đồng thời, đại biểu đề nghị đưa vào Điều 51 nguyên tắc chuyển giao tín chỉ cacbon ra nước ngoài phải tránh tính trùng và không ảnh hưởng đến Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam.

Cần đảm bảo tính liên tục khi khai thác tận thu mỏ dầu khí, tránh lãng phí tài nguyên

Góp ý vào Điều 30 về cơ chế đối với mỏ khai thác tận thu, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn bày tỏ lo ngại thủ tục lựa chọn nhà đầu tư hiện nay có nguy cơ làm gián đoạn khai thác và mất tài nguyên.

Đại biểu cho biết, Điều 30 quy định: 02 năm trước khi hợp đồng hết hạn, nếu nhà thầu không trình đề xuất đầu tư bổ sung thì Tập đoàn quyết định một trong ba phương án, trong đó có phương án lựa chọn nhà thầu ký hợp đồng mới, và phải hoàn thành ký kết trước khi hợp đồng hiện hữu hết hạn. Chỉ khi còn tối thiểu 03 tháng mà dự kiến chưa thể ký được, Tập đoàn mới chuẩn bị kế hoạch tiếp quản.

Đại biểu bày tỏ lo ngại về tính khả thi của các mốc thời gian này. Theo đạị biểu, trong 24 tháng phải hoàn thành toàn bộ quá trình lựa chọn nhà thầu, đàm phán, thẩm định, phê duyệt hợp đồng và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trong khi thực tế việc ký một hợp đồng dầu khí mới thường kéo dài. Đặc biệt, với mỏ cuối đời có áp suất vỉa thấp, trữ lượng nhỏ, việc gián đoạn khai thác có thể làm tăng mạnh chi phí khôi phục, thậm chí phần dầu khí còn lại không còn hiệu quả kinh tế. Khi đó, chính sự chậm trễ của thủ tục có thể làm mất phần tài nguyên cần tận thu.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận
Các đại biểu tham dự phiên thảo luận

Từ thực tế trên, đại biểu đề nghị sửa đổi Điều 30 theo hướng, xác lập nguyên tắc bảo đảm liên tục khai thác là ưu tiên hàng đầu; cho phép chuẩn bị phương án tiếp quản song song ngay từ khi quyết định phương án, không chờ đến mốc 03 tháng; và quy định rõ mốc khởi động không phụ thuộc vào việc nhà thầu hiện hữu có trình đề xuất hay không. Đồng thời, cơ chế cho dự án khai thác tận thu tại khoản 5 Điều 30 cần được ban hành đồng thời với hiệu lực của Luật, tránh khoảng trống pháp lý.

Ngoài ra, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị rà soát kỹ thuật lập pháp về cấu trúc khoản và dẫn chiếu tại các Điều 14, 15, 23, 34, 46, 51 và 59; đồng thời bổ sung tại Điều 53 nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm cơ sở thực hiện.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận
Các đại biểu tham dự phiên thảo luận

Theo đại biểu, Luật Dầu khí (sửa đổi) lần này phải tạo được sự chuyển đổi thực chất từ quản lý chủ yếu bằng trình tự, thủ tục sang quản trị theo hiệu quả, rủi ro và trách nhiệm. Phân cấp phải đi cùng quyền quyết định; chấp nhận rủi ro phải đi cùng cơ chế kiểm soát; tạo thuận lợi cho đầu tư phải đi cùng bảo vệ tài nguyên và lợi ích quốc gia.

“Có như vậy, sửa Luật lần này mới thực sự tháo gỡ được điểm nghẽn để đưa tài nguyên dưới lòng đất thành nguồn lực cho tăng trưởng, an ninh năng lượng và ngân sách quốc gia”, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn nhấn mạnh.

Đoàn chủ tọa tại phiên thảo luận
Đoàn chủ tọa tại phiên thảo luận

Giải trình ý kiến của các đại biểu tại phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết, lần đầu tiên, khung pháp lý cho hoạt động thu giữ, lưu trữ cacbon (CCS) và phát triển năng lượng ngoài khơi được đưa vào luật (Chương 8 và 9). Điều này nhằm hình thành các khuôn khổ pháp lý trong quá trình dịch chuyển năng lượng và giảm phát thải, đồng thời tận dụng tối đa tài nguyên dữ liệu, công trình hạ tầng dầu khí đã đầu tư.

Phân tích tiềm năng theo một số nghiên cứu, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nêu rõ, nếu được tận dụng và phát triển tốt, thị trường này có thể trở thành hoạt động dịch vụ của Việt Nam đối với khu vực Đông Nam Á, ước tính đạt giá trị khoảng 40 tỷ USD. Hiện nay, Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam đang hợp tác với các đối tác Nhật Bản nghiên cứu thử nghiệm nhốt giữ CO2 tại khu vực Bắc Bộ.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng giải trình ý kiến của các đại biểu tại phiên thảo luận
Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng giải trình ý kiến của các đại biểu tại phiên thảo luận

Theo Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng, việc phát triển năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển chuỗi giá trị dầu khí, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao hiệu quả khai thác dầu khí. Các dự án khai thác dầu khí cũng là những công trình sử dụng năng lượng rất lớn, việc tích hợp năng lượng tái tạo phục vụ tại chỗ, kết hợp sử dụng hạ tầng các công trình dầu khí hiện hữu (đường ống, giàn khoan) tiến tới điện phân Hydrogen đưa vào bờ là hướng đi rất mới và tiến bộ, giúp thúc đẩy lộ trình dịch chuyển năng lượng và giảm phát thải.

Quang cảnh phiên thảo luận tại Hội trường, chiều 08/8
Quang cảnh phiên thảo luận tại Hội trường, chiều 08/8

Về nội dung này, Bộ trưởng Bộ Công Thương cho biết, Chính phủ cũng đã xây dựng hướng dẫn chi tiết trong Nghị định và dự kiến sẽ có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của luật.