dệt may Thổ Nhĩ Kỳ
Trong bối cảnh ngành dệt may toàn cầu đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh nhất kể từ sau đại dịch COVID-19, Thổ Nhĩ Kỳ nổi lên như một trong những trung tâm sản xuất hưởng lợi rõ rệt nhờ ba lợi thế chiến lược. (Ảnh minh họa)

Thổ Nhĩ Kỳ - một trong những trung tâm sản xuất dệt may nhiều lợi thế

Theo Thương vụ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ, tại cuộc họp đánh giá ngành dệt may Thổ Nhĩ Kỳ ngày 25/6/2026, Bộ trưởng Thương mại nước này Ömer Bolat nhấn mạnh: “Ngành dệt may và quần áo may sẵn đã đạt quy mô 75 tỷ đô la, bao gồm cả thị trường nội địa và đứng đầu về số lượng việc làm”.

Ông Bolat tuyên bố rằng các nhà sản xuất và thương nhân Thổ Nhĩ Kỳ trải rộng khắp thế giới, xuất khẩu sang 215 quốc gia và điểm hải quan đồng thời có 89.000 công ty nước ngoài đầu tư vào Thổ Nhĩ Kỳ. Ông giải thích rằng nền kinh tế thế giới đang trải qua thời kỳ khó khăn, với những bất đồng và khó khăn trong NATO và Tổ chức Thương mại Thế giới, các quốc gia lớn đưa ra các quyết định thương mại đơn phương và các quốc gia đối thủ đang phá vỡ thị trường toàn cầu bằng các khoản trợ cấp rất cao. Ông Bolat cho biết chủ nghĩa bảo hộ đang gia tăng, nhưng ông không muốn vẽ nên một bức tranh bi quan, ông đã chỉ ra sự phục hồi nhanh chóng trong sản xuất của Thổ Nhĩ Kỳ sau đại dịch Covid-19, ông Bolat giải thích rằng Thổ Nhĩ Kỳ đã trải qua sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn nhiều so với các nước hàng đầu châu Âu so với năm 2019.

Ông Bolat cũng chia sẻ thông tin về sự hỗ trợ mà Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã cung cấp cho các nhà sản xuất dệt may và cho biết chính quyền sở tại đã tổ chức 6 hội chợ thương mại trong lĩnh vực này trong 3 năm qua, tổ chức các cuộc tư vấn với đại diện các công ty, lắng nghe những lo ngại của họ và ghi nhận các yêu cầu của họ. Ông cũng đề cập đến sự hỗ trợ mà họ cung cấp cho các đoàn mua hàng và khách tham quan nước ngoài tham dự hội chợ và cho biết họ đã thiết lập các mối liên hệ cần thiết để giải quyết các khiếu nại liên quan đến vận chuyển hàng hóa quốc tế và đã giải quyết thành công.

Ông Bolat lưu ý rằng chính quyền sở tại và cơ quan quản lý cũng đã có những cuộc thảo luận cần thiết với các đối tác ở các nước như Azerbaijan, Kazakhstan và Uzbekistan. "Một trong những cách tốt nhất để làm điều này là các nhà sản xuất và xuất khẩu đoàn kết và tạo ra một giải pháp thay thế về vận chuyển hàng hóa, hoặc cùng nhau hợp tác để giảm chi phí vận chuyển hàng hóa với các công ty vận tải", Bộ trưởng Thương mại Thổ Nhĩ Kỳ nêu.

Với góc nhìn toàn diện như trên, Bộ trưởng Bolat khẳng định: “Chúng ta có một thị trường nội địa khổng lồ với 86 triệu người dân, 65 triệu khách du lịch mua hàng từ đây. Họ đến Thổ Nhĩ Kỳ vì nhiều lý do nhưng lý do chủ yếu là nghỉ mát và mua túi xách, quần áo, giày dép và phụ kiện. Trên 5 triệu người nước ngoài đến đây mỗi năm và họ thường mua sắm ở đây. Do đó, khi chúng ta tính cả thị trường nội địa, vốn lớn hơn cả xuất khẩu, thì chúng ta đang nói đến một ngành trị giá 75 tỷ đô la. Các bạn có thể hưởng lợi từ tất cả các hỗ trợ của chúng tôi, chẳng hạn như ưu đãi hội chợ thương mại, các đoàn thương mại, các đoàn mua hàng, mở cửa hàng hóa kho bãi và hỗ trợ hậu cần...".

Ngoài ra, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đang tập trung chuyển hướng về xuất khẩu điện tử và đang đàm phán tích cực với EU, Vùng Vịnh, Caucasus, Trung Đông và các nước cộng hòa Turkic, là những khu vực quan trọng trong lĩnh vực này.

Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ vẫn đặt dệt may ở vị trí ưu tiên. Theo đánh giá của nhiều tổ chức nghiên cứu quốc tế, ngành dệt may toàn cầu đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh nhất kể từ sau đại dịch COVID-19. Các thương hiệu thời trang lớn không còn đặt mục tiêu tối ưu hóa chi phí bằng mọi giá mà chuyển sang ưu tiên khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh đó, Thổ Nhĩ Kỳ nổi lên như một trong những trung tâm sản xuất hưởng lợi rõ rệt nhờ ba lợi thế chiến lược.

Thứ nhất, vị trí địa lý đặc biệt. Chỉ mất vài ngày để hàng hóa từ Thổ Nhĩ Kỳ đến các trung tâm phân phối của châu Âu, trong khi hàng hóa từ Đông Nam Á cần nhiều tuần. Điều này giúp các thương hiệu thời trang rút ngắn chu kỳ thiết kế - sản xuất - phân phối, đặc biệt đối với mô hình thời trang nhanh (fast fashion).

Thứ hai, chuỗi cung ứng khép kín. Khác với nhiều quốc gia chỉ mạnh ở khâu gia công, Thổ Nhĩ Kỳ phát triển tương đối đồng bộ từ sợi, dệt, nhuộm, hoàn tất đến may mặc và thiết kế. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể phản ứng nhanh trước biến động của thị trường.

Thứ ba, năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn xanh. Khi châu Âu siết chặt các yêu cầu về phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ đã đầu tư mạnh vào công nghệ tiết kiệm năng lượng, xử lý nước thải, tái chế sợi và số hóa quản lý sản xuất. Đây là lợi thế cạnh tranh ngày càng quan trọng.

Ở góc độ kinh tế vĩ mô, dệt may không chỉ là ngành xuất khẩu mà còn là ngành có tác động lan tỏa lớn. Mỗi đơn hàng dệt may kéo theo nhu cầu đối với bông, sợi, hóa chất, thuốc nhuộm, bao bì, vận tải, tài chính, bảo hiểm, thiết kế, thương mại điện tử và logistics. Vì vậy, bảo vệ ngành dệt may đồng nghĩa với bảo vệ cả một hệ sinh thái công nghiệp và hàng triệu việc làm. Chính vì vậy, phát biểu của Bộ trưởng Thương mại Thổ Nhĩ Kỳ Bolat: "Không có quốc gia nào từ bỏ con gà đẻ trứng vàng" không đơn thuần là lời động viên doanh nghiệp, mà phản ánh quan điểm điều hành: duy trì sản xuất công nghiệp trong nước là yếu tố cốt lõi để bảo đảm tăng trưởng, xuất khẩu và ổn định kinh tế vĩ mô.

So sánh chiến lược cạnh tranh của các trung tâm dệt may lớn

Thị trường

Lợi thế cạnh tranh

Thách thức

Trung Quốc

Chuỗi cung ứng hoàn chỉnh, quy mô sản xuất lớn, công nghệ cao

Chi phí lao động tăng, căng thẳng thương mại, đa dạng hóa nguồn cung

Bangladesh

Chi phí sản xuất thấp, năng lực gia công lớn

Giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc đơn hàng gia công, áp lực về tiêu chuẩn lao động

Ấn Độ

Nguồn nguyên liệu bông dồi dào, thị trường nội địa lớn

Hạ tầng logistics và tính đồng bộ chuỗi cung ứng còn cần cải thiện

Việt Nam

Mạng lưới FTA rộng, môi trường đầu tư ổn định, năng lực sản xuất tốt

Phụ thuộc nguyên phụ liệu nhập khẩu, áp lực chuyển đổi xanh

Thổ Nhĩ Kỳ

Gần châu Âu, giao hàng nhanh, chuỗi cung ứng hoàn chỉnh, thiết kế mạnh

Chi phí lao động và tài chính cao hơn nhiều nước châu Á

Bảng so sánh trên cho thấy mỗi quốc gia có lợi thế riêng. Trong khi Trung Quốc và Bangladesh tiếp tục cạnh tranh về quy mô và chi phí, Thổ Nhĩ Kỳ chuyển trọng tâm sang chất lượng, tốc độ và giá trị gia tăng. Đây cũng là xu hướng mà ngành dệt may Việt Nam cần hướng tới.

Bài học kinh nghiệm cho ngành dệt may Việt Nam

Thương vụ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ khuyến nghị, thay vì chỉ nhìn Thổ Nhĩ Kỳ là đối thủ, doanh nghiệp Việt Nam nên xem đây là đối tác bổ trợ trong chuỗi giá trị. Doanh nghiệp sản xuất sợi, vải và phụ liệu có thể mở rộng cung ứng cho các nhà sản xuất Thổ Nhĩ Kỳ khi nhu cầu nguyên liệu chất lượng cao gia tăng. Doanh nghiệp hóa chất, thuốc nhuộm và vật liệu mới có cơ hội tham gia vào quá trình chuyển đổi xanh của ngành dệt may Thổ Nhĩ Kỳ. Doanh nghiệp cơ khí và tự động hóa có thể hợp tác cung cấp thiết bị phục vụ số hóa và nâng cao năng suất. Doanh nghiệp logistics có thể khai thác các tuyến vận tải kết nối Việt Nam - Thổ Nhĩ Kỳ - châu Âu, góp phần đa dạng hóa hành lang thương mại. Doanh nghiệp thời trang và xây dựng thương hiệu có thể tận dụng kinh nghiệm của Thổ Nhĩ Kỳ trong thiết kế và phát triển sản phẩm để nâng cao giá trị gia tăng.

Phát biểu của Bộ trưởng Thương mại Thổ Nhĩ Kỳ Ömer Bolat cũng gợi mở nhiều bài học cho Việt Nam. Trong bối cảnh dệt may vẫn là ngành xuất khẩu chủ lực, mục tiêu không nên chỉ là tăng kim ngạch mà cần nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Điều đó đòi hỏi phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ để giảm phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu; đầu tư vào thiết kế, xây dựng thương hiệu và nghiên cứu phát triển (R&D); đẩy nhanh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các thị trường lớn; đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do và mở rộng hợp tác với các trung tâm sản xuất có tính bổ trợ như Thổ Nhĩ Kỳ.

dệt may Việt Nam
Doanh nghiệp Việt Nam cần chuyển từ chiến lược “gia công để tăng trưởng” sang “tạo giá trị để phát triển”, qua đó nâng cao vị thế của ngành dệt may trên bản đồ thương mại thế giới. (Trong ảnh: Sản xuất tại Tổng Công ty CP May 10; ảnh: TCCT/Hoàng Phương)

Phát biểu của Bộ trưởng Ömer Bolat không chỉ là sự khẳng định vị thế của ngành dệt may Thổ Nhĩ Kỳ mà còn phản ánh một xu thế lớn của thương mại toàn cầu: lợi thế cạnh tranh đang chuyển từ "chi phí thấp" sang "chuỗi cung ứng an toàn, linh hoạt, xanh và có giá trị gia tăng cao".

Đối với Việt Nam, đây vừa là áp lực cạnh tranh, vừa là cơ hội để tái cơ cấu ngành dệt may theo hướng bền vững hơn. Nếu chủ động đầu tư vào công nghệ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, phát triển thương hiệu và mở rộng hợp tác quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ giữ vững vị thế tại các thị trường truyền thống mà còn có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, trong đó Thổ Nhĩ Kỳ là một mắt xích quan trọng kết nối châu Âu, Trung Đông và Bắc Phi.

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, bài học từ Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy năng lực cạnh tranh của ngành dệt may không còn được quyết định chủ yếu bởi chi phí lao động, mà bởi khả năng xây dựng một hệ sinh thái sản xuất hiện đại, chuỗi cung ứng linh hoạt và năng lực đổi mới sáng tạo. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, đây là thời điểm thích hợp để chuyển từ chiến lược “gia công để tăng trưởng” sang “tạo giá trị để phát triển”, qua đó nâng cao vị thế của ngành dệt may trên bản đồ thương mại thế giới.