PV: Xin Thứ trưởng cho biết một cách khái quát về tình hình nhập siêu của Việt Nam , đặc biệt là của ngành Công Thương trong những năm gần đây?
Thứ trưởng Nguyễn Thành Biên: Kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, xuất nhập khẩu của Việt Nam đã có những bước tăng trưởng vượt bậc cả về quy mô và tốc độ. Hai năm đầu gia nhập WTO đã cho thấy sự tăng trưởng đột biến về nhập khẩu và nhập siêu. Trong khi xuất khẩu hai năm 2007-2008 chỉ tăng bình quân 25,5%/năm thì nhập khẩu lại tăng đến 34,2%.
Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu giai đoạn 2007-2009 đã có chuyển biến tích cực hơn so với các giai đoạn trước đây.
Từ năm 2007 đến nay, tỷ trọng nhập khẩu của "nhóm mặt hàng cần thiết phải nhập khẩu, gồm nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị và phụ tùng" luôn đạt trên 80% tổng kim ngạch nhập khẩu. Cụ thể là, cơ cấu nhóm hàng cần nhập khẩu chiếm 81,6% trong cơ cấu nhập khẩu cả nước, trong khi các giai đoạn trước chỉ chiếm khoảng 75-80%. Trong khi đó "nhóm mặt hàng nhập khẩu tuy vẫn cần thiết nhưng cần phải kiểm soát" giai đoạn 2007-2009 đạt 26 tỷ USD và chiếm tỷ trọng 12,2% trên tổng kim ngạch nhập khẩu.
Một loại mặt hàng nữa là "nhóm mặt hàng cần hạn chế nhập khẩu: hàng tiêu dùng (gồm cả điện thoại di động), ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ, xe máy nguyên chiếc" giai đoạn 2007-2009 đạt 13 tỷ USD và chiếm tỷ trọng 6,2% trên tổng kim ngạch nhập khẩu.
Còn xét theo khu vực thị trường, Việt Nam có thâm hụt thương mại duy nhất với châu Á và thặng dư thương mại với tất cả các châu lục còn lại. Trong đó, Việt Nam nhập siêu chủ yếu từ Trung Quốc. Ấn Độ, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Thái Lan. Chỉ tính riêng nhập siêu từ 7 nước trên thì trong 3 năm 2007-2009, chúng ta đã nhập siêu hơn 94 tỷ USD. Đối với Trung Quốc, nhập khẩu từ thị trường này chiếm gần 1/4 tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.
PV: Theo Thứ trưởng, đâu là nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng nhập siêu như vậy?
Thứ trưởng Nguyễn Thành Biên: Việc nhập khẩu công nghệ hiện đại và nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu là thực sự cần thiết đối với mỗi nước, nhất là đối với nước ta, khi hầu hết thiết bị vật tư nguyên nhiêu liệu phục vụ cho sản xuất đều phải nhập khẩu. Có thể chỉ ra những nguyên nhân sau:
- Thứ nhất, nền kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng cao. GDP bình quân giai đoạn 2007-2009 đạt 6,68%/năm, sản xuất công nghiệp tăng 16%/năm và xuất khẩu tăng trưởng 14%/năm, vốn FDI và ODA thực hiện đạt khá. Sau 3 năm Việt Nam vào WTO (2007-2009), tổng vốn FDI đăng ký mới gấp hơn 2,5 lần tổng vốn FDI đăng ký của 19 năm trước cộng lại. Điều này dẫn đến nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất phục vụ nền kinh tế tăng mạnh.
- Thứ hai, giá nguyên nhiên vật liệu tăng. Hệ quả của giá dầu thô ở mức cao trong 2 năm 2007, 2008 tuy có góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu, nhưng lại đẩy giá những sản phẩm nhập khẩu có nguồn gốc dầu mỏ như xăng dầu, phân bón, hoá chất, chất dẻo tăng mạnh. Trong khi giá nguyên liệu nhập khẩu tăng cao nhưng giá trị sản phẩm xuất khẩu lại tăng ở mức thấp, không tương xứng với mức tăng giá nguyên liệu đầu vào. Điều này dẫn đến việc sản xuất hàng xuất khẩu (từ nguyên liệu nhập khẩu) kém hiệu quả, nhập siêu tăng lên.
- Thứ ba, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý và hiệu quả chưa cao. Việc tăng vốn đầu tư chưa thực sự dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội và nâng cao hiệu quả, nên tăng trưởng chưa thật vững chắc, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng chưa cao. Thu hút đầu tư hiện nay vào các lĩnh vực không tạo ra hàng hóa xuất khẩu còn chiếm tỷ trọng lớn, vì vậy không thu lại ngoại tệ để cân đối cho nhập khẩu.
- Thứ tư, công nghiệp phụ trợ chưa được quan tâm phát triển, chưa khai thác triệt để nguồn nguyên liệu tại chỗ cho sản xuất hàng trong nước và xuất khẩu. Từ cơ cấu hàng hoá nhập khẩu trong thời gian qua, một vấn đề đặt ra là khâu sản xuất hàng phụ trợ, vật tư nguyên liệu cho mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vẫn phải sử dụng hoàn toàn nguyên, phụ liệu nhập khẩu như máy vi tính, linh kiện điện tử, dây điện, cáp điện. Nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước luôn ở mức cao đối với các mặt hàng thiết yếu trong nước chưa sản xuất được (hoặc sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu) như: xăng dầu, phân bón các loại, máy móc thiết bị, sắt thép các loại, nguyên phụ liệu dệt may da và vải các loại, hoá chất và các sản phẩm hoá chất.... Trong cơ cấu hàng nhập khẩu thì máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất chiếm 82% tổng kim ngạch. Những mặt hàng này không thể hạn chế, do đây là nguyên liệu đầu vào của sản xuất, nhập khẩu để chuẩn bị cho chu kỳ sản xuất sau.
Trong bối cảnh nước ta hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và quốc tế, hàng rào thuế quan dần bị dỡ bỏ đối với hầu hết các dòng thuế, do vậy nhìn chung không thể sử dụng chính sách thuế để hạn chế nhập khẩu. Trong khi đó, việc triển khai các biện pháp kỹ thuật vẫn đang còn hạn chế, chưa đồng bộ.
PV: Theo thống kê, hơn 80% giá trị nhập siêu là các nguyên phụ liệu, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất của ngành Công nghiệp. Với tư cách là Bộ chủ quản, xin Thứ trưởng cho biết, trách nhiệm của Bộ Công Thương cũng như vai trò điều tiết của Bộ trong lĩnh vực này thế nào?
Thứ trưởng Nguyễn Thành Biên: Bộ Công Thương đã chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành đưa ra nhiều giải pháp ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu, hạn chế nhập siêu. Trong đó có một số giải pháp như:
- Tăng cường công tác kiểm tra chất lượng hàng hoá nhập khẩu và sử dụng hàng rào kỹ thuật để hạn chế nhập khẩu.
- Ban hành danh mục các mặt hàng thiết yếu trong nước đã sản xuất được như đường, muối, sản phẩm sắt thép, phân NPK cần hạn chế tiếp cận ngoại tệ.
- Ban hành Quyết định số 2840/QĐ-BCT ngày 28/5/2010 về việc ban hành danh mục máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu trong nước đã sản xuất được. Danh mục này làm căn cứ cho các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo thực hiện không khuyến khích nhập khẩu và hạn chế tiếp cận ngoại tệ.
- Ban hành Thông tư số 23/2010/TT-BCT quy định việc nhập khẩu muối theo hướng thương nhân được cấp phép nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan chỉ được nhập khẩu 3 loại muối phục vụ cho sản xuất dược phẩm, thực phẩm, hóa chất và việc nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan với tất cả các loại muối phải được sự chấp thuận về chất lượng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Bên cạnh đó, ngày 14/7/2010, Bộ Công Thương đã ban hành Chỉ thị số 18/CT-BCT về việc thực hiện các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, hạn chế nhập siêu. Các nội dung cơ bản là:
+ Đánh giá về nhu cầu nhập khẩu của các Tập đoàn, Tổng công ty và đề xuất các biện pháp để đạt được cả hai mục đích là bảo đảm việc nhập khẩu hợp lý và tăng cường sử dụng hàng sản xuất trong nước.
+ Làm việc với các chủ đầu tư, chủ dự án trong lĩnh vực công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, nhiệt điện, thủy điện, xi măng... để xác định các chủng loại vật tư, máy móc, thiết bị trong nước đã sản xuất được, bảo đảm chất lượng phù hợp để tổ chức đấu thầu hoặc chỉ định thầu trong nước, thay thế nhập khẩu trên cơ sở các quy định hiện hành của pháp luật về đấu thầu.
+ Đánh giá và kiến nghị biện pháp quản lý nhập khẩu và đầu tư chặt chẽ đối với các dự án ngành thép quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, tiêu hao năng lượng lớn.
- Ban hành Chỉ thị số 21/CT-BCT ngày 26/8/2010 về việc thực hiện các biện pháp tăng cường sử dụng máy móc thiết bị, vật tư, nguyên liệu trong nước sản xuất được trong công tác đấu thầu.
- Hàng tháng, tổ chức họp giao ban xuất nhập khẩu với các Bộ, ngành, Hiệp hội, Tập đoàn, Tổng công ty lớn để tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh xuất khẩu và quản lý nhập khẩu.
PV: Được biết, trong năm qua, Bộ Công Thương đã có nhiều giải pháp nhằm giảm tỷ trọng nhập siêu nhưng vẫn chưa giải quyết được bài toán: muốn giảm nhập siêu phải đẩy mạnh xuất khẩu, muốn tăng cường xuất khẩu buộc phải nhập nguyên phụ liệu, máy móc, thiết bị… Vậy theo Thứ trưởng, đâu là giải pháp đột phá mang tính quyết định nhằm giảm tỷ trọng nhập siêu xuống dưới 20% giá trị xuất khẩu theo yêu cầu của Chính phủ?
Thứ trưởng Nguyễn Thành Biên: Điều này phải tính đến các biện pháp trung và dài hạn. Căn cứ theo tình hình nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu trong giai đoạn vừa qua, nhu cầu của nền kinh tế trong thời gian tới và khả năng sản xuất trong nước, các nhóm mặt hàng sản xuất trong nước thay thế hàng nhập khẩu giai đoạn 2011 - 2015 sẽ là: Xăng dầu; Thép; Phân bón; Chất dẻo nguyên liệu; Hóa chất nguyên liệu và sản phẩm hóa chất; Sản phẩm cơ khí chế tạo... Bộ Công Thương sẽ theo dõi, kiểm tra tiến độ thực hiện các dự án sản xuất nêu trên theo Quy hoạch của từng ngành và giải quyết kịp thời những khó khăn vướng mắc để các dự án sớm đưa vào hoạt động.
Đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, tập trung vào các ngành như: dệt may, da giày, điện tử, cơ khí. Bộ Công Thương hiện đang phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Nghị định về các chính sách ưu đãi phát triển công nghiệp hỗ trợ trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III/2010.
PV: Xin cảm ơn Thứ trưởng!
Thứ trưởng Nguyễn Thành Biên: “Sẽ đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp phụ trợ”
Trước bối cảnh nhập siêu của nước ta vẫn đang tăng nhanh trong những năm vừa qua. Đâu là nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề này là gì? Tạp chí Công Nghiệp đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Công T
