PV: Xin ông cho biết, việc điều chỉnh tỷ giá lần này sẽ tác động như thế nào đến lạm phát năm 2011, đặc biệt là tác động như thế nào đến các doanh nghiệp?
TS. Nguyễn Minh Phong: Vấn đề tỷ giá là vấn đề trung tâm và nhạy cảm nhất của chính sách tiền tệ, nó ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các khu vực kinh tế cũng như đời sống nhân dân. Điều chỉnh tỷ giá vừa rồi là động tác thực hiện chỉ đạo chung của Chính phủ, tập trung ổn định vĩ mô. Trên thực tế, chính sách đưa ra bao giờ cũng có tác động hai mặt. Mặt tích cực khiến hoạt động tài chính vận hành một cách thị trường hơn, tạo khả năng giải quyết cung cầu USD, góp phần chống nhập siêu, hạn chế việc găm giữ đầu cơ USD. Tuy nhiên, cũng có mặt tác động tiêu cực ảnh hưởng rõ nhất là việc tăng chi phí đối với các doanh nghiệp phải sử dụng nhiều ngoại tệ nhập vật tư, nhiên liệu, thiết bị, kích thích lạm phát, đẩy giá lên. Khi lạm phát tăng lên sẽ ảnh hưởng đến lãi suất, lãi suất là giá của đồng tiền. Cần phải thấy lạm phát có nhiều nguyên nhân, trong đó không chỉ có nguyên nhân tiền tệ, mà cái chính lại là các nguyên nhân khác như: bội chi ngân sách cao, hiệu quả đầu tư chưa cao, nhập siêu lớn, năng suất lao động thấp, những vấn đề vĩ mô dài hạn mà chúng ta chưa giải quyết triệt để.
Nếu nhìn tổng thể, tôi cho rằng, đợt điều chỉnh tỷ giá vừa qua đúng và kịp thời, giải quyết nhiều vấn đề, góp phần giúp thị trường tài chính vận hành theo nguyên tắc minh bạch, chống rủi ro đầu cơ, tạo lòng tin, và lợi nhiều hơn hại. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, việc điều chỉnh tỷ giá lần này ảnh hưởng trực tiếp đến các nhóm khu vực doanh nghiệp về nhập khẩu và sản xuất để xuất khẩu, nhưng đấy cũng chính là mục tiêu của Chính phủ, điều chỉnh theo hướng tạo ra các áp lực về tỷ giá để thúc ép các doanh nghiệp nhập khẩu phải điều chỉnh hướng kinh doanh để giảm bớt nhập siêu. Bởi việc tăng tỉ giá sẽ tạo ra sự đắt đỏ hơn cho những hàng hóa nhập khẩu và những mặt hàng nhập khẩu này sản xuất và bán trong nước. Về nguyên tắc, các DN hay cộng tăng tỉ giá vào giá bán, như vậy sẽ tạo ra một giá bán mới của mặt hàng nhập khẩu, người tiêu dùng sẽ từ chối mua. Lúc đó, các DN sẽ phải chuyển sang sản xuất các mặt hàng khác, hoặc các mặt hàng tiêu dùng trong nước. Lấy ví dụ, như lượng nhập ôtô sẽ hạn chế và giá ôtô đắt hơn, làm hạn chế sự bán ra, buộc các DN này phải thu hẹp quy mô kinh doanh hay chuyển hướng kinh doanh mới…
PV: Việc những DN sản xuất hàng công nghiệp bắt buộc phải nhập khẩu nguyên liệu, hay phải đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, thậm chí phải đi vay vốn bằng đồng USD sẽ bị tác động trực tiếp ra sao, thưa ông?
TS. Nguyễn Minh Phong: Việc tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng mạnh cũng sẽ tác động tới bất kỳ một DN nào, đặc biệt là các DN hoạt động trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu. Các DN xuất khẩu sẽ được hưởng lợi khi tỷ giá điều chỉnh tăng, nhưng ngược lại các DN nhập khẩu sẽ phải gánh những khó khăn. Tuy nhiên, các DN phải nhập khẩu nguyên, vật liệu để sản xuất, xuất khẩu hiện nay cũng phải nhập phần lớn nguyên liệu, do đó chỉ được hưởng lợi một phần từ việc điều chỉnh tỷ giá. Bất kỳ DN nào vay vốn bằng USD để nhập khẩu, hoặc để trả nợ đều phải chịu 2 ảnh hưởng: Thứ nhất là lãi suất đang tăng, lãi suất USD đang lên rất cao; thứ hai là tỷ giá có thể gia tăng. Mặc dù Chính phủ cam kết sẽ không thả nổi, nhưng áp lực tỷ giá tăng, đồng nghĩa với DN phải trả các chi phí nợ tăng lên do tiếp tục phải bỏ tiền ra mua USD với giá cao. Tỷ giá tăng, lãi suất cho vay cao, cộng thêm là giá đầu vào cho sản xuất như điện, xăng, than… tăng sẽ làm cho chi phí đầu vào của DN rất lớn, điều này dẫn đến giá bán hàng hóa tăng, hàng hóa sẽ khó bán, lợi nhuận giảm. Điều này, DN một là sẽ phải thu hẹp sản xuất, hai là giảm lợi nhuận, ba là DN sẽ có nhiều nguy cơ bị lỗ hoặc thậm chí sẽ phá sản do không bán được hàng.
PV: Trong tình thế hiện nay, DN phải khắc phục những khó khăn do tỷ giá tăng như thế nào?
TS. Nguyễn Minh Phong: Có rất nhiều các giải pháp, trong đó có giải pháp quan trọng nhất là, DN phải rà soát các hướng kinh doanh của mình, giảm thiểu lượng dùng đồng USD. Thứ hai, các DN nên hướng đến các nguồn lực khai thác trong nước, bao gồm cả về vốn và nguyên liệu đầu vào, thậm chí là cả về thị trường. Thứ ba, DN phải có dự phòng rủi ro về tỷ giá trong hợp đồng của mình, trước đây các DN cũng có điều khoản này, nhưng mới chỉ ở mức 2-3%, nhưng đến nay, tỷ giá tăng lên đến 9,3% thì có lẽ DN nên có các mức dự phòng cao hơn để tránh gây sốc, do DN không điều chỉnh được hợp đồng, gắn liền với điều chỉnh tỷ giá. Thứ tư là, ngoài việc dự phòng về tỷ giá, DN nên có các biện pháp về quyền mua bán trước như mua chọn và bán chọn, quyền về sử dụng ngoại tệ khác, hay như hoán đổi ngoại tệ… Các DN phải tính toán kỹ chi phí, cơ cấu đầu tư, tái cấu trúc lại việc sản xuất kinh doanh.
Chính sách tỷ giá không đơn thuần là giải quyết chính sách tiền tệ, giải quyết một mục tiêu, mà nó sẽ góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần vào tái cấu trúc nền kinh tế, sản xuất của DN. Cho nên DN phải chấp nhận và thích nghi để chúng ta có thể làm mạnh nền kinh tế, phát triển bền vững theo chiều sâu để hội nhập với thế giới. Do vậy, tùy thuộc vào độ lớn, sức mạnh kinh doanh của DN, việc tái cấu trúc, DN sẽ có những biện pháp ứng phó phù hợp với chính sách điều chỉnh tỷ giá.
PV: Theo ông, việc điều chỉnh tỷ giá cần như thế nào cho hợp lý trong điều kiện hiện nay và trong thời gian tới để chính sách tỷ giá phát huy được hiệu quả, tránh gây sốc cho DN?
TS. Nguyễn Minh Phong: Đợt điều chỉnh giá này là cần thiết và đúng đắn. Tuy nhiên, có một số điểm cần hoàn thiện hơn như: Thời gian dài quá, đáng lẽ cần có sự điều chỉnh ngay khi VNĐ trượt giá. Tiếp nữa là mức độ điều chỉnh không nên lớn quá, nên có sự điều chỉnh nhanh hơn và mức điều thấp hơn cho các DN không phải thay đổi hợp đồng kinh tế. Ví dụ, 2-3% thì có thể cho qua, nhưng 9,3% thì cần phải xem xét lại. Cần mở rộng biên độ để các DN và Ngân hàng có cơ hội thương lượng, điều chỉnh, tránh hiện tượng vượt ra khỏi khung, dẫn đến vi phạm tỉ giá đen. Đối với nhu cầu của Chính phủ thì chắc chắn là trong thời gian tới, tỷ giá sẽ được điều chỉnh, nhưng quan trọng nhất vẫn là nhằm giảm thiểu các hệ quả xấu, giúp DN giảm bớt rủi ro điều chỉnh tỷ giá.
Về điều hành chính sách tiền tệ, các doanh nghiệp mong muốn có định hướng nhất định để tiên đoán được sự ổn định chính sách, để còn biết đường tính toán. Công tác dự báo và tạo dư luận, có định hướng chung cho các doanh nghiệp về hoạt động tài chính tiền tệ rõ hơn. Việc điều chỉnh tỷ giá, lãi suất phải hết sức thận trọng, đặc biệt là trong tình hình nhập siêu vẫn cao nên phải có bài toán thế nào đó để trợ giúp cho DN sản xuất của Việt Nam tăng sức cạnh tranh của hàng hóa.
Chính sách tỷ giá cần phải được xem xét toàn diện hơn khi triển khai những quyết định thay đổi tỷ giá bất ngờ, không thể ra quyết định chỉ phục vụ giải quyết tình huống mà quên đi những tác động có tính dài hơi hơn. Còn giải pháp hiện nay chỉ có tác dụng trong ngắn hạn, về lâu dài cần phải giải quyết vấn đề "gốc rễ" của nền kinh tế là chấm dứt tình trạng USD "hai giá" như hiện nay.
Xin cảm ơn ông!
Tác động của việc điều chỉnh tỷ giá tới doanh nghiệp
Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng đồng USD tăng 9,3%. Việc đánh giá tác động của việc điều chỉnh tỷ giá chỉ mang ý nghĩa thiết thực khi xem xét đối với từng công ty cụ th
