5 lĩnh vực cốt lõi đều phát triển
Nhiệm vụ đó là phải kiên quyết thực hiện các mục tiêu trọng yếu,
nhất là nhiệm vụ tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí hiệu quả, vững chắc với quy hoạch phát
triển lâu dài, ổn định; đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Mặc dù các ngành kinh tế khác cũng đang phát triển trong cơ cấu
kinh tế đất nước, song Petrovietnam giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, năm 2014
vẫn đóng góp đến 21% trong ngân sách Nhà nước (trong đó từ xuất khẩu dầu thô chiếm khoảng 10%) và
vẫn có năng lực cạnh tranh ở trong nước và quốc tế, đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh và
đầu tư phát triển bằng việc sử dụng tối ưu các nguồn lực sẵn có; tiếp tục tập trung vào các lĩnh
vực sản xuất kinh doanh là: Tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, chế biến và kinh doanh các sản
phẩm dầu khí, công nghiệp khí, công nghiệp điện và các dạng dịch vụ kỹ thuật dầu khí. Tập đoàn luôn
đề cao việc phát triển bền vững với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm an ninh quốc phòng, góp
phần tăng cường sức mạnh bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.
Năm 2015 là năm cuối thực hiện kế hoạch 5 năm 2011-2015
và chiến lược 10 năm 2006-2015; với một tập thể các thế hệ lãnh đạo và người lao động đoàn kết, trí
tuệ, chung sức chung lòng, dám làm và dám chịu trách nhiệm, Tập đoàn đã hoàn thiện chuỗi giá trị dầu khí, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về quản
lý và điều hành trên cơ sở hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện tốt Kết luận 41 của Bộ Chính trị,
Thông báo số 148 của Bộ Chính trị; Luật Doanh nghiệp, Luật Dầu khí do Quốc hội thông qua; Điều lệ
tổ chức và hoạt động cũng như Quy chế Tài chính của Tập đoàn được Thủ tướng Chính phủ ban hành.

Giàn khai thác dầu khí trên Biển Đông của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Đến nay, Tập đoàn đã bổ sung được nhiều cán bộ trẻ có năng lực, đội ngũ cán
bộ khoa học kỹ thuật công nghệ và quản lý, công nhân kỹ thuật có tay nghề cao và đặc thù trong Tập
đoàn, kể cả cán bộ công tác Đảng và các đoàn thể không ngừng lớn mạnh cả về chất và lượng. Hội Dầu
khí Việt Nam tập trung các nhà khoa học, quản lý luôn đứng bên, sát cánh tư vấn và hỗ trợ Tập đoàn
trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng như làm tốt công tác tư vấn, phản biện.
Hoạt động Dầu khí giai đoạn 2011-2014 tiếp tục vẫn đảm bảo
là mục tiêu thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt những năm qua đã được lan rộng trong tất cả
các khâu từ thượng nguồn đến trung nguồn và hạ nguồn cũng như các khâu thương mại và dịch vụ Dầu
khí. Với các hoạt động Dầu khí trong và ngoài nước tích cực như vậy, đã đảm bảo cho chiến lược an
ninh năng lượng, an ninh lương thực của nước ta.
Các chỉ tiêu Chính phủ giao cho Tập đoàn giai đoạn 2011-2014 đã
được lãnh đạo và người lao động Dầu khí triển khai thực hiện vượt mức ở tất cả các khâu chủ yếu,
trên tất cả các lĩnh vực. Tìm kiếm thăm dò và khai thác Dầu khí được triển khai tích cực ở trong và
ngoài nước, công tác khảo sát, điều tra cơ bản, kêu gọi đầu tư nước ngoài vào những khâu còn mở,
vùng nước sâu và xa bờ thu được những kết quả quan trọng. Có nhiều phát hiện Dầu khí mới cả trong
và ngoài nước và nhiều hợp đồng Dầu khí được ký kết. Các mỏ Dầu khí được khai thác an toàn và hiệu
quả ở cả trong và ngoài nước. Kiểm soát tốt tiến độ phát triển mỏ, tổng sản lượng khai thác Dầu khí
đều đạt vượt kế hoạch qua các năm. Các đường ống dẫn khí được vận hành an toàn và hiệu quả, đảm bảo
tốt công tác duy tu bảo dưỡng, sửa chữa hệ thống cấp khí theo đúng lộ trình kế hoạch và tiến độ
mang lại hiệu quả cao về kinh tế và khoa học công nghệ. Đã cung cấp trên hàng chục tỉ m3
khí cho các hộ tiêu thụ công nghiệp và dân cư trong nước. Hằng năm đã đảm bảo cung cấp khí để sản
xuất Điện tại tổ hợp Điện Phú Mỹ, NhơnTrạch và Cà Mau; cung cấp khí để sản xuất hàng triệu tấn phân
đạm/năm phục vụ nền nông nghiệp nước nhà, đáp ứng khoảng 70% nhu cầu đạm cả nước.
Công nghiệp Chế biến Dầu khí đã hoàn thành đầu tư và đưa vào vận
hành an toàn và hiệu quả các nhà máy thuộc lĩnh vực Dầu khí như: Nhà máy Lọc Dầu Dung Quất,
Polypropylen Dung Quất, các nhà máy Đạm Phú Mỹ, Cà Mau và nhà máy chế biến Condensate. Các nhà máy
vận hành thương mại đều hoạt động hết công suất danh định và tối ưu. Các sản phẩm xăng dầu từ các
nhà máy của Tập đoàn hằng năm đáp ứng khoảng trên 30% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu các hộ công nghiệp
và thị trường trong nước.
Ở lĩnh vực công nghiệp điện, Tập đoàn đã hoàn thành và đưa vào vận
hành thương mại các dự án điện như: Nhơn Trạch 2 với công suất 750MW, Nhà máy Thủy điện Hủa Na công
suất 180MW và Nhà máy Phong điện Phú quý công suất 6MW. Tính đến cuối năm 2014 tổng công suất của
các nhà máy Điện của Tập đoàn đạt hàng tỷ kWh. Tổng sản lượng điện Tập đoàn hoàn thành vượt chỉ
tiêu kế hoạch mà Chính phủ giao, đặc biệt là đảm bảo trong các mùa khô hằng năm, đảm bảo cung cấp
và phát triển dịch vụ dầu khí.
Các dịch vụ dầu khí đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động dầu
khí, thu hút tối đa các thành phần kinh tế tham gia, hầu hết các đơn vị dịch vụ dầu khí đều đã thực
hiện cổ phần hóa và hoạt động có hiệu quả, trong cơ cấu tổng doanh thu của Tập đoàn thì dịch vụ dầu
khí chiếm khoảng 30% doanh số của Tập đoàn. Các đơn vị đã tập trung triển khai theo phương án tái
cấu trúc Tập đoàn được Thủ tướng phê duyệt.
Có cơ sở vật chất, nguồn nhân lực chất lượng
cao
Tăng trưởng kinh tế của Tập đoàn với tốc độ năm sau cao hơn năm
trước; quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu tăng vượt trội, tổng tài sản đạt trên 35 tỉ USD, vốn điều
lệ Thủ tướng giao vào ngày 1-7-2010 là gần 178.000 tỷ đồng, tương đương gần 8 tỉ USD; thì đến nay tăng
gấp 2 lần, thể hiện Tập đoàn đã bảo toàn và phát triển được vốn một cách mạnh mẽ.
Trước đây phần lớn thu nhập và nộp ngân sách Nhà nước chủ yếu từ
xuất khẩu dầu thô, nay đã thay đổi cơ cấu chủ yếu theo mô hình 40-30-30; có nghĩa là từ dầu thô
khoảng 40%, từ các sản phẩm công nghiệp từ nguồn dầu khí như lọc dầu, sản xuất điện, đạm... chiếm
30%; phần còn lại 30% là các dịch vụ dầu khí chuyên ngành kỹ thuật cao.
Các chỉ số sản xuất kinh doanh của Tập đoàn chặng đường 5 năm
2011-2015 về cơ bản sẽ đạt và vượt kế hoạch: Ước thực hiện giá trị sản xuất công nghiệp như: Gia
tăng trữ lượng bình quân hằng năm đạt 42 triệu tấn. Khai thác dầu thô ước đạt 130 triệu tấn/kế
hoạch 128,77 triệu tấn quy dầu. Trong đó khai thác khí ước 47,6 tỉ m3/kế hoạch là 47,11
tỉ m3. Các sản phẩm: Đạm Urê 6,94 triệu tấn/6,88 triệu tấn. Điện ước đạt đúng theo kế
hoạch là 79,85 tỉ kWh; Sản phẩm lọc dầu ước đạt 31,5 triệu tấn/kế hoạch 30,54 triệu tấn. Sản phẩm
nhiên liệu sinh học sẽ tăng 1,5 lần so với kế hoạch, đạt gần 92 ngàn tấn; sản phẩm sơ sợi phấn đấu
hoàn thành kế hoạch.
Tổng doanh thu và nộp ngân sách Nhà nước trong điều kiện giá dầu
bắt đầu xuống thấp từ quý III/2014, tuy vậy Tập đoàn phấn đấu đạt theo kế hoạch được giao 5 năm là
3 triệu 591 ngàn tỉ đồng doanh số và 842 ngàn tỉ đồng nộp ngân sách Nhà nước, tăng bình quân trên
16%/năm. Các khoản nộp ngân sách Nhà nước tăng bình quân khoảng 11%/năm.
Trong
điều kiện nền kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng, kinh tế đất nước bước đầu phục hồi, Tập đoàn
vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng, phát triển sản xuất kinh doanh trên 5 lĩnh vực, trong đó công tác
tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí vẫn được triển khai mạnh mẽ trong và ngoài nước. Đặc biệt
trong những năm 2012-2014, ngân sách Nhà nước có khó khăn thì Tập đoàn đã đóng góp vượt mức chỉ tiêu
nộp NSNN. Quy mô tài sản, vốn chủ sở hữu của Tập đoàn tăng vượt trội, tổng tài sản hợp nhất của Tập
đoàn tăng bình quân hơn 16% mỗi năm; vốn chủ sở hữu hợp nhất tăng 15,5% mỗi năm.
Trong chiến lược 5 năm tiếp theo (2016-2020) Tập đoàn tiếp tục đảm
bảo sản lượng khai thác dầu khí theo chương trình công tác và ngân sách của các dự án do Tập đoàn
trực tiếp đầu tư, của Tổng Công ty Thăm dò và Khai thác Dầu khí, Liên doanh Dầu khí Việt - Nga và
của các nhà thầu dầu khí; hằng năm phấn đấu gia tăng trữ lượng phát hiện dầu khí đạt 35-45 triệu
tấn dầu quy đổi, sản lượng khai thác dầu khí đạt 25-27 triệu tấn quy dầu; phát triển thị trường khí
quy mô; tiếp tục thúc đẩy đầu tư nâng cấp Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Nhà máy Nghi Sơn, Hóa dầu Long
Sơn... Sản xuất ổn định các nhà máy lọc hoá dầu, khí, điện, đạm, ethanol sinh học, tăng dần công
suất thực tế nhà máy xơ sợi, các dự án hóa dầu từ khí khác. Huy động hiệu quả và tối ưu công suất
các nhà máy điện. Tiếp tục thu hút tối đa các hoạt động dịch vụ dầu khí nhằm tăng nhanh tỷ trọng
dịch vụ trong hoạt động dầu khí.
Với các chỉ tiêu sản lượng và đầu tư của 5 lĩnh vực sản xuất kinh
doanh của Tập đoàn, ước thực hiện của giai đoạn kế hoạch 5 năm mặc dù một số công trình phải giãn,
dừng đầu tư; một số dự án thay vì PVN phải đầu tư toàn bộ thì kế hoạch điều chỉnh cho giai đoạn này
Tập đoàn chỉ đầu tư một phần, còn lại các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đầu tư và như vậy sẽ giảm áo lực
về vốn cho Tập đoàn, ví dụ như Dự án Lọc dầu Nghi sơn, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chỉ phải bỏ vốn
đầu tư theo tỷ lệ phần trăm nhất định. Mặc dù Tập đoàn có trình Thủ tướng điều chỉnh một số chỉ
tiêu, nhưng chỉ tiêu tăng trưởng doanh thu và nộp ngân sách Nhà nước vẫn sẽ tăng;
Để thực hiện thành công nhiệm vụ trên, Tập đoàn dự báo gặp khó khăn
như: Giá dầu thô giảm mạnh 50-60% so với các tháng, năm trước quý III/2014. Nền kinh tế thế giới
còn có những khó khăn sau giai đoạn khủng hoảng những năm qua vẫn ảnh hưởng đến hoạt động SXKD ở
trong và nước.
Công tác tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí ngày càng khó khăn
do giá thành cao, phải triển khai các lô xa bờ, vùng nước sâu. Hoạt động dầu khí đòi hỏi nguồn vốn
lớn, đặc biệt là nguồn ngoại tệ cho các dự án ở trong và ngoài nước. Đặc biệt hiện nay Tập đoàn
phải đầu tư các các dự án lọc hóa dầu, các nhà máy điện; trong khi Tập đoàn phải chia sẻ khó khăn
của ngân sách. Sự cạnh tranh ngày càng tăng của các công ty xuyên quốc gia. Một số tập đoàn kinh tế
Nhà nước hoạt động sút giảm cũng ảnh hưởng đến Tập đoàn. Một số dự án như nhiên liệu sinh học, xơ
sợi kinh doanh chưa hiệu quả do thị trường giảm sút. Hệ thống chính sách, cơ chế đang trong quá
trình hoàn thiện.
Để đạt được mục tiêu và vượt qua những khó khăn thách thức thì Tập
đoàn Dầu khí Việt Nam đã có các giải pháp về quản trị doanh nghiệp, về tài chính và thu xếp vốn,
tiếp tục xúc tiến đầu tư, làm tốt công tác thông tin dự báo thị trường. Phát triển nguồn nhân lực
có chất lượng theo yêu cầu từng lĩnh vực; giải pháp quan trọng là khoa học và công nghệ; Đảm bảo an
toàn môi trường sinh thái, đảm bảo an ninh và an toàn cho các hoạt động dầu khí.
Với chặng đường còn lại, được sự chỉ đạo của các cấp ở Trung ương
và phối hợp của các địa phương, cũng như của các đối tác và nhà đầu tư, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
sẽ phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu 5 năm 2011-2015 được Nhà nước giao.
