Giành chính quyền chưa được bao lâu thì chúng ta lại ở vào tình thế buộc phải đứng lên cầm súng tự vệ. Nhưng cũng chính trong thời điểm khó khăn đó, những người làm công nghiệp lại một lần nữa tỏ rõ bản lĩnh của mình. Với sự ủng hộ và giúp đỡ của đồng bào cả nước, hàng nghìn tấn thiết bị của các nhà máy đã được tháo dỡ, bí mật đưa lên chiến khu để chuẩn bị phục vụ cho kháng chiến lâu dài. Công nghiệp Việt Nam, bao gồm cả lực lượng tiểu, thủ công nghiệp phân tán trong dân, dù trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn - vẫn bảo đảm cơ bản những nhu cầu thiết yếu cho đồng bào và cán bộ, chiến sỹ trong vùng kháng chiến. Đặc biệt, lực lượng công nghiệp trong các công binh xưởng đã trực tiếp chế tạo ra các loại vũ khí thông thường và các loại quân trang phục vụ cho bộ đội, góp phần rất quan trọng vào thắng lợi chung của cả dân tộc với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.
Từ 5/1954 đến 5/1975, trong hoàn cảnh một nửa nước còn đang có chiến tranh, Công nghiệp Việt Nam vừa phải xây dựng một nền sản xuất tiến dần lên cơ khí hoá và tự động hoá, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, một mặt phải tiếp tục sản xuất chi viện cho chiến trường miền Nam. Với chủ trương khôi phục, phát triển kinh tế và cải tạo công thương nghiệp, chỉ sau một thời gian ngắn, công nghiệp miền Bắc đã nhanh chóng lấy lại được nhịp độ sản xuất. Năm 1960, giá trị sản xuất của CNQD đạt gấp 25 lần so với năm 1955; cơ cấu công nghiệp có sự thay đổi đáng kể; đã hình thành hệ thống công nghiệp bao gồm ba bộ phận chủ yếu là QDTW, QDĐP và TTCN, HTX. Năm 1964, miền Bắc bắt đầu phải chống chọi với cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt bằng không quân của đế quốc Mỹ. Các cơ sở công nghiệp vừa phải sơ tán để bảo toàn lực lượng, vừa phải dành một lực lượng lao động trẻ, khoẻ cho chiến trường, khó khăn chồng chất.... Thông qua các phong trào thi đua “Thanh niên ba sẵn sàng, phụ nữ ba đảm đang”, “Vững tay búa, chắc tay súng”, hay các khẩu hiệu thi đua trong từng ngành như: “Giữ vững dòng điện như mạch máu”, “Vải không thiếu một phân, quân không thiếu một người”... lực lượng công nhân bất chấp hiểm nguy, vẫn bám trụ để sản xuất. Các sản phẩm công nghiệp quan trọng tiếp tục được duy trì. Những điển hình tiên tiến trên mặt trận sản xuất công nghiệp trong giai đoạn này luôn là những tấm gương để nhiều thế hệ công nhân Việt Nam noi theo.
Miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước bước vào giai đoạn lịch sử mới. Đại hội IV của Đảng đã xác định nội dung chủ yếu của công nghiệp hoá XHCN trong chặng đường trước mắt là: “Tập trung sức phát triển công nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn XHCN, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng”. Giai đoạn này, công nghiệp được đầu tư lớn, chiếm trên 40% tổng vốn đầu tư vào khu vực sản xuất. Trong đó, đầu tư cho nhóm A là trên 70% . Nhiều công trình công nghiệp lớn của Nhà nước được xây dựng, như các nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, Thuỷ điện Hoà Bình, Trị An; khu dầu khí Vũng Tàu; các nhà máy xi măng Bỉm Sơn, Hoàng thạch, Hà Tiên; các nhà máy sợi Hà Nội, Vinh, Huế, Nha Trang; các nhà máy giấy Bãi Bằng, Tân Mai v.v... nhiều cụm cơ khí được đầu tư mới và mở rộng. Năng lực sản xuất toàn quốc tăng mạnh. Khu vực công nghiệp địa phương, đặc biệt là TTCN cũng có bước phát triển khá.
Tuy vậy, do những hạn chế của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và cơ chế quản lý hành chính, quan liêu, bao cấp, nên khu vực CNQD tăng trưởng chậm, nhiều cơ sở sản xuất bị đình đốn. Với sự năng động sáng tạo của mình, Công nghiệp Việt Nam lại một lần nữa vượt lên. Nếu trong sản xuất nông nghiệp có cơ chế khoán sản phẩm nổi tiếng, thì cơ chế tự cân đối, tự chủ về tài chính đã xuất hiện trong sản xuất công nghiệp. Các mô hình “Tự cân đối”, “Xuất khẩu tại chỗ”, “Xuất khẩu tam giác”... nhằm tạo quyền chủ động trong hoạt động của doanh nghiệp và tìm kiếm nguồn ngoại tệ, phục vụ cho việc nhập khẩu vật tư, nguyên liệu cho sản xuất, đã được thí điểm thực hiện và sau đó, nhân rộng trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Chính những kết quả này đã là những tiền đề cho TW Đảng và Chính phủ đề ra những cơ chế quản lý phù hợp trong phát triển kinh tế nói chung và trong công nghiệp nói riêng. Những suy thoái trong phát triển kinh tế đã bị chặn đứng. Cơ cấu các ngành công nghiệp cũng có những thay đổi quan trọng theo hướng đẩy mạnh các lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) là mốc lịch sử quan trọng, đã khẳng định và bổ sung, hoàn thiện các chủ trương đổi mới kinh tế, trong đó có nội dung đổi mới phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hoá XHCN; theo đó, nhận thức về công nghiệp hoá XHCN và cơ cấu kinh tế đã có những thay đổi, mà thực chất là cụ thể hoá và điều chỉnh nội dung của công nghiệp hoá XHCN cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế ở nước ta. Hơn một thập kỷ gần đây, công cuộc đổi mới tiếp tục được đẩy mạnh. Yêu cầu đặt ra đối với công nghiệp hoá ở giai đoạn này là không chỉ đơn giản tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của công nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới căn bản về công nghệ, khuyến khích sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, đẩy mạnh sản xuất hàng hoá. Kết quả: giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 1996 - 2000 đạt mức tăng trưởng bình quân 13,9%/ năm; giai đoạn 2001 - 2004 tăng 15,6%/năm. Những sản phẩm công nghiệp chủ yếu phục vụ sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu đều có mức tăng khá trong nhiều năm. Lần đầu tiên, đóng góp của công nghiệp và xây dựng vào tăng trưởng GDP toàn quốc đạt trên 40%. Những công trình mang tầm thế kỷ như Thủy điện Sơn La, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Cụm công nghiệp Khí - Điện - Đạm Cà Mau.... đã và đang được xây dựng sẽ tiếp tục có những đóng góp quan trọng, nhằm hướng tới những mục tiêu lớn hơn.
Những thành tựu của Công nghiệp Việt Nam 60 năm qua là rất đáng tự hào. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển đất nước và thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vẫn còn những khoảng cách lớn, đòi hỏi toàn ngành phải nỗ lực vượt qua. Chúng ta đang đứng trước yêu cầu phải khẩn trương xây dựng và thực hiện kế hoạch hội nhập kinh tế quốc tế với lộ trình hợp lý và chương trình hành động cụ thể. Giai đoạn hiện nay đầy thách thức, nhưng cũng là thời cơ chưa từng có để Công nghiệp Việt Nam có những đột phá mới. Đây là thời điểm cần phải nhanh chóng tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh quy hoạch, đổi mới cơ chế, chính sách, đẩy mạnh cải cách hành chính và cơ sở pháp luật, xác định đúng và ưu tiên đầu tư các ngành công nghiệp có khả năng và lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trong nước và đẩy mạnh phát triển kinh tế đối ngoại; cần tăng cường đổi mới công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật, phát triển mạnh các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghệ phần mềm, cơ khí chính xác, thiết bị toàn bộ, công nghiệp quốc phòng, hình thành các tập toàn công nghiệp lớn tầm cỡ khu vực và quốc tế song song với phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tăng cường công nghiệp chế biến, xuất khẩu, nhằm khai thác một cách hợp lý các tài nguyên...v..v..
Để thực hiện được những định hướng đó, phải xây dựng nhiều giải pháp cụ thể, đồng bộ, trong đó cần chú ý vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; hoàn thiện quan hệ sản xuất với ý nghĩa không chỉ là phương tiện, mà còn là mục tiêu để phát triển lực lượng sản xuất; coi trọng sự phát triển kinh tế độc lập tự chủ trong điều kiện mở cửa và hội nhập; đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá đang được coi là phương tiện quan trọng thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở hữu, tạo động lực để huy động đầu tư và quản lý tốt doanh nghiệp...v...v..
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu rõ: “...công nghiệp hoá là con đường tất yếu để chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế công nghiệp tiên tiến, hiện đại. Đối với Việt Nam chúng ta, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế”. Đây là vấn đề cần được cả nước nói chung và đặc biệt là toàn ngành Công nghiệp Việt Nam quán triệt, trước hết trong nhận thức, và phải bằng hành động để làm cho mục tiêu ấy trở thành hiện thực. Trên con đường thực hiện mục tiêu quyết định và có ý nghĩa sống còn này của dân tộc, Công nghiệp Việt Nam đóng vai trò quan trọng và nòng cốt.
