Tiềm năng phát triển công nghiệp của tỉnh Tây Ninh
1. Khoáng sản
Tây Ninh có tiềm năng về một số loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng trong đó có khoáng sản làm xi măng là loại nhiều tỉnh trong vùng không có; đất sét làm gạch ngói, đá, cát xây dựng mà một số tỉnh xung quanh đã có những hạn chế. Trữ lượng các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng khá lớn, chất lượng tốt, cụ thể:
+ Đá vôi xi măng: 3 mỏ, trữ lượng B + C1 + C2: 69,36 triệu tấn; tài nguyên P: 121,77 triệu tấn (tính đến cốt trừ - 50m dự báo 805,632 triệu tấn)
+ Đất sét xi măng: 5 mỏ, trữ lượng B + C1 + C2: 16,5 triệu tấn; P: 67,13 triệu tấn
+ Phụ gia xi măng: 6 mỏ, tài nguyên dự báo 24,6 triệu tấn.
+ Cao lanh: 10 mỏ, tài nguyên dự báo 20,43 triệu tấn
+ Đất sét gạch ngói: 57 mỏ, tài nguyên dự báo 284,388 triệu m3
+ Đá xây dựng và ốp lát: 7 mỏ, tài nguyên dự báo 84,72 triệu m3
+ Cuội sỏi: 9 mỏ, tài nguyên dự báo 8,66 triệu m3
+ Cát xây dựng: 22 mỏ, tài nguyên dự báo 42,3 triệu m3
+ Đất phún san lấp: 16 điểm mỏ, tài nguyên dự báo 92,28 triệu m3
+ Laterit san lấp: 43 điểm mỏ, tài nguyên dự báo 94,65 triệu m3
2. Cung cấp điện, nước
* Hệ thống điện
Trạm 110kV Trảng Bàng cung cấp điện cho các huyện Trảng Bàng ,Gò Dầu, Bến Cầu.
Trạm 110kV Trà Phí (Tây Ninh) cung cấp điện cho khu vực thị xã Tây Ninh, huyện Hòa Thành, Dương Minh Châu và Châu Thành.
Trạm 110kV Tân Hưng cung cấp điện cho 02 huyện Tân Biên và Tân Châu và hỗ trợ cho việc cấp điện cho thị xã Tây Ninh.
Hiện 100% các xã thuộc tỉnh đã có điện lưới quốc gia.
* Hệ thống cấp nước
Hệ thống cấp nước sinh hoạt và sản xuất công nghiệp hiện có tổng công suất thiết kế khoảng 12.000 m3 /ngày đêm. Trong đó: thị xã Tây Ninh: hơn 7.000 m3 /ngày đêm, Hòa Thành 1.000 m3 /ngày đêm, Gò Dầu 1000 m3 /ngày đêm, Bến Cầu: 1.000 m3 /ngày đêm và Trảng Bàng 2.000 m3 /ngày đêm.
3. Những lĩnh vực kinh tế lợi thế
Tây Ninh có tiềm năng về đất đai, lao động, hệ thống thuỷ lợi khá hoàn chỉnh với hồ Dầu Tiếng có trữ lượng tưới lớn nhất nước với các vùng chuyên canh sản xuất khối lượng sản phẩm lớn như mía (33.000 ha), đậu phộng (20.000 ha ), cao su (30.000 ha).
Có thể nói, Tây Ninh là vùng nguyên liệu mía, đậu phộng, khoai mì lớn nhất nước về chất lượng và sản lượng. Cao su cũng có diện tích và sản lượng khá cao; đã hình thành các vùng chuyên canh gắn liền với việc xây dựng các nhà máy chế biến nông sản tại chỗ, đặc biệt là mía, khoai mì, Cao su. Ngoài ra, Tây ninh còn có nguồn nhập khẩu khá lớn khoai mì (Củ tươi, thái lát, tinh bột), cao su sơ chế… từ Campuchia.
- Cây mía: năm 2009 diện tích khoảng 24.639 ha (Tùy nhu cầu thị trường mà diện tích tăng giảm tương ứng hàng năm), sản lượng 1.496.904 tấn. Hiện có 3 nhà máy sản xuất đường lớn có tổng công suất 12.500 tấn mía cây/ngày.
- Cây khoai mì: Khoai mì Tây Ninh có hàm lượng bột cao, hàm lượng Axít Cyanhydric thấp. Diện tích 2009: 46.034 ha; sản lượng 1.236.071 tấn. Hiện có 80 nhà máy chế biến tinh bột, tổng sản lượng tinh bột: 650.000 tấn/năm.
- Cây cao su: năm 2009 có diện tích là 75.002 ha với sản lượng 104.982 tấn mủ.
- Cây điều sản lượng không lớn nhưng các nhà máy chế biến của Tây ninh đã nhập hạt điều thô từ nước ngoài về chế biến, đạt sản lượng sản xuất 32.000 tấn/năm.
- Cây đậu phộng: diện tích 18.178ha, năng suất 3,4 tấn/ha, sản lượng 59.136 tấn. Hiện tại, chưa có cơ sở chế biến lớn nào.
Với các loại cây công nghiệp đa dạng, sản lượng ổn định, năng suất thu hoạch và sơ chế đang dần được cải thiện, Tây Ninh có nhiều tiềm năng phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản; chế biến các sản phẩm tinh chế theo sau cao su, mía đường, tinh bột khoai mì, đậu phộng … gắn với vùng nguyên liệu.
Tây Ninh đã có các nhà máy để tiêu thụ các vùng nguyên liệu chuyên canh. Hiện nay, Tây Ninh đang ưu tiên kêu gọi đầu tư phát triển công nghiệp sau đường, bột mì, đậu phộng, thịt, sữa, nước trái cây, đồ hộp; những ngành công nghiệp ít vốn, thu hút vốn, thu hút nhiều lao động như may mặc, đan lát truyền thống. Tây Ninh cũng đang tập trung xây dựng khu công nghiệp Trảng Bàng, khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài, khu kinh tế cửa khẩu Sa Mát tiến tới xây dựng các khu công nghiệp Trâm Vàng (Gò Dầu), khu công nghiệp Bến Kéo, cụm công nghiệp Trường Hoà (Hoà Thành) , Tân Bình (thị xã), Chà Là (Dương Minh Châu), Thanh Điền (Châu Thành) để thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp.
Là một tỉnh có nhiều đặc điểm lịch sử, văn hoá, thắng cảnh thu hút khách du lịch như căn cứ trung ương Cục miền Nam, toà thánh Tây Ninh, lễ hội hành hương núi Bà Đen, hồ nước Dầu Tiếng. Ngoài ra Tây Ninh còn là cầu nối tua du lịch Thành phố Hồ Chí Minh – Phnôm Pênh, hướng phát triển du lịch trong thời gian tới là xây dựng cụm du lịch thị xã - núi Bà Đen – hồ Dầu Tiếng và cụm Thiện Ngôn – căn cứ trung ương Cục miền Nam; phát triển hồ Dầu Tiếng thành những trung tâm phục vụ du lịch sinh thái.
Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài, khu kinh tế cửa khẩu Sa Mát đang được xây dựng khi hoàn thành đi vào hoạt động cùng với trung tâm thương mại nội tỉnh như thị xã Hoà Thành sẽ phát huy mạnh mẽ thương mại của tỉnh.
Tây Ninh đã qui hoạch và triển khai xây dựng, mời gọi đầu tư 2 Khu kinh tế cửa khẩu (Trong đó có các khu công nghiệp) và 25 Khu, cụm công nghiệp trong toàn tỉnh với tổng diện tích 12.000 ha.
Quĩ đất của Tây Ninh còn lớn, vị trí nhiều thuận lợi, cơ sở hạ tầng và dịch vụ khá tốt đang ngày thêm hoàn thiện; các chính sách liên quan đến Nhà đầu tư và Doanh nghiệp luôn thông thoáng và nhất quán… đang là những điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư trong, ngoài nước đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh.
Với điều kiện khí hậu, đất đai thuận lợi, đồng thời được Trung ương đầu tư công trình thủy lợi Dầu Tiếng - một công trình thủy nông lớn nhất nước, Tây Ninh đã tận dụng triệt để cơ sở vật chất sẵn có để khai hoang, phục hóa, mở rộng diện tích trồng trọt, thâm canh, tăng vụ và nâng cao năng suất cây trồng. Đến nay, Tây Ninh vừa tạo ra được nguồn lương thực dồi dào, vừa hình thành được các vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn trồng các cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao phục vụ cho phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản bằng các giải pháp đồng bộ về giống, kỹ thuật thâm canh, đầu tư kết cấu hạ tầng, áp dụng cơ giới hóa... để tăng năng suất, chất lượng cây trồng, chủ động nguồn nguyên liệu và kế hoạch sản xuất, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững. Nhờ đó, ngành công nghiệp chế biến đã thực sự phát triển, chiếm hơn 90% giá trị sản xuất và khoảng 91% giá trị tăng thêm trong toàn ngành công nghiệp của tỉnh, sử dụng hơn 70.000 lao động, đóng góp trên 3/4 tổng giá trị xuất khẩu hằng năm trên địa bàn.
Hệ thống các nhà máy ở Tây Ninh đủ công suất chế biến nông sản chủ yếu (đường, tinh bột sắn, mủ cao-su) ở cả quy mô công nghiệp và quy mô nhỏ. Hiện tỉnh đang dẫn đầu cả nước về công suất ép mía để sản xuất đường, với tổng công suất chế biến 12.500 tấn mía cây/ngày, sản lượng đường chế biến chiếm khoảng 8,2% tổng sản lượng của cả nước (giai đoạn 2008 - 2010). Năng suất sắn của tỉnh xếp vào hạng cao nhất cả nước, đạt bình quân 25 - 26 tấn/ha, cá biệt, một số nơi đạt 50 tấn/ha.
Tính đến cuối năm 2010 trên địa bàn tỉnh có 80 nhà máy chế biến tinh bột sắn với tổng công suất thực tế đạt 3.070 tấn/ngày, trong đó 14 nhà máy có công suất chế biến trên 80 tấn tinh bột/ngày, đạt trình độ công nghệ tiên tiến so với các nước trong khu vực. Công nghiệp chế biến cao-su và các sản phẩm từ cây cao su cũng là một thế mạnh, những năm gần đây diện tích cây cao su phát triển theo hướng tăng dần. Sản lượng mủ cao-su đạt 116.530 tấn/năm, toàn tỉnh có 21 doanh nghiệp với 25 nhà máy chế biến, tổng công suất thiết kế 154.000 tấn sản phẩm/năm, trong đó sản phẩm xuất khẩu chiếm trên 50% tổng lượng chế biến. Không chỉ đơn thuần xuất khẩu sản phẩm thô mới qua sơ chế, tỉnh đã phát triển được một số ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm từ cao-su, chủ yếu là vỏ, ruột xe đạp, xe gắn máy và ô-tô với lượng xuất khẩu chiếm đến 95% tổng lượng sản xuất, 65% giá trị xuất khẩu của toàn ngành.
Trong phát triển tiểu, thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống, toàn tỉnh có khoảng 30 ngành nghề khác nhau thuộc 12 nhóm ngành nghề: làm bánh tráng, muối ớt, chế biến sản phẩm mây tre, hương, mộc gia dụng, nón lá, rèn, may, sản xuất gạch, cơ khí, chế biến sắn củ và chế biến nông - lâm - thủy sản. Một số sản phẩm thủ công đã phát triển thành “đặc sản” của Tây Ninh được người tiêu dùng trong, ngoài nước biết đến, như muối ớt, bánh tráng, các sản phẩm mây, tre đan... Việc khôi phục, phát triển các làng nghề thủ công đã góp phần rất lớn tạo việc làm, nâng cao đời sống của gần 16.000 lao động nông thôn với giá trị sản xuất hằng năm đạt hàng trăm tỉ đồng. Cùng với việc phát triển làng nghề truyền thống, tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh các làng nghề truyền thống gắn với kinh doanh du lịch để thu hút du khách đến các làng nghề, giúp tạo nên “điểm nhấn” du lịch độc đáo bên cạnh các sản phẩm du lịch truyền thống. Sự liên kết này là hướng phát triển mới, thúc đẩy làng nghề và du lịch của Tây Ninh có bước phát triển mạnh mẽ.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, tỉnh tận dụng triệt để lợi thế về tài nguyên, đã xây dựng và phát triển được ngành công nghiệp khoáng sản, trong đó nổi bật là năm 2010 đã đưa Nhà máy xi măng Fico Tây Ninh đi vào hoạt động, có mức đầu tư lớn nhất tỉnh với tổng vốn lên đến gần 3.000 tỉ đồng, công suất 1,5 triệu tấn/năm, góp phần đẩy tỷ trọng của ngành công nghiệp khoáng sản trong tổng giá trị công nghiệp trên địa bàn tăng từ 1,8% năm 2005 lên đến 13,06% năm 2010. Nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai khoáng cũng được chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ và trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất, nên chất lượng sản phẩm không ngừng được nâng cao, đáp ứng được các nhu cầu xây dựng trong tỉnh. Riêng sản phẩm gạch đã mở rộng thị trường tiêu thụ ở một số địa phương lân cận, như Bình Phước, Long An và Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, tỉnh cũng xác định tập trung thu hút đầu tư, tạo nên các hạt nhân thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, phát triển các khu, cụm công nghiệp. Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành 22 khu, cụm, điểm công nghiệp. Có 4 khu công nghiệp được thành lập, trong đó hai khu đã đi vào hoạt động là Khu công nghiệp Trảng Bàng và Khu chế xuất Linh Trung 3 đóng góp hơn 50% tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hằng năm của tỉnh, giải quyết việc làm cho hơn 33.000 lao động, trong đó hơn 2/3 lao động là người địa phương. Khi hai dự án: Khu liên hợp công nghiệp - đô thị - dịch vụ Phước Đông - Bời Lời (có tổng diện tích 2.838 ha) và Khu công nghiệp - đô thị Bourbon - An Hòa (có tổng diện tích 1.020 ha) đi vào hoạt động sẽ tạo nên động lực mới, to lớn thúc đẩy phát triển công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ hơn theo hướng công nghiệp hóa. Bên cạnh đó, hoạt động của Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài và Xa Mát cũng đang kỳ vọng sẽ tạo nên những “cú hích” quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ trong thời gian tới, nhằm khai thác tiềm năng của kinh tế biên mậu giữa Việt Nam và Cam-pu-chia.
