Tóm tắt:

Bài báo phân tích tác động của tái thiết và cải tạo đô thị đến sức khỏe cộng đồng, tập trung vào sức khỏe thể chất và tinh thần của người bị di dời, cư dân ở lại và cộng đồng lân cận. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thứ cấp thông qua tổng hợp tài liệu học thuật, báo cáo chính sách và các trường hợp điển hình tại nhiều đô thị. Kết quả cho thấy, tái thiết đô thị giúp cải thiện hạ tầng, môi trường sống và khả năng tiếp cận dịch vụ công, qua đó nâng cao sức khỏe thể chất. Tuy nhiên, việc di dời cư dân, mất không gian xã hội quen thuộc, cùng ô nhiễm và áp lực thích nghi làm gia tăng căng thẳng, và suy giảm gắn kết cộng đồng. Nghiên cứu góp phần làm rõ mối liên hệ giữa tái thiết đô thị và sức khỏe cộng đồng, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải lồng ghép yếu tố sức khỏe và sự tham gia của cộng đồng trong quy hoạch đô thị bền vững.

Từ  khóa: tái thiết đô thị, môi trường sống, sức khỏe cộng đồng, sức khỏe thể chất, sức khỏe cộng đồng.

1. Đặt vấn đề

Tái thiết đô thị gắn liền với quá trình đô thị hóa nhanh và các dự án cải tạo quy mô lớn tại nhiều quốc gia. Đây là hoạt động cần thiết nhằm nâng cấp hạ tầng, cải thiện nhà ở, cảnh quan và chất lượng môi trường sống đô thị. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy, tái thiết đô thị cũng tạo ra các vấn đề xã hội và sức khỏe cộng đồng như ô nhiễm môi trường, mất kết nối xã hội nơi tái định cư tại chỗ, cũng như áp lực thích nghi với nơi ở mới, gia tăng bất bình đẳng ở nơi tái định cư.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2020)), chất lượng quy hoạch và thực hiện tái thiết đô thị ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất và tinh thần của cư dân thông qua chất lượng không khí, tiếng ồn, không gian xanh và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế. Nghiên cứu tại Manchester trên 1.344 cư dân, Huxley và cộng sự (2004) cho thấy, tái thiết đô thị không cải thiện đáng kể sức khỏe tinh thần nếu thiếu sự tham gia của cộng đồng và không đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân bởi việc di dời dân cư và thay đổi môi trường sống, làm gia tăng căng thẳng, lo âu và suy giảm gắn kết xã hội. Nghiên cứu của Ella và cộng sự (2023) cho thấy, ở những dự án tái thiết đô thị ưu tiên mục tiêu kinh tế hơn sức khỏe cộng đồng khiến nhóm thu nhập thấp khó tiếp cận lợi ích phát triển đô thị, đặc biệt với nhóm người cao tuổi và trẻ em.

Ô nhiễm không khí là một trong những hệ lụy của quá trình đô thị hóa và tái thiết đô thị. Báo cáo của WHO (2024) chỉ rõ: bụi mịn và các chất ô nhiễm không khí có thể xâm nhập sâu vào phổi và hệ tim mạch, gây đột quỵ, bệnh tim, ung thư phổi và bệnh hô hấp mãn tính; chỉ riêng năm 2021, ô nhiễm không khí gây khoảng 8,1 triệu ca tử vong toàn cầu, riêng khu vực Tây Thái Bình Dương có khoảng 2,2 triệu ca. Tại Việt Nam, theo Vietnamnet (2025), ô nhiễm không khí liên quan đến khoảng 70.000 ca tử vong mỗi năm. Báo cáo IQAir (2024, 2025) cho thấy nồng độ PM2.5 trung bình tại Việt Nam lần lượt là khoảng 28,7 µg/m³, 29,7 µg/m³, cao gần gấp 6 lần ngưỡng khuyến nghị của WHO; Hà Nội nằm trong nhóm các thủ đô ô nhiễm nhất thế giới.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tái thiết đô thị với ô nhiễm không khí và sức khỏe cộng đồng trở nên cấp thiết nhằm hướng tới các mô hình phát triển đô thị bền vững, lấy con người và chất lượng sống làm trung tâm.

2. Tổng quan tài liệu

Tái thiết đô (Urban reconstruction) thường gắn với phá dỡ quy mô lớn và thay thế bằng hạ tầng mới (Mulliner & Algrnas, 2018). Ở Việt Nam, theo Nghị định số 11/2013/NĐ-CP, tái thiết đô thị là xây dựng mới trên nền các công trình cũ đã bị phá bỏ.

Tái thiết đô thị có mối quan với vấn đề ô nhiễm môi trường theo hai hướng: nếu được thực hiện hợp lý, nó có thể cải thiện chất lượng môi trường đô thị; ngược lại; ngược lại, nếu theo hướng phá dỡ và xây mới quy mô lớn, quá trình này có thể làm gia tăng ô nhiễm và suy thoái sinh thái. Ở khía cạnh tích cực, tái thiết đô thị giúp thay thế hạ tầng cũ kỹ, cải thiện hệ thống thoát nước, xử lý rác thải, giao thông công cộng và không gian xanh. Việc cải tạo các khu công nghiệp cũ, khu dân cư xuống cấp hoặc các điểm ô nhiễm có thể làm giảm ô nhiễm không khí, tiếng ồn và nguồn nước, đồng thời nâng cao sức khỏe cộng đồng. Các mô hình tái thiết bền vững còn thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, công trình xanh và phát triển đô thị nhằm giảm phát thải carbon.

Tuy nhiên, nhiều dự án tái thiết đô thị gây áp lực môi trường lớn do phát sinh bụi mịn, tiếng ồn, chất thải xây dựng và khí thải trong quá trình phá dỡ, thi công. Bê tông hóa và suy giảm cây xanh còn làm gia tăng hiệu ứng đảo nhiệt, ngập úng và suy giảm đa dạng sinh học, trong khi mật độ dân cư và giao thông cao làm tăng ô nhiễm không khí và rác thải sinh hoạt. Sing  et al. (2025) đã sử dụng 5 biến số, gồm nhiệt độ bề mặt đất do bê tông hóa (LST), nồng độ bụi mịn (PM2.5), chỉ số thảm thực vật (NDVI), mật độ dân số (PD) và khối lượng xây dựng đô thị (UBV) để xây dựng Chỉ số Chất lượng Môi trường Tích hợp (IEQI).

Một vấn đề khác là sự bất bình đẳng môi trường và loại trừ xã hội do tái thiết đô thị. Các cộng đồng thu nhập thấp sống trong khu vực tái thiết hoặc gần khu vực thi công hoặc bị di dời đến nơi có điều kiện sống và môi trường kém hơn. Trong khi đó, lợi ích môi trường từ các dự án tái thiết lại chủ yếu tập trung ở các khu trung tâm hoặc khu vực có giá trị thương mại cao và những người có thu nhập cao (Lin, & van Ameijde, 2026). Vấn đề này được các nhà nghiên cứu trước đó đề cập và khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa tái thiết đô thị và môi trường, với trọng tâm đi sâu vào phân tích các yếu tố tiêu cực và ảnh hưởng chúng tới sức khỏe cộng đồng.

Các nghiên cứu hàn lâm tại Việt Nam về tái thiết đô thị và sức khỏe cộng đồng tuy không nhiều, nhưng cho thấy quá trình phát triển hạ tầng nhanh chóng vừa tạo cơ hội, vừa đặt ra nhiều thách thức đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của cư dân. Dự án tái thiết đô thị cần hướng đến cải thiện không gian sống, tối ưu hóa sức khỏe cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống (Võ Phan Ninh & cộng sự, 2024).

Như vậy, phát triển và tái thiết đô thị đều tác động trực tiếp đến môi trường sống và sức khỏe cộng đồng như biểu thị trong Hình 1.

Hình 1: Khung nghiên cứu tác động của tái thiết tới sức khỏe cộng đồng; nguồn: Tác giả tóm lược

 

3. Phương pháp nghiên cứu và tài liệu tham khảo

Trong nghiên cứu này, phương pháp nghiên cứu tại bàn (Desk Research) được sử dụng để phân tích tác động của tái phát triển đô thị đến sức khỏe cộng đồng thông qua tổng hợp và so sánh các nguồn dữ liệu thứ cấp trong lĩnh vực quy hoạch đô thị, môi trường và y tế công cộng. Phương pháp phân tích tài liệu được áp dụng nhằm xác định các tác động chính như thay đổi nền nhiệt do bê tông hóa, ô nhiễm tiếng ồn và bụi xây dựng, sự gián đoạn mạng lưới xã hội, căng thẳng tâm lý do di dời và thay đổi khả năng tiếp cận dịch vụ y tế. Trọng tâm nghiên cứu là đánh giá các tác động tiêu cực của tái thiết đô thị và đề xuất cách tiếp cận quy hoạch lấy con người và sức khỏe làm trọng tâm. Trong bài sử dụng 5 chỉ số của Sing et al. (2025) như những yếu tố để phân tích tác động của tái thiết đô thị đến sức khỏe cộng đồng.

Các nguồn dữ liệu được thu thập từ các bài báo khoa học, báo cáo của các tổ chức quốc tế và các cơ quan chính phủ liên quan đến tái phát triển đô thị, cải tạo đô thị, di dời dân cư, ô nhiễm môi trường đô thị và sức khỏe cộng đồng.

4. Kết quả và thảo luận

4.1. Kết quả

Ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động tái thiết đô thị đến sức khỏe cộng đồng đô thị

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, phát triển và tái thiết đô thị thường kéo theo biến đổi nhiệt độ bề mặt đất do bê tông hóa, bụi mịn PM2.5, mật độ dân cư dày đặc và sự sụt giảm chỉ số thảm thực vật, tác động nghiêm trọng đến sức khỏe thể chất và tâm thần của cư dân khu vực đô thị.

Quá trình bê tông hóa đô thị làm giảm khả năng thấm và giữ nước, gây hiệu ứng đảo nhiệt và gia tăng nhiệt độ mặt đất. Điều này dẫn đến mất nước, kiệt sức, say nắng và làm trầm trọng các bệnh tim mạch, hô hấp, đặc biệt ở người có bệnh nền (Nhung Vũ, 2025). Theo Rony & Alamgir (2023), căng thẳng do nhiệt có thể gây say nắng nghiêm trọng, tổn thương não, tim, thận và cơ bắp khi nhiệt độ cơ thể vượt 40°C, đồng thời làm gia tăng lo âu và suy giảm nhận thức. Nhóm dễ bị ảnh hưởng gồm trẻ nhỏ, người cao tuổi và người có tiền sử bệnh tâm thần.

Bụi PM2.5 đặc biệt nguy hiểm vì kích thước siêu nhỏ giúp chúng dễ xâm nhập sâu vào phổi và xâm nhập vào máu, gây viêm nhiễm toàn thân. Các nghiên cứu của Sarawut et al., (2024), Bệnh Viện Bumrungrad International Hospital (2024) cho thấy, tiếp xúc lâu dài với PM2.5 ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ hô hấp và tim mạch. Đối với hệ hô hấp, bụi làm gia tăng hen suyễn, suy giảm chức năng phổi, làm nặng thêm bệnh COPD và viêm khí quản, đồng thời tăng nguy cơ ung thư phổi bởi chất độc hại từ khí thải và xây dựng. Đối với hệ tim mạch, PM2.5 gây tổn thương mạch máu, thúc đẩy xơ động mạch và làm tăng nguy cơ đau tim, suy tim và đột quỵ qua cơ chế viêm và rối loạn máu đông máu. Nghiên cứu của Duy Hung Bui,  Xuan-Hoa Nghiem (2025), tại 10 thành phố Việt Nam giai đoạn 2013-2022 cho thấy đô thị hóa và tái thiết làm gia tăng ô nhiễm không khí PM2.5: mỗi 1% tăng trưởng đô thị hóa làm nồng độ PM2.5 tăng khoảng 0,54 μg/m³. Đồng thời, mỗi 1 μg/m³ PM2.5 tăng thêm có thể dẫn đến khoảng 2,5 ca bệnh hô hấp trên 1.000 dân.

Mật độ dân số và xây dựng cao làm giảm thông thoáng, tăng nhiệt độ bề mặt, đồng thời gây ùn tắc, ô nhiễm tiếng ồn và ánh sáng. Nghiên cứu của Layla và Larissa (2018) cho thấy, tại Hong Kong, mật độ đô thị quá cao làm gia tăng cảm giác chật chội, thiếu riêng tư, dồn nén, trầm cảm và cô lập xã hội, ô nhiễm và thiếu ánh sáng, thông gió tự nhiên do hiệu ứng “hẻm núi đô thị”. Gruebner et al. (2017) cũng cho rằng, nếu thiếu không gian xanh, không gian công cộng và điều kiện nhà ở phù hợp, cư dân đô thị có nguy cơ mắc các rối loạn tâm thần như trầm cảm, lo âu và stress kéo dài cao hơn người sống ở nông thôn. Vì vậy, quy hoạch đô thị cần ưu tiên nâng cao chất lượng không gian sống và thiết kế thân thiện với sức khỏe.

Chỉ số thảm thực vật cao có tác động tích cực bởi không gian xanh có tác dụng giảm stress, thúc đẩy hoạt động thể chất và tăng tương tác xã hội, từ đó cải thiện sức khỏe tinh thần và giảm mức độ nghiêm trọng của trầm cảm. Ngược lại, chỉ số này giảm sẽ tác động tới con người, gây các triệu chứng về nguy cơ sức khỏe cả thể chất và tâm thần (Li et al, 22026). Tóm lại, khi tái thiết và phát triển đô thị, cả 4 yếu tố trên tạo ra tác động kết hợp là suy giảm sức khỏe cả về thể chất lẫn sức khỏe tinh thần.

Nghiên cứu của  Sarker et al. (2024) cho thấy, khối lượng xây dựng đô thị (UBV) gia tăng làm giảm thông gió tự nhiên, tăng hiệu ứng đảo nhiệt và tích tụ ô nhiễm không khí. Nghiên cứu sử dụng các chỉ số như nhiệt độ bề mặt đất (LST), PM2.5, mật độ dân số và diện tích cây xanh để đánh giá môi trường đô thị. Kết quả cho thấy, khu vực có UBV cao thường nóng hơn, ô nhiễm hơn và thiếu không gian xanh, từ đó làm tăng nguy cơ bệnh hô hấp, tim mạch, stress nhiệt và các vấn đề sức khỏe tinh thần của cư dân đô thị

Ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe người dân phải di rời ở khu vực tái định cư

Các hoạt động phát triển và tái thiết đô thị dẫn đến di cư hàng loạt người dân đô thị đến nơi sinh sống mới. Theo Uchita (2021), khu ở mới nếu được xây và cư dân được tái định cư tại chỗ, có tác động tích cực tới sức khỏe bao gồm:

Chất lượng nhà ở được cải thiện, phòng tránh các bệnh truyền nhiễm và bệnh lý xương khớp;

Cải thiện môi trường sống trong lành nếu bố trí không gian xanh, công viên và khu thể thao giúp thúc đẩy lối sống năng động, cải thiện sức khỏe tim mạch và hệ miễn dịch;

Tiếp cận dễ dàng đến các tiện ích y tế đồng bộ nếu dự án tái thiết hiện đại tích hợp sẵn hệ thống phòng khám, bệnh viện.

Tái thiết đô thị dẫn đến di dời dân cư và giá trị đền bù thấp; bất động sản sau cải tạo bị đẩy lên cao, buộc cư dân có thu nhập thấp phải rời khỏi khu phố của họ đến nơi định cư mới (Lee  & Kim (2025). Tuy nhiên, khi quá trình di dời thiếu đồng bộ, cư dân khu vực tái định cư sẽ bị rủi ro bởi các ảnh hưởng tiêu cực: (i) Đảo lộn sinh kế do sự thay đổi về địa điểm làm việc gây khó khăn kinh tế, từ đó ảnh hưởng gián tiếp điều kiện sống như làm việc, học tập và khả năng tiếp cận chăm sóc y tế; (ii) Tình trạng lo âu, trầm cảm hoặc “sốc văn hóa” thường xảy ra ở người phải di dời do mất đi mạng lưới hỗ trợ cộng đồng, thói quen sinh hoạt lâu đời và không gian sống quen thuộc. Nếu hạ tầng chung của các khu tái định cư không được xây dựng đồng bộ, thiếu hệ thống cấp điện, nước, khu tiện ích, vui chơi, trường học, v.v… sẽ gia tăng tâm trạng lo lắng, tác động tới sức khỏe tinh thần (Masan Hightech Materias, 2026; Nikuze et a., 2019).

4.2. Thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, phát triển và tái thiết đô thị tuy góp phần cải thiện hạ tầng và thúc đẩy kinh tế nhưng cũng gây nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng. Trong giai đoạn thi công, bụi mịn, tiếng ồn, chất thải xây dựng và ô nhiễm không khí làm gia tăng các bệnh hô hấp, tim mạch, rối loạn giấc ngủ và căng thẳng tâm lý, đặc biệt ở người già và trẻ em.

Quá trình tái thiết còn làm suy giảm không gian xanh, khu sinh hoạt cộng đồng và cơ hội tương tác xã hội, khiến nhiều cư dân cảm thấy lo âu, mất gắn kết với nơi ở và dễ rơi vào trạng thái stress, trầm cảm kéo dài. Nếu quá chú trọng phát triển kinh tế mà thiếu tiếp cận lấy con người làm trung tâm, tái thiết đô thị có thể làm gia tăng bất bình đẳng sức khỏe.

Người dân phải di dời đến khu tái định cư là nhóm chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Việc mất môi trường sống quen thuộc, thiếu việc làm ổn định, dịch vụ y tế và không gian công cộng làm suy giảm chất lượng sống và khả năng chăm sóc sức khỏe. Đồng thời, sự phân tán của cộng đồng cũ làm suy yếu các mối quan hệ xã hội và đời sống văn hóa địa phương. Những kết quả này cho thấy, tái định cư không nên chỉ được xem là việc di chuyển dân cư khỏi khu vực tái thiết mà cần được tiếp cận như một quá trình phát triển kinh tế, xã hội và sức khỏe cộng đồng. Để giảm thiểu các tác động tiêu cực, cần chú trọng quy hoạch khu tái định cư có chất lượng sống tốt, duy trì mạng lưới cộng đồng, đảm bảo sinh kế và tăng cường hỗ trợ tâm lý - xã hội cho người dân sau di dời.

5. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu cho thấy, tái thiết đô thị là xu hướng tất yếu nhằm cải thiện hạ tầng, chỉnh trang không gian đô thị và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nếu quá trình này thiếu định hướng phát triển bền vững và thiếu tiếp cận lấy con người làm trung tâm, có thể tạo ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng. Các yếu tố như bê tông hóa, gia tăng khối lượng xây dựng đô thị, bụi mịn PM2.5, tiếng ồn, mật độ dân số cao và suy giảm không gian xanh làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh hô hấp, tim mạch, trầm cảm do nhiệt, rối loạn giấc ngủ và các vấn đề sức khỏe tinh thần. Bên cạnh đó, việc di dời dân cư đến khu tái định cư làm gián đoạn mạng lưới xã hội, thay đổi sinh kế và môi trường sống, khiến nhiều cư dân rơi vào trạng thái lo âu, cô lập và suy giảm chất lượng sống, đặc biệt ở người cao tuổi và nhóm thu nhập thấp.

Vì vậy, khi xây dựng kế hoạch dự án tái thiết đô thị, cần lưu ý đến những vấn đề sau:

Một là, sức khỏe cộng đồng cần được xem là một cấu phần quan trọng trong quy hoạch và tái thiết đô thị, thay vì chỉ tập trung vào mục tiêu kinh tế hoặc gia tăng giá trị bất động sản; cần tích hợp đánh giá tác động sức khỏe cộng đồng vào toàn bộ quá trình lập và triển khai các dự án tái thiết đô thị.

Hai là, cần bảo đảm chính sách đền bù và tái định cư hợp lý trên cơ sở có sự đồng thuận của người dân bị di dời, nhằm giúp họ ổn định nơi ở, duy trì sinh kế và tiếp cận đầy đủ các dịch vụ thiết yếu. Điều này không chỉ bảo đảm quyền lợi của cư dân theo quy định pháp luật mà còn góp phần hạn chế những tác động tiêu cực đến sức khỏe tinh thần như căng thẳng, bất an và khó khăn trong quá trình thích nghi với môi trường sống mới.

Ba là, chính quyền địa phương cần kiểm soát mật độ xây dựng, hạn chế bê tông hóa quá mức, đồng thời tăng cường diện tích cây xanh, không gian công cộng và hệ thống giao thông bền vững nhằm cải thiện chất lượng môi trường sống, giảm ô nhiễm và điều hòa vi khí hậu đô thị. Đây là những yếu tố quan trọng góp phần bảo vệ sức khỏe thể chất và nâng cao chất lượng sống của cộng đồng dân cư.

Bốn là, cần tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quá trình quy hoạch, thực hiện và giám sát các dự án tái thiết đô thị nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng và phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân. Sự tham gia này không chỉ giúp duy trì các mối quan hệ xã hội và sự gắn kết cộng đồng mà còn góp phần giảm áp lực tâm lý, nâng cao cảm giác an toàn và hướng tới một môi trường đô thị bền vững, thân thiện với sức khỏe cộng đồng.Việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quá trình quy hoạch và giám sát dự án sẽ góp phần hướng tới mô hình tái thiết đô thị công bằng, bền vững và thân thiện với sức khỏe cộng đồng.

Tài liệu tham khảo:

Võ Phan Ninh, Lê Anh Đức, Trần Mai Anh (2024), Thiết kế đô thị vì sức khỏe cộng đồng, Tạp chí Xây dựng, số 9, 2024, 118-121.

Chính phủ (2013). Nghị định số 11/2013/NĐ-CP, ngày 14/1/2013 về quản lý đầu tư phát triển đô thị.

Công ty Cổ phần Masan Hightech Materias (2026), Chính sách an toàn và sức khỏe cộng đồng, truy cập tại https://masanhightechmaterials.com/wp-content/uploads/2026/05/MHT-HSE-CPO-S-001-Chinh-sach-quan-ly-an-toan-suc-khoe-cong-dong-Community-Health-Safety-Management-Policy.pdf

Nhung Vũ (2025), Hiệu ứng đảo nhiệt đô thị: Nguyên nhân, tác động và giải pháp, e/KMap, truy cập tại https://ekgis.com.vn/hieu-ung-dao-nhiet-do-thi/

Bumrungrad International Hospital (2024), The Health Risks of PM 2.5, January 03, 2024, accessed from: https://www.bumrungrad.com/en/health-blog/january-2024/the-health-risks-of-pm-2-5

Duy Hung Bui, Xuan-Hoa Nghiem (2025), The effects of urbanization on air pollution and public health in Vietnam: An empirical analysis. Asian Journal of Water, Environment and Pollution, vol. 22, no.3, 198-210, https://doi.org/10.36922/AJWEP025130088

Ella, O'., Helen, V.S. Cole, Melissa, García-Lamarca, Isabelle, A.i, Pedro Gullon, M. Triguero-Mas (2023), The right to the unhealthy deprived city: An exploration into the impacts of state-led redevelopment projects on the determinants of mental health, Social Science & Medicine, vol. 318, 2023, https://doi.org/10.1016/j.socscimed.2022.115634

Gruebner O, Rapp M.A., Adli M, Kluge U., Galea S, & Heinz, A. (2017), Cities and Mental Health. Dutsch Arztebl Int, vol. 114, no.8, 121-127, DOI: 10.3238/arztebl.2017.0121.

Huxley, P., Evans, S., Leese, M., Gately, C., Rogers, A., Thomas, R., & Robson, B. (2004). Urban regeneration and mental health. Social psychiatry and psychiatric epidemiology, vol. 39, no. 4, 280-285. https://doi.org/10.1007/s00127-004-0739-3

Layla, Mc. & Larissa L. (2018), Urban design and mental health in Hong Kong: a city case study, Journal of Urban Design and Mental Health,  vol.4, no 9, online, accessed from: https://www.urbandesignmentalhealth.com/journal4-hk-case-study.html

Lee, C., & Kim, D. (2025), Impact of Urban Redevelopment on Low-Income Residential Segregation in South Korea’s Metropolitan Cities, 2011-2020, Land, vol.14, no. 3, 442, https://doi.org/10.3390/land14030442

Li, H., Chen, R. & Wu, J. & Ta, N. (2026). How green space quantity and quality across different geographic contexts impact mental health. J. Cities. vol.168, 2026, https://doi.org/10.1016/j.cities.2025.106439.

Lin, S & van Ameijde J. (2026), The impact of urban renewal on place attachment: A framework to enhance social structures and resident satisfaction, J.Cities, vol. 172, https://doi.org/10.1016/j.cities.2026.106894.

Nikuze, A., Sliuzas, R., Flacke, J., & Van Maarseveen, M. (2019), Livelihood impacts of displacement and resettlement on informal households: A case study from Kigali, Rwanda. Habitat International, vol. 86, 38-47

Rony, M.K.K, Alamgir H.M. (2023), High temperatures on mental health: Recognizing the association and the need for proactive strategies-A perspective. Health Sci Rep, vol.6, no 12, DOI: 10.1002/hsr2.1729

Sarawut, S., Worradorn, P., Samendra, P., Sherchan, N., Narongsuk, M., Kritsada, S., Aminul I.& Pornpun S. (2024), An update on adverse health effects from exposure to PM2.5, Environmental Advances, vol. 18, https://doi.org/10.1016/j.envadv.2024.100603

Sarker, T., Fan, P., Messina, J. P., Mujahid, N., Aldrian, E., & Chen, J. (2024). Impact of Urban built-up volume on Urban environment: A Case of Jakarta. Sustainable Cities and Society, vol. 105, https://doi.org/10.1016/j.scs.2024.105346

Singh S., Shukla, A., Jain, K. (2025), Urban environmental degradation and its associated determinants: A geostatistical approach towards sustainable urban planning and management in an Indian city, Journal of Environmental Management, vol. 394, 2025, https://doi.org/10.1016/j.jenvman.2025.127186.

Uchita, V. (2021), Delivering the promise of ‘better homes?: Assessing housing quality impacts of slum redevelopment in India, J. Cities, vol.116, no.4, https://doi.org/10.1016/j.cities.2021.103253.

WHO (2020).  Integrating health in urban and territorial planning: a sourcebook, 1 May 2020. Accessed from: https://www.who.int/publications/i/item/9789240003170

Impact of urban reconstruction and regeneration on public health: Evidence from domestic and international case studies

Tran Thi Bich Ngoc

School of Economics, Hanoi University of Science and Technology

Email: ngoc.tranthibich@hust.edu.vn

Abstract:

This study examines the impact of urban reconstruction and regeneration on public health, with particular attention to the physical and mental well-being of displaced populations, remaining residents, and neighbouring communities. The study adopts a secondary research methodology, synthesising academic literature, policy reports, and case studies from various urban contexts. The findings indicate that urban reconstruction can improve infrastructure, living conditions, and access to public services, thereby contributing to better physical health outcomes. However, resident displacement, the loss of familiar social spaces, environmental pollution, and pressures associated with adaptation may heighten stress levels and weaken community cohesion. The study contributes to a deeper understanding of the relationship between urban reconstruction and public health, while highlighting the importance of integrating health considerations and community participation into sustainable urban planning.

Keywords: urban regeneration, living environment, public health, physical health, community health.