Tóm tắt:
Bài nghiên cứu xem xét tác động của phát triển Fintech đến quyết định tài trợ và quyết định đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam, với mẫu quan sát bao gồm 143 doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2024 thông qua hồi quy GLS. Kết quả nghiên cứu cho thấy phát triển Fintech tác động ngược chiều đến quyết định tài trợ và quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra yếu tố khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, cơ hội tăng trưởng và tài sản cố định hữu hình đều có tác động đến quyết định tài trợ và đầu tư của doanh nghiệp. Ngoài ra, yếu tố quy mô doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng doanh thu cũng tác động đến quyết định tài trợ của doanh nghiệp. Từ đó, nhóm tác giả đưa ra các hàm ý cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc ra quyết định đầu tư và quyết định tài trợ.
Từ khóa: phát triển Fintech, quyết định đầu tư, quyết định tài trợ, bất cân xứng thông tin.
1. Đặt vấn đề
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tài chính (Fintech) đang tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với thị trường tài chính tại Việt Nam. Các ứng dụng như thanh toán số, ngân hàng số, dữ liệu lớn hay trí tuệ nhân tạo không chỉ làm thay đổi hành vi của người dùng mà còn tác động đáng kể đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp niêm yết có thêm cơ hội tiếp cận nguồn vốn, tối ưu chi phí tài chính và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Tuy nhiên, sự phát triển của Fintech cũng đặt ra nhiều thách thức về quản trị rủi ro, năng lực thích ứng công nghệ và cạnh tranh trên thị trường tài chính. Dù Fintech đang phát triển nhanh tại Việt Nam, các nghiên cứu về tác động của Fintech đến quyết định tài trợ và quyết định đầu tư của doanh nghiệp niêm yết vẫn còn hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.Nghiên cứu của nhóm tác giả tập trung vào ảnh hưởng của phát triển công nghệ tài chính đến quyết định tài trợ và quyết định đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam.
2. Tổng quan các nghiên cứu trước
Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam hầu như tập trung vào tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động và ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp. Chẳng hạn như, Lê Thị Bích Ngân (2024) nghiên cứu về tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc các công ty chứng khoán sử dụng Fintech có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động của họ. Trần Thị Kim Nhung và công sự (2024) cũng nghiên cứu về tác động của Fintech đến sức mạnh thị trường và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Kết quả lại cho thấy phát triển Fintech có tác động ngược chiều đến sức mạnh thị trường và hiệu quả tài chính của các ngân hàng. Nguyễn Hồng Yến và Nguyễn Văn Hải (2024) nghiên cứu về tác động của các doanh nghiệp Fintech tới sự ổn định của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã nhận thấy, sự gia tăng số lượng doanh nghiệp Fintech có tác động cùng chiều đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Đào Mỹ Hằng và Lê Thị Diệu Linh (2024) cũng đã có nghiên cứu tương tự nhưng kết quả lại cho thấy, Fintech tác động ngược chiều với sự ổn định tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Nhìn chung các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của Fintech chỉ tập trung vào hiệu quả hoạt động và ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại, không tập trung nghiên cứu vào quyết định tài trợ và quyết định đầu tư của các doanh nghiệp.
Tang và cộng sự (2025) đã phân tích tác động của phát triển Fintech đến các chính sách tài chính của doanh nghiệp niêm yết tại Trung Quốc. Kết quả thực nghiệm chỉ ra, sự phát triển của Fintech không chỉ giúp doanh nghiệp gia tăng khả năng huy động vốn từ bên ngoài, mở rộng quy mô đầu tư mà còn làm giảm chi phí nợ và cải thiện hiệu quả đầu tư.
Theo lý thuyết cấu trúc vốn, mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp phụ thuộc vào chi phí vay và mức độ minh bạch thông tin. Sự phát triển của Fintech góp phần giảm bất đối xứng thông tin và chi phí giao dịch thông qua dữ liệu lớn và công nghệ số từ đó làm giảm chi phí vay và cải thiện khả năng tiếp cận vốn. Khi điều kiện vay thuận lợi hơn, doanh nghiệp có xu hướng gia tăng sử dụng nợ cho hoạt động kinh doanh. Do đó, nhóm tác giả kỳ vọng sự phát triển của Fintech có tác động cùng chiều đến mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp.
Hoạt động đầu tư chịu ảnh hưởng trực tiếp từ khả năng huy động và hiệu quả sử dụng vốn. Sự phát triển của Fintech giúp nâng cao tính minh bạch thông tin, cải thiện quản trị doanh nghiệp và giảm chi phí vốn, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực. Khi việc tiếp cận vốn thuận lợi và hiệu quả đầu tư cải thiện, doanh nghiệp có động lực mở rộng đầu tư vào các dự án sinh lợi. Vì vậy, nhóm tác giả kỳ vọng sự phát triển của Fintech có tác động cùng chiều đến chi tiêu vốn của doanh nghiệp.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nhóm tác giả dựa theo khung lý thuyết nghiên cứu và tổng quan các nghiên cứu trước, trong đó chủ yếu là nghiên cứu của Tang và cộng sự (2025) để xây dựng nên mô hình nghiên cứu như sau:
FINANCING = α + β1*Fintech + β2*ROA + β3*LEV + β4*MB + β5*SIZE + β6*CASH + β7*GROW + β8*PPE + ε
INVESTMENT = α + β1*Fintech +β2*ROA + β3*LEV + β4*MB + β5*SIZE + β6*CASH + β7*GROW + β8*PPE + ε
Nhóm tác giả cũng đưa ra cách thức đo lường các biến nghiên cứu và dấu kỳ vọng.

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng gồm 143 doanh nghiệp niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn 2010 đến năm 2024. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm Stata. Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp ước lượng hồi quy GLS.
4. Kết quả nghiên cứu
![]()
Kết quả tại Bảng 3 cho thấy, các doanh nghiệp trong mẫu quan sát nhìn chung mỗi năm tăng 7,42% phát hành nợ và phát hành cổ phần so với giá trị tổng tài sản. Bên cạnh đó, mỗi năm các doanh nghiệp này gia tăng chi tiêu vốn 4,51% so với giá trị tổng tài sản. Nhìn chung, tỷ suất sinh lời trên tài sản của các doanh nghiệp đạt 6,59%, nợ phải trả chiếm 44,48% tổng tài sản, tiền và các khoản tương đương tiền chiếm 9,89% tổng tài sản, tài sản cố định chiếm 22,98% tổng tài sản, và tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần của các doanh nghiệp là 18,08%.
![]()
Nhóm tác giả nhận thấy hệ số tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình có giá trị nhỏ hơn 0.8, vì vậy không xảy ra vấn đề đa cộng tuyến nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến kết quả hồi quy; đồng thời có sự tương quan ngược chiều và có ý nghĩa thống kê giữa phát triển Fintech (FINTECH) với phát hành nợ và vốn cổ phần (FINANCING) cũng như với chi tiêu vốn (INVESTMENT). Bên cạnh đó, cũng có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), đòn bẩy tài chính (LEV), tỷ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách (MB), quy mô doanh nghiệp (SIZE), tốc độ tăng trưởng doanh thu (GROW) và tài sản cố định hữu hình (PPE) với phát hành nợ và vốn cổ phần cũng như chi tiêu vốn của doanh nghiệp.

Kết quả hồi quy tại Bảng 4 cho thấy, phát triển Fintech tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% đến phát hành nợ, vốn cổ phần (FINANCING) và chi tiêu vốn (INVESTMENT). Điều này cho thấy, sự phát triển của Fintech làm giảm đi mức độ sử dụng tài trợ bên ngoài và chi tiêu vốn của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu phản ánh thực trạng các công ty Fintech tại Việt Nam phát triển khá nhanh trong những năm gần đây nhưng chủ yếu chạy theo xu hướng của thế giới mà việc triển khai và khai thác Fintech vẫn chưa thực sự hiệu quả, cũng như chưa góp phần làm giảm đi chi phí giao dịch và giảm đi vấn đề bất cân xứng thông tin.
Bên cạnh đó, những doanh nghiệp có tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản lớn, có đòn bẩy tài chính lớn và tỷ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách lớn tác động cùng chiều đến phát hành nợ và vốn cổ phần cũng như chi tiêu vốn của doanh nghiệp, tức là thúc đẩy gia tăng việc tiếp cận nguồn tài trợ bên ngoài cũng như tăng đầu tư của doanh nghiệp. Điều này là do những doanh nghiệp này đang được thị trường và các bên liên quan đánh giá cao, dễ dàng tiếp cận các nguồn tài trợ. Hơn thế nữa, những doanh nghiệp có quy mô lớn và có tốc độ tăng trưởng doanh thu lớn cũng dễ dàng tiếp cận nguồn tài trợ bên ngoài hơn.
5. Hàm ý nghiên cứu
Sự phát triển của Fintech có thể sẽ thúc đẩy gia tăng phát hành nợ và vốn cổ phần cũng như chi tiêu vốn của các doanh nghiệp tại Việt Nam khi Việt Nam có sự phát triển tốt cả về số lượng lẫn chất lượng các doanh nghiệp Fintech cũng như có cơ sở hạ tầng và khung pháp lý hoàn thiện. Tuy nhiên, hiện nay sự phát triển Fintech lại dẫn đến sự sụt giảm trong phát hành nợ và vốn cổ phần cũng như giảm chi tiêu vốn của các doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam nên chủ động thích ứng và tận dụng các giải pháp tài chính số tương thích ở các giai đoạn phát triển Fintech khác nhau để đạt hiệu quả tối ưu trong các quyết định tài trợ và quyết định đầu tư.
Ngoài ra, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính và các cơ hội tăng trưởng thúc đẩy gia tăng phát hành nợ và vốn cổ phần cũng như chi tiêu vốn. Bên cạnh đó, quy mô doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng doanh thu cũng góp phần gia tăng việc tiếp cận nguồn tài trợ bên ngoài của các doanh nghiệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Đào Mỹ Hằng & Lê Thị Diệu Linh (2024). Tác động của sự phát triển Fintech đến ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Ngân hàng, 19, 15-23
Lê Thị Bích Ngân (2024). Tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng, 266, 154-165.
Nguyễn Hồng Yến & Nguyễn Văn Hải (2024). Tác động của doanh nghiệp Fintech tới sự ổn định của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 326(2), 96-104.
Tang, M., Hu, Y., Hou, Y., Oxley, L., Goodell, J.W. (2025). Fintech development and corporate financial policy: Evidence from corporate financing and investment. Journal of International Money and Finance, 157, 103386.
Trần Thị Kim Nhung, Nguyễn Thị Nguyệt Ánh, Ngô Thị Hạ Vi, Dương Hồng Ngọc, Phạm Linh Ngân, Tăng Thị Thảo Nhung, Phạm Thị Hạnh (2024). Tác động của Fintech đến sức mạnh thị trường và hiệu quả tài chính của các ngân hàng tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 329(2), 66-75.
The impact of fintech development on the financing and investment decisions of listed companies in Vietnam
Vu Trong Hien1
Le Thi Mai Huong1
Nguyen Thi Ngoc Han1
Nguyen Thi Diem Quynh1
Huynh Thanh Ngan1
Phan Thi Bich Hoa1
1Ho Chi Minh City University of Industry
Abstract:
This study examines the impact of Fintech development on the financing and investment decisions of listed companies in Vietnam, using a sample of 143 listed firms over the period 2010-2024 and applying generalized least squares (GLS) regression. The findings reveal that Fintech development has a negative effect on both financing and investment decisions. In addition, profitability, financial leverage, growth opportunities, and tangible fixed assets are found to significantly influence these decisions. Firm size and revenue growth also affect financing decisions. Based on these findings, the study offers managerial implications for improving corporate financing and investment decision-making in the context of Fintech development.
Keywords: Fintech development, investment decision, financing decision, informaion asymmetry.
[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 14 năm 2026]
