Quyết định trên có hiệu lực thi hành ngay kể từ ngày ký. Theo đó, các mặt hàng thép mạ (còn gọi là tôn mạ) có mã HS như sau sẽ chịu điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá: 7210.41.11; 7210.41.12; 7210.41.19; 7210.49.11; 7210.49.12; 7210.49.13; 7210.49.19; 7210.50.00; 7210.61.11; 7210.61.12; 7210.61.19; 7210.69.11; 7210.69.12; 7210.69.19; 7210.90.10; 7210.90.90; 7212.30.10; 7212.30.20; 7212.30.91; 7212.30.99; 7212.50.11; 7212.50.12; 7212.50.19; 7212.50.21; 7212.50.22; 7212.50.29; 7212.50.91; 7212.50.92; 7212.50.99; 7212.60.10; 7212.60.20; 7212.60.90; 7225.92.90; 7225.99.90; 7226.99.11; 7226.99.19; 7226.99.91; 7226.99.99.

Giai đoạn điều tra các sản phẩm nêu trên là từ ngày 01/10/2014 đến ngày 30/9/2015.

Trước đó, vào ngày 24/12/2015, Bộ Công Thương đã tiếp nhận Hồ sơ kiến nghị áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với các mặt hàng thép mạ nhập khẩu vào Việt Nam từ Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông) và Hàn Quốc của: Công ty Cổ phần China Steel Sumikin Việt Nam, Công ty TNHH Tôn Phương Nam, Công ty Cổ phần Thép Nam Kim và Công ty Cổ phần Tôn Đông Á.

Bốn doanh nghiệp này cáo buộc lượng sản phẩm thép mạ được nhập khẩu từ Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông) và Hàn Quốc đã gây tác động tiêu cực tới thị trường và ngành sản xuất trong nước của Việt Nam, khiến thị phần hàng hóa trong nước giảm, tỷ lệ thua lỗ của doanh nghiệp nội địa tăng, lượng hàng tồn kho tăng cao...

Căn cứ theo quy định tại Điều 17 của Pháp lệnh số 20/2004, trong vòng 90 ngày kể từ ngày có quyết định khởi xướng điều tra, kết luận sơ bộ của vụ việc sẽ được công bố. Trong trường hợp đặc biệt, có thể gia hạn thêm nhưng không quá 60 ngày.