Theo tổng hợp báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhìn lại kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm nay đã có nhiều chỉ tiêu tăng trưởng nhưng vẫn thấp so với cùng kỳ và so với cả chỉ tiêu kinh tế đề ra, theo đó lại xuất hiện một số vấn đề thách thức mới cần tiếp tục vượt qua. Đó là, (1) khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp (DN) chưa thực sự được đẩy lùi, nổi lên là thu hẹp sản xuất, khó tiêu thụ sản phẩm, chương trình đề án sản xuất sản phẩm mới chưa được hình thành. Số lượng DN phá sản, tạm ngừng hoạt động hoặc cắt giảm sản lượng... ngày một nhiều hơn. Qua phân tích số liệu của hơn 700 DN niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán cho thấy thanh khoản của các DN khá căng thẳng. Cụ thể, chỉ có khoảng 18% DN an toàn, 82% DN còn lại là ở trong tình trạng nguy kịch, yếu kém bên bờ vực phá sản. (2) Từ năm 2011 đến nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa luôn ở mức thấp. Điều đó được chứng minh, 6 tháng đầu năm 2012 chỉ tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước và càng thấp hơn mức tăng 16,4% cùng kỳ năm 2010... phản ánh sức mua của người dân và DN chưa được cải thiện. Khu vực kinh tế trong nước chưa đủ sức mạnh chi phối chiếm lĩnh thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu, buộc phải “nhường” cho các DN mạnh có vốn đầu tư nước ngoài. (3) CPI trong 7 tháng đầu năm 2012 luôn ở mức thấp, trái với dự báo của ngay cả những người thực thi, thiết kế chính sách. Trong đó, có 3 tháng liên tiếp, CPI chỉ tăng dưới 1% (tháng 3 là 0,16%, tháng 4 là 0,05%, tháng 5 là 0,18%), đặc biệt hai tháng 6 và 7 càng tuột dốc mạnh, đó là giảm 0,16% và 0,29% tháng trước. (4) Tính ổn định của tỷ giá chưa thật bền vững, ảnh hưởng tới xuất nhập khẩu hàng hóa trong thời gian tới. Nhu cầu về ngoại tệ của cộng đồng DN giảm mạnh do sản xuất gặp khó khăn, khả năng tiếp cận, hấp thụ vốn vay Ngân hàng - mặc dù từ ngày 15/7, trần lãi suất đã giảm xuống tới mức tương đối thấp 15% nhưng xem ra vẫn ngoài khả năng sinh lời của chính DN khi sử dụng vốn. Từ thực tế trên, nền kinh tế nước ta hiện đang phải đối phó với một số nút thắt (thách thức) lớn. Đó là “nghẽn mạch” tín dụng, nợ xấu gia tăng (10% tổng dư nợ), thị trường bất động sản bị đóng băng và hiệu quả hoạt động của khối DNNN thấp, thất thoát lãng phí nguồn vốn Nhà nước còn ở mức cao... Nhiều chuyên gia kinh tế bình luận về bức tranh kinh tế nước ta trong thời gian qua được khái quát bằng câu kết: “3 thấp, 4 cao và 3 thách thức”. Cụ thể, “3 thấp” - đó là tăng trưởng, thanh khoản và tổng cầu thấp; “4 cao” - là lãi suất, tồn kho, nợ xấu và số lượng DN phá sản, ngừng sản xuất cao; Và “3 thách thức” - là rủi ro trong điều hành chính sách, áp lực tái lạm phát do dư nợ tín dụng đã có xu hướng tăng trở lại và một số nút thắt mới phát sinh như đã nêu trên.
Từ dự báo trước những khó khăn, sức ép mới, đối chiếu với thực tiễn cuộc sống đang diễn ra trong các tháng còn lại của năm 2012, chúng ta cần thực thi một số giải pháp lớn để ngăn chặn, đẩy lùi như sau:
Một là, ưu tiên đầu tư hỗ trợ, tạo động lực phát triển hơn nữa cho nền kinh tế, nhất là khu vực ngoài Nhà nước. Qua phân tích các mối quan hệ giữa đầu tư tư nhân và các yếu tố khác trong giai đoạn 2009 - 2012 cho thấy: tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của khu vực này ngày một tăng và tiềm năng phát triển còn nhiều.
Hai là, tăng tổng cầu bằng cách tăng tốc độ giải ngân đầu tư công và chi tiêu hợp lý nguồn ngân sách, nhất là đối với những dự án, công trình liên quan đến sự phát triển, hồi phục của nền kinh tế trong năm và năm 2013 sắp tới. Mở rộng cho vay tiêu dùng hơn nữa để tháo gỡ nút thắt hàng tồn kho, tạo tính thanh khoản lớn cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, cần có cơ chế, chính sách mới (tín dụng, bảo lãnh...) để DN tư nhân đủ điều kiện tiếp cận nguồn vốn trong dài hạn; Có các định chế tài chính với các tổ chức ADB, WB, IMF và các chính sách ưu đãi đã dành cho các DN đầu tư nước ngoài.
Ba là, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN, nhất là cộng đồng DN nhỏ và vừa dễ dàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Muốn vậy, các ngành chức năng phải tập trung chỉ đạo, hỗ trợ giám sát giúp DN sớm có đủ 4 điều kiện: Tài chính lành mạnh, không có nợ xấu, phương án kinh doanh khả thi, tài sản thế chấp bảo đảm. Cùng với sự ra đời của Quỹ Bảo lãnh tín dụng, Chính phủ nên thành lập Quỹ Bảo hiểm tín dụng để giúp các DN thiếu tài sản thế chấp có thể tiếp cận vốn vay Ngân hàng để duy trì, phát triển sản xuất, kinh doanh.
Bốn là, đẩy nhanh tốc độ tái cơ cấu DNNN hiện tại do nước ta chưa có Luật Chi tiêu công, cho nên hiệu quả đồng vốn đầu tư công (vốn Ngân sách Nhà nước) chưa cao. Tình trạng đầu tư dàn trải, không đúng trọng tâm, trọng điểm, thất thoát, tham nhũng vốn diễn ra khá phổ biến và nặng nề mà không ai đứng ra chịu trách nhiệm. Nhà nước cần sớm sửa đổi, bổ sung Luật DN và các văn bản, quy chế đi kèm liên quan. Sắp xếp lại DNNN thành 2 loại hình hoạt động (lợi nhuận và phi lợi nhuận) để áp dụng tách bạch 2 phương thức quản lý khác nhau. Song dù có hoạt động theo phương thức nào, bộ máy quản lý, điều hành đều phải qua tuyển chọn, sát hạch công khai, đặc biệt là phải gắn trách nhiệm vào túi tiền riêng của người “cầm lái” trước pháp luật để tránh căn bệnh “cha chung không ai khóc”, bình chân như vại khi tài sản DN rơi vãi, tùy tiện tiêu pha, chui lủi bỏ túi cá nhân...
Năm là, đã đến lúc cần xem xét bỏ lãi suất trần cả tiền gửi và cho vay để tạo kỳ vọng lạm phát sẽ thấp, vì lạm phát đã giảm liên tiếp và trên thực tế lãi suất trần cả tiền gửi và tiền vay hiện không có tác dụng. Trong thực tế, nếu ngân hàng muốn huy động lãi suất thấp để cho vay với lãi suất cao, kiếm lời lớn, thì khách hàng không chấp nhận, mà tự đi vay trong dân còn rẻ hơn; ngược lại, ngân hàng huy động vốn với lãi suất cao, cho vay thấp để tăng sức cạnh tranh, thu hút khách hàng thì lợi nhuận ít, thậm chí là lỗ, phải xóa sổ trên thị trường. Vì vậy, việc bỏ trần lãi suất cả huy động và cho vay đang được nhiều chuyên gia kinh tế nói đến và như thế mới thực sự là vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Sáu là, giải quyết dứt điểm nợ xấu, lấy lại được “sức khỏe cho nền kinh tế”, từng bước ổn định, tạo đà tăng tốc hiệu quả, an toàn. Phương án thành lập Công ty Mua bán nợ ra thành hiện thực. Mục tiêu hoạt động của Công ty này là xử lý nợ xấu để cứu DN chứ không phải làm sạch sổ sách ngân hàng. DN nào mà không có khả năng thu hồi nợ xấu thì kiên quyết cho phá sản, giải thể, phát mại tài sản để thu hồi vốn trả về cho NSNN hoặc trả nợ Ngân hàng. Còn với Ngân hàng, đơn vị nào có nợ xấu thì xử lý bằng cách trích lập dự phòng rủi ro, khoanh nợ, giãn hoặc bán nợ. Nếu cơ sở không tự xử lý được thì sáp nhập, chuyển nhượng theo Đề án tái cơ cấu NHTM; tuyệt đối không được phá sản hoặc giải thể, dù chỉ một vài NHTM cổ phần nhỏ. Được biết, NHNN đã sửa đổi, bổ sung quy chế nợ quá hạn. Trong đó, điểm mới là quy định món nợ quá hạn trên 90 ngày là phải xếp ngay vào nợ xấu, chứ không phải trên 1 năm như trước đây. Quy định mới này, chắc chắn từng chi nhánh và con người cụ thể trong từng đơn vị sẽ quyết liệt, nâng cao trách nhiệm của mình hơn và nợ xấu sẽ giảm...
Tất cả những giải pháp nêu trên là những “liều thuốc đặc trị” trước mắt nhằm tăng tính ổn định thanh khoản của nền kinh tế nước ta, thực hiện thành công các mục tiêu tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế trong giai đoạn mới mà Đảng và Nhà nước đã vạch ra.
Tiếp tục tháo gỡ các nút thắt lớn cho nền kinh tế
Sau một thời gian triển khai thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ (số 11 ngày 24/04/2011, số 01 ngày 03/01/2012 và Nghị quyết số 13 ngày 03/01/2012), nền kinh tế nước ta đã có nhiều chuyển biến tích
