Tin Công Thương ngày 27 - 3 - 2012
A. TIN KINH TẾ CHUNG NỔI BẬT
1. Doanh nghiệp lâm nghiệp ứng tiền đo đạc được trừ vào tiền thuê đất
(Gafin.vn 26/4, mục Bất động sản, tác giả PV)
Thông tư số 59/2012 sửa đổi một số điều của Thông tư số 46/2005 của Bộ Tài chính vừa được ban hành đã hướng dẫn cụ thể một số vấn đề về tài chính khi sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường.
Theo đó, trường hợp các doanh nghiệp (nông, lâm trường quốc doanh) ứng trước kinh phí để đo đạc, cắm mốc ranh giới, doanh nghiệp được giảm trừ tương ứng vào tiền sử dụng đất, thuê đất phải nộp cho ngân sách địa phương.
Đối với trường hợp doanh nghiệp thuê đất trả tiền hàng năm thì số tiền ứng trước để đo đạc, cắm mốc ranh giới được trừ vào tiền thuê đất phải nộp, được quy đổi ra thời gian tương ứng phải nộp theo giá đất tại thời điểm ứng kinh phí và được xác định là thời gian đã hoàn thành việc nộp tiền thuê đất hàng năm.
Đối với trường hợp doanh nghiệp thuê đất trả tiền 1 lần hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất thì số tiền ứng trước để đo đạc, cắm mốc ranh giới được trừ vào tiền thuê đất hoặc tiền sử dụng đất phải nộp.
Trường hợp số tiền ứng trước về đo đạc, cắm mốc ranh giới vượt quá tiền thuê đất, tiền sử dụng đất phải nộp, thì sau khi trừ đi tiền thuê đất, tiền sử dụng đất phải nộp cho địa phương, ngân sách địa phương hoàn trả kinh phí cho doanh nghiệp phần vượt. Kinh phí đo đạc, cắm mốc ranh giới do doanh nghiệp ứng trước được xác định theo quy định của pháp luật có liên quan.
Quy định này có hiệu lực kể từ ngày 20/5.
2. Nghiên cứu giảm 50% thuế VAT
(Nông Thôn Ngày Nay 26/4, tr2, tác giả Phương Hà)
Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu để đầu tháng 5 tới sẽ đề xuất Chính phủ giảm 50% thuế VAT.
Tại hội thảo nhận định kinh tế thế giới và thách thức cho Việt Nam năm 2012 vừa tổ chức tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ cho biết, Bộ sẽ tổng hợp ý kiến của nhóm tư vấn, chuyên gia, đánh giá thực trạng doanh nghiệp để đưa ra giải pháp cụ thể, trong đó có dãn thuế và giảm thuế giá trị gia tăng (VAT).
3. Không kéo dài thời hạn thanh toán vốn sang 2013
(VietnamPlus 26/4, mục Kinh tế, tác giả Đức Duy; TTXVN 26/4; Đại Biểu Nhân Dân 27/4, tr2, tác giả NT)
Bộ Tài chính cho biết, nhằm thực hiện tốt kế hoạch đầu tư phát triển, đảm bảo thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2012, Bộ Tài chính đã có văn bản hướng dẫn về việc quản lý thanh toán vốn đầu tư kế hoạch năm 2012.
Theo Bộ Tài chính, việc thanh toán vốn thực hiện theo quy định hiện hành và các hướng dẫn của Bộ Tài chính về thanh toán vốn đầu tư kế hoạch năm 2012; phấn đấu thực hiện giải ngân nhanh và giải ngân hết kế hoạch vốn trong niên độ kế hoạch năm 2012, không kéo dài thời hạn thanh toán sang năm 2013.
Riêng vốn trái phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2012 được thanh toán đến hết ngày 30/4/2013.
Bên cạnh đó, để đẩy nhanh việc thực hiện kế hoạch, đối với các dự án sử dụng nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung thuộc ngân sách nhà nước của các Bộ, ngành trung ương, vốn bổ sung có mục tiêu của ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương, Bộ Tài chính sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ cắt giảm kế hoạch vốn của các dự án đến hết tháng 6/2012 mà chủ đầu tư chưa đến giao dịch với Kho bạc Nhà nước và các dự án đến hết tháng 9/2012 chưa thanh toán vốn thuộc kế hoạch năm 2012 để bổ sung cho các dự án cần thiết khác…
Theo đó, Bộ Tài chính hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo việc phân bổ và giao kế hoạch đầu tư năm 2012 cho các chủ đầu tư theo đúng các quyết định của Thủ tướng Chính phủ và của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về vấn đề này.
Đồng thời, các Bộ, ngành, địa phương chỉ đạo các chủ đầu tư hoàn thiện thủ tục đầu tư của các dự án theo quy định; đẩy nhanh công việc đấu thầu, thi công công trình, nghiệm thu khối lượng thanh toán nhằm thực hiện dự án ngay từ đầu năm và giải ngân cho các dự án.
Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương để xử lý kịp thời các vướng mắc phát sinh trong khâu thanh toán, phân bổ vốn để các dự án được triển khai sớm; công khai số liệu giải ngân định kỳ đối với nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ để giúp các Bộ, ngành, địa phương tăng cường chỉ đạo thực hiện kế hoạch và giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2012.
4. 3 tháng đầu năm, nợ xấu nhiều ngân hàng tăng mạnh
(Dân Trí 26/4, mục Kinh doanh, tác giả Thanh Tùng; Báo Công Thương Điện Tử 26/4, mục Tài chính)
Kết thúc quý đầu tiên của năm 2012, nhiều ngân hàng đang phải đối mặt với con số nợ xấu lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Trong đó cá biệt có nhà băng nợ xấu tăng hơn gấp đôi so với đầu năm.
Lướt qua báo cáo tài chính quý 1 của một số ngân hàng, có một hiện tượng khiến nhiều người không thể không lưu tâm: trong khi dư nợ cho vay sụt giảm, nợ xấu của nhiều ngân hàng đang tăng nhanh. Điều này xảy ra không chỉ ở những nhà băng nhỏ, mà ở ngay cả những ngân hàng lớn, đặc biệt là các ngân hàng thương mại quốc doanh.
Trong bản cáo cáo tài chính riêng lẻ giữa niên độ đề ngày 20/4/2012 của ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương (Vietcombank), bên cạnh con số lợi nhuận trước thuế giảm 112 tỷ đồng so với cùng kỳ năm ngoái (chỉ đạt 1662,85 tỷ đồng) thì một chỉ tiêu khác khiến nhiều người không khỏi băn khoăn là dư nợ và nợ xấu.
Trong khi tổng dư nợ cho vay khách hàng giảm 1.195 tỷ đồng, từ 208.085 tỷ đồng xuống 206.890 tỷ đồng, thì số nợ bị phân loại từ nhóm 3 đến nhóm 5 của VCB lại tăng mạnh. Tính đến ngày 31/3/2012, tổng nợ xấu của nhà băng này lên tới 5.873,4 tỷ đồng, tăng 40,69% so với thời điểm 31/12/2011.
Diễn biến này khiến tỉ lệ nợ xấu của họ tăng từ khoảng 2% hồi đầu năm lên 2,84%. Đây sẽ là thách thức cho Vietcombank trong việc kiểm soát tỉ lệ nợ xấu dưới 2,8% vào cuối năm như phát biểu mới đây của Tổng Giám đốc Nguyễn Phước Thanh.
Dù vậy so về tốc độ tăng nợ xấu thì VCB vẫn còn còn thua xa ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương (Vietinbank). Số liệu trong bản báo cáo tài chính riêng lẻ quý 1 của Vietinbank cho thấy, tổng số nợ xấu của ngân hàng này đã tăng tới 139%, tức là hơn gấp đôi, từ 2.165 tỷ đồng cuối năm 2011 lên 5.176,7 tỷ đồng chỉ sau 3 tháng.
Tăng mạnh nhất là các khoản nợ nhóm 4, từ hơn 200 tỷ lên 817 tỷ đồng, và nợ nhóm 3, từ 1.053 tỷ lên 3.358,5 tỷ đồng. Hệ quả tất yếu của sự sụt giảm chất lượng các khoản cho vay của nhà băng này là số tiền trích lập dự phòng rủi ro cho vay khách hàng tăng từ 2.994 tỷ đồng cuối năm trước lên 3.738 tỷ đồng.
Ở khối ngân hàng Thương mại Cổ phần tư nhân, dù số lượng nợ xấu ít hơn nhưng cũng không nằm ngoài xu hướng tăng lên. Ngân hàng Á Châu (ACB), một trong những nhà băng có tỉ lệ nợ xấu trong năm 2011 ở mức thấp thì sau 3 tháng đầu năm cũng đã ghi nhận sự sụt giảm khá mạnh chất lượng các khoản cho vay khách hàng.
Cụ thể, theo thuyết minh báo cáo tài chính giữa niên độ đề ngày 20/4/2012, tổng dự nơ cho vay khách hàng của nhà băng này chỉ tăng chưa tới 1,8% nhưng nợ xấu lại tăng tới 38,8%, từ 873,4 tỷ đồng của cuối năm 2011, lên 1.212,5 tỷ đồng. Tại Đại hội cổ đông ngày 30/3 mới đây của ACB, Tổng Giám đốc Lý Xuân Hải cho biết, khoảng 60% nợ xấu của ngân hàng có liên quan đến bất động sản.
Tình hình nợ xấu tăng cũng được ghi nhận ở một số ngân hàng khác như Eximbank (tăng 14,5%, từ 1.202,9 tỷ đồng lên 1.377,2 tỷ đồng) và SHB (tăng 18,17%, lên 769,8 tỷ đồng). Trong đó đáng chú ý là dù dư nợ giảm tới hơn 5.000 tỷ đồng so với đầu năm nhưng nhà tài trợ chính cho V-League lại ghi nhận thêm hơn 174 tỷ đồng nợ xấu.
Trên đây mới chỉ là số liệu nợ xấu của 5 ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính quý 1. Trước đó cả 5 đơn vị này đều được Ngân hàng Nhà nước xếp nhóm 1 về tăng trưởng tín dụng, nghĩa là những ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh, khả năng quản trị tốt và được cấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 17%. Vậy ở 5-6 ngân hàng bị xếp nhóm 4 và các ngân hàng ở những nhóm khác tình hình nợ xấu thực tế còn…xấu đến đâu? Đây sẽ câu hỏi được nhiều người quan tâm khi tái cơ cấu ngành tài chính ngân hàng đang là vấn đề thời sự.
5. Bộ Chính trị cho ý kiến về tình hình kinh tế - xã hội
(VietnamPlus 26/4, mục Chính trị, tác giả Nguyễn Thị Sự; TTXVN 26/4; Nông Thôn Ngày Nay +3, tác giả B.T.K; Tiền Phong 27/4, tr1+3; Thời Báo Kinh Tế Việt Nam 27/4, tr2, tác giả Phan Anh; Thời Báo Kinh Doanh 27/4, tr1, tác giả K.P; Lao Động 27/4, tr1+2, tác giả L.S)
Sáng 26/4, Bộ Chính trị họp, cho ý kiến về một số vấn đề về tình hình kinh tế - xã hội bốn tháng đầu năm, mục tiêu nhiệm vụ và giải pháp những tháng còn lại của năm 2012. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì cuộc họp.
Thừa ủy quyền của Ban cán sự Đảng Chính phủ, Bí thư Ban cán sự Đảng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư Bùi Quang Vinh đã báo cáo tình hình kinh tế - xã hội bốn tháng đầu năm, dự báo tình hình và các giải pháp điều hành kinh tế - xã hội những tháng cuối năm 2012.
Theo đó, bốn tháng đầu năm 2012, tình hình kinh tế - xã hội có bước chuyển biến, đạt những kết quả tích cực bước đầu, đúng hướng. Các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục phát huy hiệu quả.
Chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp, CPI tháng Tư chỉ tăng 0,05% so với tháng trước và tăng 2,6% so với cuối năm 2011. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng, sản xuất kinh doanh trong điều kiện khó khăn vẫn duy trì tăng trưởng, kim ngạch xuất khẩu ước tăng 22,1% so với cùng kỳ, hoạt động du lịch khá sôi động. An sinh xã hội và phúc lợi xã hội được bảo đảm, các vấn đề bức xúc xã hội được quan tâm giải quyết. Quốc phòng an ninh được tăng cường, chính trị xã hội ổn định.
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế quý I chỉ đạt 4%, thấp hơn so với cùng kỳ và quý IV năm 2011. Lãi suất tuy đã giảm nhưng vẫn còn ở mức cao, khả năng hấp thụ vốn của các doanh nghiệp còn hạn chế. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp thấp hơn nhiều so với bốn tháng đầu năm 2011.
Số doanh nghiệp ngừng sản xuất hoặc giải thể, nợ xấu của các doanh nghiệp tăng cao. Thu ngân sách nhà nước thấp hơn so với tiến độ các năm trước. Tốc độ tăng nhập khẩu giảm mạnh, ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư và sản xuất kinh doanh.
Trên cơ sở làm rõ nguyên nhân chủ quan và khách quan của những tồn tại, hạn chế, đi sâu phân tích, dự báo tình hình, tại cuộc họp, các ý kiến tập trung thảo luận về giải pháp điều hành phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu nhiệm vụ đã đề ra trong năm 2012. Các ý kiến đều khẳng định nhất quán mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.
Tuy nhiên, các giải pháp điều hành phải đồng bộ, linh hoạt, mềm dẻo, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý, không để lạm phát tăng cao trở lại.
Nhiều ý kiến cho rằng cần tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp có thị trường tiêu thụ và năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, kinh doanh gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện tốt các trọng tâm đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh.
Bên cạnh đó, cần kết hợp hài hòa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa, trên cơ sở thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, chủ động, kinh hoạt, chính sách tài khóa chặt chẽ, hiệu quả. Tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp là cần thiết nhưng không vội vàng, ồ ạt; cần hài hòa giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích ngân hàng. Nhiều ý kiến đề nghị cần đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế theo tinh thần Kết luận Hội nghị Trung ương 3 (Khóa XI).
Tuy nhiên, giải pháp thực hiện chưa đủ mạnh nếu chỉ dừng lại ở mức rà soát, hoàn thiện cơ chế chính sách về đầu tư, mà cần có cơ chế chính sách mới, mang tính định hướng để đưa nền kinh tế từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu.
6. Mở rộng hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài
(VietnamPlus 26/4, mục Kinh tế, tác giả Liên Phương; TTXVN 26/4; Thanh Niên 27/4, tr2, tác giả Thanh Xuân; Sài Gòn Giải Phóng 27/4, tr2, tác giả H.Ni)
Ngày 26/4, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan phối hợp tổ chức Hội nghị triển khai thực hiện thí điểm hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài mua hàng hóa tại Việt Nam mang theo khi xuất cảnh qua cửa khẩu Sân bay quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất.
Phát biểu tại Hội nghị, bà Nguyễn Thị Hồng - Phó Chủ tịch Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, Thành phố ủng hộ việc triển khai việc hoàn thuế này, tuy nhiên thời gian thí điểm nên rút ngắn lại còn từ 6 tháng đến 1 năm, không nhất thiết phải để thời gian quá dài từ 1/7/2012 đến 30/6/2014.
Theo bà Hồng, việc quy định làm thí điểm chỉ ở hai sân bay quốc tế là ở phạm vi quá hẹp, vì vậy nên rút ngắn thời gian để có thể phát triển việc hoàn thuế ngay tại các trung tâm thương mại lớn.
Cùng đồng tình với ý kiến của bà Hồng, ông Phạm Gia Túc, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, trong quá trình triển khai thí điểm hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài, nếu thấy tốt có thể nên kiến nghị rút ngắn thời gian để mở rộng ra các sân bay quốc tế khác.
Việc áp dụng hoàn thuế giá trị gia tăng sẽ thúc đẩy phát triển ngành du lịch Việt Nam, trong tương lai khách du lịch vào Việt Nam sẽ tăng mạnh, đồng thời các ngành dịch vụ, sản xuất kinh doanh khác cũng có cơ hội phát triển. Vì vậy, ngành thuế, hải quan nên tập trung tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau để khách nước ngoài biết được chính sách mới này của Việt Nam.
7. Thu thuế xuất nhập khẩu qua ngân hàng
(Đại Biểu Nhân Dân 27/4, tr2, tác giả QL)
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương vừa ký thỏa thuận liên tịch Quy trình phối hợp thu thuế giữa Kho bạc Nhà nước quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Chi cục Hải quan Cửa khẩu Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương chi nhánh 2.
Theo đó, Kho bạc Nhà nước quận Phú Nhuận sẽ ủy nhiệm cho VietinBank chi nhánh 2 thực hiện thu thuế xuất nhập khẩu tại các điểm giao dịch của chi nhánh và điểm giao dịch đặt tại sân bay Tân Sơn Nhất. Các khoản thu gồm thuế hàng hóa xuất nhập khẩu; phí, lệ phí do Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quản lý.
8. Vốn FDI 4 tháng đạt hơn 4,2 tỷ USD
(Đại Biểu Nhân Dân 27/4, tr2, tác giả Kinh tế; Sài Gòn Giải Phóng 27/4, tr4, tác giả Anh Thư; Thời Báo Kinh Doanh 27/4, tr 1, tác giả Linh Nguyễn)
Tổng cục Thống kê cho biết, thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến nay đạt khoảng 4,267 tỷ USD, bằng gần 70% cùng kỳ năm 2011.
Theo đó, có 169 dự án được cấp phép mới. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 4 tháng đầu năm 2012 ước tính đạt 3,6 tỷ USD, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm 2011. Kinh doanh bất động sản vẫn là lĩnh vực thu hút vốn đăng ký đầu tư cao nhất với tổng vốn đăng ký 1,57 tỷ USD.
Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất có dự án đầu tư cấp phép mới vào nước ta đạt hơn 2,36 tỷ USD.
9. Đầu tư công vẫn thất thoát, trì trệ, kém hiệu quả
(Thanh Niên 27/4, tr7, tác giả Anh Vũ)
Bộ KH-ĐT vừa công bố 145 dự án thất thoát vốn, hàng nghìn dự án chậm tiến độ trong năm 2011. Điều này chứng tỏ chỉ đạo của Chính phủ về cắt giảm đầu tư công chống lạm phát đã không được thực hiện một cách nghiêm túc.
Báo cáo tổng hợp về công tác giám sát tổng thể đầu tư năm 2011 của Bộ KH-ĐT cho thấy, dù cả nước triển khai cắt giảm đầu tư công nhưng cũng có tới hơn 14.000 dự án được động thổ trên tổng số 38.420 dự án đầu tư công khắp cả nước đang thực hiện, tương ứng tỷ lệ 36,8% và tổng giá trị thực hiện gần 400.000 tỉ đồng. Trong đó, một số địa phương có số lượng dự án khởi công mới khá cao như: TP.HCM là 1.165, Quảng Ninh 691, Khánh Hòa 628…
Trước sự leo thang của giá cả và lạm phát, cắt giảm đầu tư công, đầu tư có hiệu quả trở thành nhiệm vụ cấp bách và trọng tâm trong năm 2011, thế nhưng con số các dự án chậm tiến độ được đánh giá là vẫn còn phổ biến. Cụ thể, có 4.436 dự án trì trệ, được triển khai với tốc độ quá chậm, không theo kịp kế hoạch, chiếm 11,55% số dự án thực hiện trong kỳ, trong khi đó, năm 2010 tỷ lệ này chỉ chiếm 9,78%.
Lãnh đạo một vụ chức năng của Bộ KH-ĐT cho biết, chậm tiến độ diễn ra phổ biến trong năm 2011, là nguyên nhân chủ yếu làm tăng chi phí, khiến dự án không còn hiệu quả đầu tư. Trong đó, chủ yếu do giải phóng mặt bằng, bố trí vốn không kịp thời, năng lực chủ đầu tư, nhà thầu yếu kém. Không chỉ có các công trình chậm tiến độ, qua thống kê cho thấy có tới 5.447 dự án đã phải điều chỉnh, trong đó có tới 3.568 dự án phải điều chỉnh tổng mức đầu tư, chiếm tỷ lệ lớn, khiến ngân sách bị bội chi. Hầu hết các dự án bị điều chỉnh đều tập trung tại các tập đoàn, tổng công ty, trong đó chỉ một mình Tập đoàn điện lực (EVN) trong năm 2011 đã phải điều chỉnh tới 409 dự án, Tập đoàn cao su 17 dự án, Tổng công ty lương thực miền Nam 12 dự án.
Bộ KH-ĐT cũng đã thống kê trong số 13.180 dự án được kiểm tra và 14.706 dự án sử dụng 30% vốn nhà nước đã phát hiện 145 dự án gây thất thoát vốn, 100 dự án có vi phạm về thủ tục đầu tư, 47 dự án vi phạm chất lượng công trình và 1.034 dự án phải ngừng thực hiện. Quảng Ninh là tỉnh dẫn đầu về số dự án vi phạm khi qua rà soát 589/1.132 dự án đang thực hiện, cơ quan chức năng phát hiện có 44 dự án, Quảng Trị 38 dự án vi phạm… Bắc Giang đứng đầu về số công trình gây thất thoát vốn là 59 dự án, Quảng Ngãi 22, Hà Giang 10, Kon Tum 7, TP.HCM có 6 dự án…
145 dự án thất thoát, lãng phí được phát hiện chỉ chiếm 0,38% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong năm, theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, con số này chỉ như muối bỏ biển, không phản ảnh được hết thực trạng đầu tư tràn lan kém hiệu quả của bức tranh đầu tư công.
“Bộ hầu như không đi đánh giá, thanh kiểm tra mà chỉ ngồi tổng hợp lại từ các đơn vị, trong khi đó còn lại một tỷ lệ rất lớn chưa được rà soát, trong số này ai dám khẳng định các địa phương, tập đoàn báo cáo trung thực hết, không né tránh thống kê các dự án kém hiệu quả”, Tiến sĩ Doanh nói.
Ông dẫn chứng thêm, năm 2011 con số cắt giảm đầu tư công được báo cáo lên tới hơn 90.000 tỉ đồng, nhưng việc sau đó Quốc hội đánh giá giá trị đầu tư công vẫn rất lớn, số dự án đình, giãn hoãn rất ít.
Bộ trưởng Bộ KH-ĐT Bùi Quang Vinh thừa nhận, báo cáo này do các địa phương tự tổng hợp đánh giá, sau đó Bộ thống kê lại và báo cáo Chính phủ. Số dự án được báo cáo theo ông Vinh mọi năm chiếm khoảng 60% dự án đang thực hiện, năm nay được nâng lên 68% nhưng vẫn còn quá thấp. Nhưng điều đáng nói, các báo cáo đều chưa đầy đủ, không chính xác, khiến Bộ KH-ĐT không đánh giá được đúng bức tranh đầu tư công của cả nước. Nhiều địa phương không có số liệu về các dự án có báo cáo giám sát đầu tư như Đồng Nai, Bến Tre, Hòa Bình…
Đối với các tập đoàn, tổng công ty, ông Vinh cho biết, Bộ KH-ĐT không quản được, mà từng bộ ngành quản riêng, vốn tại các dự án Bộ Tài chính rót xuống và thực hiện giám sát, quản lý. Về hướng xử lý các dự án và các đơn vị, ông Vinh cho biết đã kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo các cơ quan không gửi báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư kiểm điểm, báo cáo Thủ tướng về nguyên nhân, trách nhiệm của các đơn vị và cá nhân có liên quan và xử lý nghiêm khắc.
Tuy nhiên, Tiến sĩ Doanh cho rằng, trước hết phải công khai minh bạch không chỉ những dự án thất thoát, mà kể cả dự án vi phạm thủ tục đầu tư, phải điều chỉnh tổng mức đầu tư nhiều lần do chậm tiến độ. “Phải công khai ra vì đó là tiền nhà nước, tiền thuế của người dân đóng góp. Với các dự án sai phạm, phải làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân và tổ chức nào đã làm thất thoát”, ông Doanh nói.
10. Tái cấu trúc ngân hàng - Tập trung xử lý nợ xấu
(Sài Gòn Giải Phóng 27/4, tr3, tác giả H.Nh)
Dù nợ xấu của hệ thống ngân hàng được công bố chính thức chưa đến 3,7% vào năm 2011 và đang duy trì ở mức khoảng 3,4% tổng dư nợ nhưng con số thực tế nhiều hơn. Hiện nợ xấu của các ngân hàng thương mại có xu hướng tăng lên, nhất là ở những ngân hàng thương mại nhỏ vì các doanh nghiệp không có khả năng trả nợ do tình hình kinh tế khó khăn.
Đó là thông tin ghi nhận được tại hội thảo “Ngân hàng thương mại Việt Nam 2012-2013: Cải cách để sống còn” được Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Trường Đại học Tôn Đức Thắng tổ chức ngày 25/4.
Theo Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa - nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia trong giai đoạn khó khăn này, Chính phủ cần lên một danh sách mua lại và làm sạch các khoản nợ xấu của các doanh nghiệp để các doanh nghiệp hoạt động bình thường. Khi mua nợ, Chính phủ sẽ có cổ phần trong đó để giám sát, khi doanh nghiệp đã hoạt động tốt hơn Chính phủ sẽ bán lại cổ phần, bán lại khoản nợ cũ cho doanh nghiệp để thu lại vốn.
Ông Nguyễn Xuân Thành - Giám đốc Chương trình Thạc sĩ kinh tế Fullbright cho rằng, khu vực ngân hàng Việt Nam có thể được tái cơ cấu thành công mà không đổ vỡ lớn nhưng đòi hỏi các hành động quyết liệt từ phía Chính phủ và một nguồn lực tài chính công đáng kể. Điểm cấp bách trước mắt là phải đưa ngân hàng thoát khỏi tình trạng khó khăn hiện nay mặc dù tổng tài sản của các ngân hàng thương mại vẫn tăng nhưng các doanh nghiệp tốt vẫn không vay được vì lãi suất quá cao hoặc không có khả năng tiếp cận được vốn.
Tuy nhiên việc hỗ trợ tài chính từ Chính phủ là nhằm đảm bảo giá trị cho người gửi tiền chứ không phải để cứu chủ ngân hàng. Vấn đề mấu chốt ở đây là Chính phủ phải xử lý nợ xấu trên cơ sở tối thiểu hóa chi phí nhưng đạt được kết quả tốt nhất.
11. Chương trình hành động Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020
(Vneconomy 26/4, mục Thời sự, tác giả Phan Long; Nông Thôn Ngày Nay 27/4, tr2, tác giả Nhật Anh; Thời Báo Kinh Tế Việt Nam 27/4, tr2, tác giả Hương Loan)
Chính phủ vừa ban hành Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và Phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011 - 2015.
Theo đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Chương trình đề ra là xây dựng cơ chế vận hành đồng bộ thông suốt các loại thị trường (hàng hóa, tài chính, chứng khoán, bất động sản, lao động, khoa học - công nghệ...). Trong đó, tiếp tục thực hiện Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước; phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn...
Ngoài ra, Chương trình cũng đề ra các nhiệm vụ trọng tâm khác như: xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn., cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội các địa bàn đặc biệt khó khăn…
12. Hỗ trợ cải thiện Chỉ số Nộp thuế và Bảo hiểm bắt buộc
(Đầu Tư Điện Tử 26/4, mục Tài chính – Ngân hàng, tác giả Thủy Nguyên)
Bà Lê Hồng Hải - Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thuế cho biết, cơ quan này đang thực hiện nhiều sáng kiến cải cách nhằm hỗ trợ cho việc kê khai và nộp thuế.
Cụ thể, hơn 130 mẫu biểu hồ sơ khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế đã được rà soát, sửa đổi, bổ sung; loại bỏ những chỉ tiêu, những giấy tờ không cần thiết hoặc trùng lặp; hợp nhất khai quyết toán thuế với hoàn thuế thu nhập cá nhân.
Về hóa đơn, thực hiện chuyển đổi từ việc doanh nghiệp mua hóa đơn của cơ quan thuế để sử dụng sang việc doanh nghiệp tự in hóa đơn.
Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hỗ trợ người dân và doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế. Đến nay, Tổng cục Thuế đã tiếp nhận 1,5 triệu hồ sơ khai thuế điện tử; hầu hết doanh nghiệp sử dụng phần mềm hỗ trợ kê khai thuế do Tổng cục Thuế cung cấp miễn phí.
“Với những kết quả ấy, tôi lấy làm ngạc nhiên khi Báo cáo môi trường kinh doanh 2012 xếp hạng của Chỉ số Nộp thuế và Bảo hiểm bắt buộc không những không tăng mà lại bị tụt hạng”, bà Hải nói.
Về vấn đề này, bà Tea Trumbic, chuyên gia về chỉ số Nộp thuế và Bảo hiểm bắt buộc, chia sẻ, một năm, Việt Nam phải mất 941 giờ để chuẩn bị, nộp tờ khai và nộp thuế và bảo hiểm bắt buộc. Trong khi đó, ở nhiều nền kinh tế khác, thời gian này đã giảm đáng kể, như tại Hà Lan còn 250 giờ, Trung Quốc giảm từ 872 giờ xuống còn 398 giờ, Indonesia từ 560 giờ xuống còn 266 giờ, Lào từ 672 giờ xuống còn 362 giờ.
Theo ông Frederic Meunier, chuyên gia của IFC, Việt Nam có thể thực hiện đơn giản hóa nghĩa vụ báo cáo thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và bảo hiểm xã hội. Phần mềm thuế gắn kế toán tài chính với kế toán thuế để tự động hóa báo cáo thuế; đơn giản hóa công tác quản lý thuế cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, với thời hạn và tần suất kê khai, nộp thuế phù hợp với năng lực tuân thủ.
“Chỉ số Nộp thuế không chỉ bao gồm thuế, mà còn có các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, do vậy, việc cải cách cần phải có nỗ lực chung của cả ngành Thuế và Bảo hiểm Xã hội Việt Nam”, ông Frederic Meunier nói.
Theo Báo cáo Môi trường kinh doanh (Doing Business) 2012 của Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), môi trường kinh doanh năm 2011 của Việt Nam xếp hạng 98 trong tổng số 183 quốc gia tham gia khảo sát, tụt 8 bậc so với năm 2010.
Trong 11 chỉ số đánh giá, Chỉ số nộp thuế và Bảo hiểm bắt buộc tụt hạng nhiều nhất, giảm 22 bậc so với năm 2010. Đây cũng là chủ đề chính trong cuộc hội thảo do Tổng cục Thuế và IFC tổ chức gần đây, nhằm thảo luận những phương pháp tính toán chỉ số Nộp thuế và Bảo hiểm bắt buộc và những cải cách nhằm cải thiện thứ hạng.
13. Doanh nghiệp tự in hóa đơn bán hàng cho người nước ngoài
(Đất Việt 27/4, tr11, tác giả P. Nhi)
Theo Bộ Tài chính, hóa đơn bán hàng hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài sẽ có mẫu riêng và dựa trên mẫu này, các doanh nghiệp phải tự in hóa đơn để bán hàng cho người nước ngoài.
Bộ Tài chính đang lựa chọn ngân hàng làm đại lý trả tiền hoàn thuế cho chương trình thí điểm bán hàng hóa thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài.
Việc thí điểm sẽ thực hiện từ 1/7/2012-30/6/2014, người nước ngoài (kể cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài) khi mua hàng hóa tại Việt Nam có mang theo qua cửa khẩu Tân Sơn Nhất và Nội Bài sẽ được hoàn trả tối thiểu 85% tổng số tiền giá trị gia tăng đã tính trên hóa đơn mua hàng.
Việc thí điểm này được thực hiện nhằm mục đích quảng bá sản phẩm Việt và kích thích khách du lịch tới Việt Nam.
14. TPHCM: Doanh nghiệp sợ hải quan điện tử
(Đất Việt 27/4, tr11, tác giả Hà Phương)
Bên cạnh những rắc rối về thủ tục lưu hàng, kiểm hàng khi thông quan, nhiều doanh nghiệp còn bị tắc khi xuất, nhập hàng do không thể khai báo bằng điện tử bởi… đứt mạng.
Ông Nguyễn Hữu Nghiệp – Phó Cục trưởng Cục Hải quan TPHCM thừa nhận, thủ tục thông quan của nhiều doanh nghiệp vừa qua bị “ách lại hết” do kết nội mạng điện tử có vấn đề. Hiện tất cả 12 Chi cục hải quan tại TPHCM đều thực hiện kê khai hải quan điện tử nhưng “một tháng cũng có dăm bà lần sự cố không kết nối”.
Đại diện Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại – Dịch vụ - Vận tải – Xây dựng đề nghị, khi có lỗi về mạng, với những lô hàng cần gấp có thể khai báo thủ công.
Tuy nhiên, đại diện Cục Hải quan TPHCM lại cho rằng, “yêu cầu khai báo qua điện tử hiện nay là bắt buộc”. Đối với những sự cố mạng không thể khắc phục ngay thì Chi cục trưởng của đơn vị hải quan mà doanh nghiệp khai báo sẽ mở sổ theo dõi, chờ khắc phục, và có thể quyết định cho khai bằng thủ công. Nhưng do hiện nay, các số tờ khai đều được lưu trên hải quan điện tử nên nếu khai thủ công cũng khó rà soát lại hồ sơ.
Ngoài khổ vì mạng, một số doanh nghiệp còn tố các Chi cục Hải quan kiểm hàng hóa, ghi hàng hóa khi nhập khẩu không giống nhau khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về thủ tục và nộp thuế.
Về vấn đề này, ông Nghiệp nhìn nhận một số trường hợp do cán bộ hải quan sai, một số do thủ tục vẫn còn “phiền hà” và hứa sẽ giải quyết các trường hợp cụ thể để không gây thiệt thòi cho doanh nghiệp.
15. Tăng định hướng cho sóng giảm lãi suất
(Lao Động Điện Tử 27/4, mục Kinh tế, tác giả Văn Nguyễn)
Chỉ trong một thời gian ngắn, mặt bằng lãi suất chứng kiến sự sụt giảm mạnh và đồng loạt trên nhiều thị trường khác nhau. Diễn biến này cho thấy với tính định hướng của các mức lãi suất chủ đạo ngày càng tăng lên, mặt bằng lãi suất sẽ dần lấy lại trạng thái vận động theo cung cầu.
Số liệu phân tích từ hàng loạt các tổ chức đầu tư cho thấy, trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục giảm mạnh ở hàng loạt kỳ hạn. Trong đó lãi suất suất kỳ hạn qua đêm phổ biến ở mức 5-6%/năm, kỳ hạn 1 tuần dao động quanh 5,5-7%/năm, kỳ hạn 2 tuần khoảng 6-8% và kỳ hạn 1 tháng duy trì ở mức 9-10%/năm.
Tính chung cho toàn bộ các kỳ hạn giao dịch, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tuần qua tiếp tục giảm khoảng 0,5-1% so với cuối tuần trước. Phần nhiều các ý kiến đánh giá đều cho rằng, thanh khoản tiền đồng của hệ thống ngân hàng đang khá dồi dào là lý do giải thích cho sự sụt giảm này.
Đặc biệt khi ngân hàng thương mại bị hạn chế tăng trưởng tín dụng cũng như lượng khách hàng đáp ứng được điều kiện vay vốn, trong khi lượng tiền gửi có xu hướng tăng trong 3 tháng đầu năm. Bên cạnh đó, dù thực hiện hút ròng trên thị trường mở (OMO) và bán tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lên tới 63.000 tỉ đồng, Ngân hàng Nhà nước vẫn thực hiện mua vào khoảng gần 6,5 tỉ USD (tương đương với hơn 130 nghìn tỉ). Do đó theo các tính toán, lượng tiền còn dư thừa trong hệ thống cũng lên tới 67 nghìn tỉ đồng.
Song theo một tổ chức đầu tư, tình trạng thanh khoản cải thiện chủ yếu tập trung ở nhóm các ngân hàng tốt nhất và là những thành viên chính của thị trường liên ngân hàng. Trong khi đó với các ngân hàng nhỏ, gặp khó khăn trong huy động cũng như trả nợ khi vay vốn, chưa thể tham gia hoặc không là thành viên chính thức của thị trường.
Chính vì vậy, “việc lãi suất liên ngân hàng hạ cũng chưa thực sự phản ánh hiện trạng chung của hệ thống ngân hàng hay lãi suất liên ngân hàng chưa phát huy vai trò một lãi suất chỉ báo tốt trong điều hành chính sách lãi suất”, một tổ chức đầu tư nhận định. Không chỉ đích danh song tổ chức trên đưa thông tin, cho đến thời điểm hiện tại khi trần lãi suất hạ 2% từ 14% xuống 12%, một số ngân hàng vẫn có hiện tượng huy động vượt trần do những khó khăn thanh khoản. Theo đó, bài toán về cải thiện thanh khoản sẽ cần tiếp tục được thúc đẩy tích cực trong mối liên hệ chặt chẽ với nhu cầu tái cấu trúc ngân hàng thương mại.
Trong thời điểm hiện nay, việc bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, phát hành trái phiếu quốc tế và sáp nhập là 3 phương án tăng vốn phổ biến nhất cho ngân hàng hiện nay. Khi đưa nhận định này, tổ chức đầu tư nói trên cho rằng, nên có sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước để lộ trình tái cấu trúc được minh bạch và mang tính định hướng. “Đến khi đó, các lãi suất điều hành cũng sẽ đưa đến chỉ báo tốt hơn về xu hướng thị trường, hơn là ý nghĩa mệnh lệnh hành chính”.
Cùng với thanh khoản ngân hàng, diễn biến thực tế của lạm phát trong thời gian tới đây sẽ là yếu tố quan trọng tác động tới xu hướng giảm lãi suất trên thị trường. Chính vì thế, thông tin CPI tháng 4 ở mức thấp (dự báo dưới 0,16%) sẽ tiếp tục hỗ trợ cho xu hướng hạ lãi suất.
Một đánh giá cho rằng, tính đến khả năng điều chỉnh tăng các yếu tố đầu vào như điện, xăng dầu và than, lạm phát sẽ không phải là vấn đề lớn của năm 2012 và khả năng sẽ hạ về mức 8-9% cuối quý II là hoàn toàn khả thi khi giá lương thực thực phẩm thế giới chưa ra khỏi chu kỳ điều chỉnh. Thêm vào đó, trên một số thị trường khác, xu hướng lãi suất thực tế cũng đang trở nên rõ ràng hơn.
Cùng với xu hướng sụt giảm của mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất tín phiếu kỳ hạn 28 ngày (1 tháng) và 91 ngày (3 tháng) trên thị trường mở cũng ghi nhận sự giảm mạnh trong tuần qua. Cụ thể, lãi suất tín phiếu kỳ hạn 1 tháng giảm 2,51%/năm từ mức 10%/năm xuống mức 7,49%/năm và lãi suất tín phiếu kỳ hạn 3 tháng cũng giảm 0,5% từ mức 10,75%/năm xuống 10,24%/năm.
Đáng chú ý, dù lãi suất liên tục giảm, nhiều ngân hàng vẫn tiếp tục mua vào tín phiếu và diễn này cho thấy, việc đầu tư vào trái phiếu vẫn đang được nhiều ngân hàng lựa chọn trong bối cảnh thanh khoản tiền đồng đang dồi dào và hoạt động cho vay chưa có sự cải thiện rõ rệt.
Tương tự trên thị trường trái phiếu Chính phủ, lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 1 năm, 3 năm, 5 năm và 10 năm tuần qua giảm lần lượt 9 điểm, 32 điểm, 31 điểm và 37 điểm. Theo một đánh giá, thực tế này là kết quả rất khả quan của quá trình điều hành chính sách vĩ mô, ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều tiết lạm phát của Chính phủ.
Ngay đợt điều chỉnh tăng giá bán lẻ xăng dầu ngày 20.4 vừa qua, được dự báo sẽ tác động trực tiếp và gián tiếp làm tăng CPI thêm khoảng 0,3% song chưa gây áp lực lớn lên lạm phát. Nhiều nhận định tin rằng, tình hình lạm phát trong thời gian ngắn tới đây sẽ tiếp tục giữ được sự ổn định ở mức thấp và lãi suất trái phiếu Chính phủ vì thế được kỳ vọng sẽ còn giảm nhẹ trong các tuần tới.
Với một loạt các dấu hiệu tích cực trên đây, các lãi suất chủ chốt của chính sách tiền tệ được kỳ vọng sẽ phát huy vai trò định hướng với lãi suất thị trường tiền tệ, phản ánh thực chất diễn biến cung – cầu của thị trường tiền tệ và để đáp ứng tốt nhất các nhu cầu vay của doanh nghiệp.
B. TIN CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI
I. ĐIỆN LỰC
1. EVN không đồng tình phát hành trái phiếu xử lý nợ
(VietnamPlus 26/4, mục Kinh tế, tác giả Kim Anh; Thanh Niên 27/4, tr6, tác giả M. Hà; Đầu Tư Chứng Khoán Online 26/4, mục Chứng khoán, tác giả Anh Việt; Tiền Phong 27/4, tr5; Hà Nội Mới 27/4, tr4; Pháp Luật Thành Phố Hồ Chí Minh 27/4, tr2; Người Lao Động Online 27/4, mục Thời sự trong nước)
Tại cuộc họp báo ngày 26/4 tại Hà Nội, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Tài chính Dầu khí (PVFC) Nguyễn Thiện Bảo cho biết, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) đã đệ trình lên Thủ tướng phương án phát hành trái phiếu để xử lý khoản nợ trên 10.000 tỷ đồng của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) với Tổng Công ty Điện lực Dầu khí (PV Power).
Hiện các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan đang xem xét để có các kiến nghị cụ thể với phương án này, nhất là với các vấn đề kỹ thuật.
Ông Bảo cho hay, nếu phương án phát hành trái phiếu được thông qua và việc phát hành được Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước bảo đảm thì các trái phiếu này hoàn toàn có khả năng giao dịch trên thị trường bởi mang lại lợi nhuận khá hấp dẫn với nhà đầu tư, nhất là khi các kênh đầu tư khác như gửi tiết kiệm, bất động sản hay vàng đều đang có xu hướng trầm lắng.
Không đồng tình với phương án phát hành trái phiếu này, đại diện Tập đoàn EVN cho biết, phương án phát hành trái phiếu này nếu được thông qua sẽ làm phát sinh thêm chi phí lãi suất, tạo thêm áp lực làm tăng giá điện. Vì vậy, EVN đang phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) xây dựng chế tài cơ cấu khoản nợ này nhằm giảm thiểu sức ép lên việc tăng giá điện. Theo đó, phương án được EVN đề xuất lên Chính phủ là WB sẽ đứng ra bảo lãnh trả nợ trong 10-15 năm.
Tính đến hết ngày 31/12/2011, EVN đã nợ PV Power 14.000 tỷ đồng; trong đó có 2.000 tỷ đồng là lãi chậm trả. Khoản nợ này đang làm cho bức tranh tài chính của PVN Power bị "méo mó." Khoản nợ cũng làm nhiều doanh nghiệp của PVN không thể cổ phần hóa và khó tìm nhà đầu tư chiến lược, Tổng giám đốc PVN Đỗ Văn Hậu nhấn mạnh.
2. Quảng Nam: Xây nhà máy điện gió tại đảo Cù Lao Chàm
(Nông Thôn Ngày Nay 27/4, tr2, tác giả Trương Hồng)
Quảng Nam vừa có công văn đề nghị Bộ Quốc phòng thỏa thuận vị trí và cho phép Công ty Trách nhiệm hữu hạn Năng lượng gió Việt Nam được triển khai dự án đầu tư nhà máy điện gió tại khu vực Eo Gió, thuộc xã Tân Hiệp, đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An.
Nhà máy có công suất 2MW. Dự kiến sẽ lắp đặt cột quan trắc gió để thu thập số liệu về gió, tiếp đó xây dựng hai tuốc bin gió cao 105m. Dự kiến đến cuối năm 2013, dự án sẽ hoàn thành.
II. CÔNG NGHIỆP NẶNG – CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
1. "Đầu ra ngành thép: Cứ để thị trường tự quyết định"
(VietnamPlus 26/4, mục Kinh tế, tác giả Đức Duy)
Tình trạng cung lớn hơn cầu, vấn đề thừa, thiếu đã tồn tại cả một thời gian dài đối với ngành tshép trong nước. Đó là vấn đề mà ông Nguyễn Tiến Nghi - Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam trao đổi với báo chí về những kiến nghị để tái cơ cấu lại ngành này.
Theo đó, ông Nghi cho rằng, không thể giải quyết ngay mà cần chấp nhận theo sự vận động của thị trường, ai có khả năng cạnh tranh tốt thì sẽ tồn tại, còn ai không có khả năng tốt thì dần dần sẽ phải thay đổi.
“Chúng tôi đã đi tham khảo một số nước ở Đông Nam Á hoặc Trung Quốc thì các nước cũng như vậy, để cho cơ chế thị trường quyết định,” ông Nghi dẫn chứng.
Theo ông Nghi: Nhà nước và các bộ ngành đã nhìn thấy những khó khăn của doanh nghiệp sản xuất thép, nhưng quan trọng nhất là làm thế nào để tạo ra thị trường tiêu thụ tốt hơn. Hiện lãi suất vay đã giảm, nhưng phải có độ trễ, đồng thời mặc dù đã giảm nhưng lãi suất vẫn đang ở mức cao.
Thứ 2, các dự án đầu tư công thì những công trình nào thật cần thiết cũng cần được đẩy nhanh, còn những công trình xây dựng cơ bản cũng cần được kích hoạt. Có như vậy sẽ tạo cho thị trường tiêu thụ thép trong nước sôi động hơn, giúp cho các doanh nghiệp trong ngành phát huy hiệu quả sản xuất.
Trong năm ngoái và năm nay, xuất khẩu thép có khá hơn, đó cũng là cách giúp cho các doanh nghiệp bớt căng thẳng, bớt sức ép trong nước. Hơn nữa, những doanh nghiệp có công nghệ thiết bị chưa tiên tiến lắm cũng từng bước tìm cách đổi mới, thay đổi thiết bị đi, để còn có thể ngang bằng với các doanh nghiệp khá khác chứ không thể không trong cơ chế thị trường này, các doanh nghiệp đó sẽ hết sức khó khăn.
Ông Nghi cũng nói: Có thể thấy, ngành thép thực hiện cơ chế thị trường khá sớm, hiện cũng triển khai rất quyết liệt việc tái cơ cấu. Nếu doanh nghiệp nào đầu tư không tốt, nhìn xa mấy chục năm với công nghiệp lạc hậu thì chắc chắn sẽ bị loại bỏ.
Trước đây, Hiệp hội cũng đã từng có công văn kiến nghị Bộ Công Thương xem xét việc cấp phép cho các doanh nghiệp sản xuất Thép nên có những quy định chọn công nghệ nào, thiết bị ra sao để khuyến khích đầu tư và Bộ Công Thương đã ra những văn bản điều chỉnh việc quy hoạch ngành này.
2. Lao động ngành cơ khí: Thừa thày thiếu thợ
(Báo Công Thương Điện Tử 26/4, mục Chuyển động Công Thương, tác giả Nguyễn Duyên)
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp ngành cơ khí đang đứng trước tình trạng thiếu nhân lực nghiêm trọng, nhất là thợ có tay nghề cao. Trong khi đó, xu hướng chọn nghề của sinh viên lại không mấy mặn mà với các khối kỹ thuật. Điều này đang dẫn tới nguy cơ mất cân đối trong đào tạo, nhất là tại các trường nghề.
Ông Lê Huy Lân - Chủ tịch Hội đồng quản trị, giám đốc Công ty Cổ phần COMA 18 chia sẻ: Công nhân cơ khí không chỉ đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao mà còn phải cụ thể, tỉ mỉ, chính xác, có ý thức trách nhiệm với sản phẩm mình làm bởi nếu sai hỏng hậu quả sẽ rất lớn. Trong khi đó, thu nhập của ngành cơ khí lại chưa đảm bảo, việc làm kém ổn định, đời sống khó khăn nên người theo nghề ngày càng ít. Số làm được việc lại không gắn bó lâu dài với công ty, thấy chỗ khác lương cao hơn là chuyển đi.
Theo ông Lân, gốc rễ của vấn đề là bởi nhiều năm qua, ngành cơ khí luôn trong tình trạng khó khăn hơn các ngành khác. Nhà nước chưa có những chính sách vĩ mô cũng như chiến lược thúc đẩy ngành cơ khí phát triển, sản phẩm công nghệ cao còn ít, những sản phẩm trong nước có nhu cầu thì đều nhập khẩu. Bản thân công nhân tay nghề cao cũng khó sống được bằng nghề. Vì thế, con em các gia đình theo học nghề cơ khí ngày càng ít. Sinh viên mới ra trường thì phải đào tạo lại vì tay nghề chưa đạt yêu cầu. Khi mất công đào tạo xong lại bị doanh nghiệp khác “nẫng” mất vì họ trả lương cao hơn. Mặc dù COMA 18 hiện có 1000 thợ hàn, nhưng vẫn thiếu khoảng 100 thợ hàn có tay nghề cao.
Thiếu công nhân tay nghề cao không chỉ là nỗi băn khoăn của riêng COMA mà là tình trạng phổ biến ở các doanh nghiệp cơ khí nói chung và các doanh nghiệp lắp máy nói riêng.
Nhằm hạn chế tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” do mất cân đối trong cán cân đào tạo, Tiến sĩ Trần Đức Quý - Hiệu trưởng trường Đại học Công nghiệp Hà Nội cho rằng, Nhà nước cần có thêm cơ chế chính sách để nâng cao mức thu nhập cho các ngành kỹ thuật nói chung và thợ cơ khí nói riêng.
Còn ông Nguyễn Văn Thụ - Chủ tịch Hiệp hội cơ khí kiến nghị, Nhà nước cần tạo ra một thị trường cho ngành cơ khí bằng những cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển. Đặc biệt, cần quan tâm đến công tác tư vấn thiết kế để có thể sản xuất ra những sản phẩm trong nước. Khi ngành cơ khí thực sự được quan tâm, phát triển, nguồn nhân lực cũng sẽ dần khắc phục được những bất cập như hiện nay.
3. Có thể bị áp giá điện riêng, Hiệp hội thép kêu khổ
(Vneconomy 26/4, mục Thời sự, tác giả Huyền Vy)
Cục Điều tiết điện lực (Bộ Công Thương) dự kiến sẽ trình Chính phủ áp dụng cơ chế giá điện riêng, theo hướng tăng lên cho ngành thép, trong trường hợp cần phải điều tiết giá mặt hàng này.
Tuy nhiên, Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho rằng, đây việc làm thiếu công bằng, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành thép.
Theo kết quả của Kiểm toán Nhà nước công bố cuối năm 2011, trong năm 2010, chỉ tính riêng sản lượng điện tiêu thụ của hai ngành sản xuất thép và xi măng lên tới gần 9,5 tỷ kWh, chiếm 11,06% tổng số lượng điện thương phẩm của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Giá bán bình quân cho các hộ sản xuất sắt, thép và xi măng năm 2010 chỉ là 914 đồng/kWh, thấp hơn giá thành điện bình quân là 1.183 đồng/kWh.
Nếu tính chênh lệch giữa giá bán bình quân cho các hộ sản xuất thép và xi măng so với giá thành sản xuất điện thì ngành điện đã phải bù lỗ tới 2.547 tỷ đồng. Cuối năm 2011, EVN đã được phép điều chỉnh giá bán điện bình quân thêm 5%, lên mức 1.304 đồng/kWh, trong đó giá bán cho sản xuất đã chiếm đến 95% của giá bán điện trung bình. Còn giá bán điện sinh hoạt khoảng 1.400 đồng/KWh. Như vậy, giá điện sinh hoạt vẫn cao hơn giá điện sản xuất.
Lý giải điều này, Cục trưởng Cục Điều tiết điện lực Đặng Huy Cường cho biết, giá điện sinh hoạt cao hơn giá điện sản xuất vì chúng ta không khuyến khích người dân sử dụng quá nhiều điện. Như vậy có nghĩa điện sinh hoạt đang phải bù lỗ cho điện sản xuất.
Theo ông Cường, trong thời gian tới, nếu cần thiết Cục Điều tiết điện lực sẽ trình Chính phủ cơ chế giá điện riêng theo hướng tăng lên cho các doanh nghiệp sắt thép, xi măng. Tuy nhiên, đây là những ngành quan trọng liên quan đến phát triển kinh tế đất nước nên phải có sự xem xét nhất định để không ảnh hưởng tới việc xây dựng cơ sở hạ tầng và ngân sách nhà nước.
Không đồng tình với quan điểm trên, Phó chủ tịch VSA Nguyễn Tiến Nghi cho rằng, nói như vậy là không khách quan và thiếu công bằng cho ngành thép. VSA vẫn ủng hộ việc đưa giá điện vận hành theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, nếu áp dụng cơ chế giá điện riêng cho ngành thép theo hướng tăng lên thì cũng phải áp dụng cho tất cả các ngành khác. Thép là ngành kinh tế quan trọng, có ảnh hưởng không nhỏ đến lĩnh vực xây dựng, đầu tư, bất động sản. Do đó, nếu tăng giá riêng cho thép trong bối cảnh hiện nay thì thị trường khó mà chấp nhận được.
Theo báo cáo VSA gửi đến Thủ tướng, giá điện trong cơ cấu giá thành sản phẩm thép chiếm tỷ lệ thấp. Cụ thể, giá điện trong cấu thành giá sản phẩm thép cán xây dựng chỉ chiếm 0,7-0,8%; ống thép hàn là 0,62 - 0,89%; thép mạ kim loại và sơn phủ màu là 0,65 - 0,95%; thép cán nguội là 0,91-1,3%. Trong ngành thép, sản xuất phôi thép tiêu hao năng lượng lớn nhất, khoảng 5 - 6% (450 - 600 kWh/tấn, tùy vào loại công nghệ), còn các sản phẩm khác tiêu hao chỉ từ 100 - 200 kWh/tấn.
Về ý kiến cho rằng việc giá điện rẻ của Việt Nam đã hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực sắt thép, ông Nghi khẳng định, các nhà đầu tư nước ngoài tính đến lâu dài chứ không phải “ăn xổi”. Đến năm 2020, Việt Nam sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp và nhu cầu sử dụng thép đến lúc đó chắc chắn sẽ nhiều hơn, theo tính toán, tối thiểu là 300 kg/người (hiện nay mới có 120-130 kg/người). Trong khi, từ nay đến lúc đó, giá điện cũng sẽ tăng chứ không thể giữ mãi như hiện nay được.
Trong thời gian qua, mới chỉ có duy nhất một dự án thép đầu tư nước ngoài dùng đến điện của EVN là Posco Việt Nam (sản xuất thép cán nguội) ở Bà Rịa - Vũng Tàu, công suất 1,2 triệu tấn/năm. Còn lại các dự án khác chưa hề dùng đến điện như dự án thép Formosa (Đài Loan) ở Vũng áng (Hà Tĩnh) hiện đang trong quá trình san lấp mặt bằng; dự án nhà máy thép Guang Lian (Trung Quốc) ở Dung Quất (Quảng Ngãi) tính đến thời điểm này đã thay đến 4 chủ đầu tư mà vẫn chưa khởi động được; dự án thép không gỉ của Đài Loan cũng đã phải thu hồi giấy phép bởi không thực hiện được; dự án thép của Tata (Ấn Độ) liên doanh với Tổng công ty Thép Việt Nam (VNSteel) cũng vẫn chưa nhận được giấy phép đầu tư; dự án thép Lion Group (Malaysia) liên doanh với Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) đã bị rút giấy phép.
Như vậy, theo VSA, không thể nói nhà đầu tư nước ngoài tranh thủ chính sách giá điện rẻ của Việt Nam. Thế nên, điện của EVN chủ yếu vẫn là doanh nghiệp trong nước sử dụng.
Đối với việc hạn chế xuất khẩu thép, ông Nghi nhấn mạnh, nếu cấm không cho xuất khẩu thép nữa thì thực sự đã đẩy ngành thép vào tình thế khó khăn. Mặc dù, trong năm 2011, Việt Nam xuất khẩu được khoảng 2 triệu tấn thép các loại, đạt giá trị kim ngạch 1,8 tỷ USD, nhưng nếu so sánh với một số ngành xuất khẩu khác thì “chưa thấm vào đâu”. Do đó, để tránh tổn hao điện năng mà cấm xuất khẩu thép là không khả thi.
Chính vì vậy, theo VSA, trong thời gian tới, có áp dụng cơ chế giá điện riêng cho ngành thép hay không cần phải tính tới lợi ích chung của doanh nghiệp và cộng đồng, chứ không chỉ của riêng ngành thép hay của ngành điện.
III. CÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG
1. Đồng Tháp: Ngân hàng thừa tiền - doanh nghiệp thiếu vốn
(Sài Gòn Giải Phóng 27/4, tr6, tác giả N. Duy)
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - chi nhánh Đồng Tháp cho biết, từ đầu năm đến nay tuy các ngân hàng và tổ chức tín dụng trong tỉnh gặp khó khăn trong việc huy động vốn, nhưng về cơ bản không thiếu vốn để cung ứng cho các doanh nghiệp vay phục vụ sản xuất, chế biến, xuất khẩu…
Trong khi đó, Sở Công thương Đồng Tháp và các sở ngành liên quan tỏ ra lo lắng khi 3 tháng đầu năm 2012, toàn tỉnh có khoảng 160 doanh nghiệp giải thể, tạm ngưng hoạt động; hiện nhiều doanh nghiệp khác đang giảm công suất, hoạt động cầm chừng và có thể đóng cửa bất cứ lúc nào. Một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến hàng loạt doanh nghiệp khốn đốn là do ngân hàng siết chặt tín dụng, không tiếp cận được vốn nên không thể duy trì sản xuất.
Giải thích vấn đề này, các ngân hàng ở Đồng Tháp cho rằng, nhiều doanh nghiệp chưa đáp ứng được điều kiện cho vay, chưa chứng minh được tính khả thi của dự án, hiệu quả kinh doanh, khả năng sinh lợi… nên không thể cho vay.
Trước tình hình trên, ông Lê Minh Hoan, Chủ tịch tỉnh Đồng Tháp, đề nghị các ngân hàng đồng hành cùng với chính quyền trong việc hỗ trợ doanh nghiệp, định hướng sản xuất giúp doanh nghiệp. Tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để các doanh nghiệp được tiếp cận vốn nhằm duy trì sản xuất và vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay.
IV. XUẤT NHẬP KHẨU
1. Nhập khẩu ô tô có bước trượt dài và chưa biết điểm dừng
(Kênh VTV1 – Bản tin Tài chính – Kinh doanh lúc 7h ngày 26/4)
6 tháng trở lại đây, kim ngạch nhập khẩu ô tô nguyên chiếc đã có bước trượt dài và khó dự báo đâu sẽ là mức đáy cuối cùng.
Cộng dồn 4 tháng đầu năm ước tính có khoảng 9.000 chiếc xe được nhập khẩu về nước, đạt giá trị kim ngạch 196 triệu USD, giảm khoảng 56% về lượng và giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.
Sụt giảm mạnh bắt đầu sau khi Thông tư 20 của Bộ Công Thương có hiệu lực thi hành khoảng 2 tháng. Những quy định của Thông tư này đã ngăn lại toàn bộ các loại xe nhập khẩu không chính hãng.
2. Kiến nghị điều chỉnh thuế suất nhập khẩu đường
(Thời Báo Kinh Tế Việt Nam 26/4, tr3, tác giả Xuân Hương)
Hiệp hội mía đường vừa kiến nghị Bộ Tài chính xem xét việc điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu đường theo mức thuế suất đã đàm phán khi gia nhập WTO.
Hiệp hội mía đường cho biết, theo Thông tư 157/2011 của Bộ Tài chính, mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng đường thuộc nhóm 17.01 là 15%, thấp hơn mức đàm phán với WTO từ 10-25%, rẻ hơn đường trong nước từ 1.000-3.000 đồng…. Đây là nguyên nhân khuyến khích các doanh nghiệp không sử dụng đường trong nước mà xin nhập khẩu đường.
Hiệp hội mía đường cũng dẫn số liệu từ Bộ Công Thương cho thấy, các doanh nghiệp sử dụng đường đang có đơn xin nhập khẩu đường hiện nay là 268 nghìn tấn, trong khi hạn ngạch nhập theo cam kết WTO năm 2012 là 70 nghìn tấn.
3. Trái cây xuất khẩu của Việt Nam còn những trăn trở
(VietnamPlus 26/4, mục Kinh tế, tác giả Hồng Nhung; TTXVN 26/4)
Trái cây xuất khẩu của Việt Nam hàng năm đạt doanh thu trên 600 triệu USD. Nhưng công tác bảo quản trái cây xuất khẩu đi nước ngoài vẫn còn là điều trăn trở đối với cả nông dân lẫn doanh nghiệp. Đó là chưa nói đến khâu vận chuyển trong nước, đi đến các vùng sâu, vùng xa, nếu không tốt, không nhanh cũng khó tránh khỏi bị hư hao.
Đặc trưng trái cây Việt Nam thuộc loại nhiệt đới, vì vậy thời gian bảo quản sẽ rất ngắn, nếu không sử dụng chất bảo quản sinh học, hoặc bảo quản bằng những chất mà tiêu chuẩn cho phép, thời gian giữ trái tươi cũng chỉ được từ 4-5 ngày, còn khi sử dụng công nghệ, thời gian tối đa cũng chỉ gần hai tuần. Đây là một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng tới lượng trái cây xuất khẩu đi nước ngoài cũng như tiêu thụ trong nước.
Theo ông Nguyễn Văn Kỳ - Tổng thư ký Hiệp hội rau quả, mặt hàng trái cây hiện nay chỉ có thể xuất đi thị trường châu Âu và các nước trong khu vực châu Á. Thậm chí với thị trường châu Âu, đôi khi vận chuyển cũng gặp nhiều khó khăn, vì muốn trái cây vẫn giữ nguyên chất lượng, đạt giá trị xuất khẩu cao, phải chuyển hàng bằng máy bay, trong khi đó chi phí vận chuyển lại cao, doanh nghiệp không thu được lợi nhuận, mà vận chuyển bằng đường thủy lại càng không thể, vì khi đến nơi, lô hàng dễ bị hư hao. Nếu trái cây ra thị trường nước ngoài gặp khó khăn về khâu vận chuyển và bảo quản, thì ngay cả thị trường trong nước cũng không ngoại lệ.
Bà Võ Mai, Chủ tịch Hội làm vườn Việt Nam chia sẻ, so với nhu cầu xuất khẩu trái cây, nhu cầu tiêu dùng trong nước càng lớn hơn nhiều lần. Con đường quốc lộ 1A dài hàng ngàn cây số, xe vận chuyển phải đi mất ba ngày hai đêm mới tới nơi, đó là chưa tính đến phải thêm công đoạn vận chuyển đến vùng Tây Bắc, giao thông lại khó khăn hơn, điều đó cũng đồng nghĩa, trái cây không đến được với đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc. Điều này dẫn đến một nghịch lý của ngành, nơi quá thừa có lúc phải đổ đi, nơi lại quá thiếu so với nhu cầu tối thiểu.
Ông Huỳnh Quang Đấu, giám đốc Công ty rau quả thực phẩm An Giang cho biết, đối với doanh nghiệp chế biến trái cây cũng không ngoại lệ khi xuất mặt hàng khóm sang thị trường Mỹ, doanh nghiệp cũng không sử dụng một loại chất bảo quản nào dù là chế biến đóng lon, bởi yêu cầu của thị trường Mỹ khá khắt khe, chỉ một lần hoặc một sản phẩm có dấu hiệu chứa chất bảo quản không cho phép, xem như mọi hợp đồng sau này đều khó thâm nhập, thậm chí có nguy cơ mất luôn thị trường. Do đó, khi thu hoạch nguyên liệu, doanh nghiệp đưa vào chế biến nhanh nhất để có thể đảm bảo an toàn cho sản phẩm.
Ông cũng đưa ý kiến về yêu cầu cấp thiết giải quyết cho sản phẩm trái cây Việt Nam là một loại chế phẩm sinh học an toàn trong việc bảo quản rau quả, kéo dài thời gian giữ tươi trái cây cũng là giữ giá trị trái cây trong thời gian lâu hơn.
Theo bà Nguyễn Thị Hồng Thu, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Chánh Thu, công ty giữ vững phương châm sản xuất của mình nhằm đảm bảo thị trường tiêu thụ, công ty chỉ xuất các loại trái cây tươi chế biến, trong đó hai loại trái chủ lực là chôm chôm và nhãn.
Để cho ra hai sản phẩm an toàn xuất khẩu sang các nước châu Âu và thị trường Mỹ, công ty đã ba lần đầu tư nâng cấp công nghệ chế biến sau thu hoạch.
Sản phẩm trái cây đóng hộp không sử dụng chất bảo quản, kể cả chất bảo quản sinh học, vì đặc điểm thị trường Mỹ và thị trường châu Âu rất khó tính, nên những loạt sản phẩm đưa sang phải đúng theo tiêu chuẩn của họ.
Chính vì thế, công đoạn thu hoạch, phân loại và chế biến phải được thực hiện trong thời gian nhanh nhất, tránh trái bị đổi màu hoặc xuống màu và hư hao. Trong quá trình vận chuyển, trái cây được bảo quản theo cách thông hơi axit và thông hơi lưu huỳnh.
Để đảm bảo được chất lượng trái, công ty đặt hàng nông dân phải sản xuất theo yêu cầu của công ty. Hơn nữa, do sản xuất theo tiêu chuẩn xuất khẩu nên công ty sẽ thu mua với giá cao hơn so với giá thị trường.
Đây cũng chính là điều khuyến khích nông dân nâng cao ý thức sản xuất hàng chất lượng cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu theo hợp đồng 150 tấn/tháng (sang Mỹ và châu Âu), hoặc 600 tấn/tháng sang thị trường Trung Quốc.
4. Phân bón tìm đường xuất ngoại
(Báo Công Thương Điện Tử 26/4, mục Chuyển động Công Thương, tác giả Nguyễn Duyên)
Giá nguyên liệu đầu vào tăng, đầu ra tiêu thụ chậm, tồn kho lớn đang là những khó khăn mà các doanh nghiệp sản xuất phân bón gặp phải. Để “tự cứu mình”, các doanh nghiệp sản xuất phân bón đang chủ động tìm nhiều biện pháp tích cực.
Theo các doanh nghiệp, triển vọng xuất khẩu phân bón đang rất tốt, đỡ một phần gánh nặng cho các doanh nghiệp trước tình hình khó khăn như hiện nay.
Ông Nguyễn Duy Khuyến - Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Supe phốt phát và Lâm Thao cho biết, Supe Lâm Thao đang đẩy mạnh các giải pháp tiết kiệm trong sản xuất nhằm giảm giá thành. Năm nay, công ty đã đưa ra Nghị quyết tiết giảm 20 tỷ đồng trong sản xuất. Nhiều doanh nghiệp cũng tăng cường sản xuất mặt hàng thế mạnh truyền thống, tiêu thụ tốt nhằm tăng thị phần, bù đắp cho một số dòng sản phẩm tiêu thụ chậm.
Đặc biệt, một số doanh nghiệp đang mạnh dạn tìm đường đưa phân bón đi “xuất ngoại”. Riêng quý I năm nay đã có nhiều doanh nghiệp xuất khẩu phân bón với con số tăng trưởng 55% so với cùng kỳ năm ngoái. Điển hình là các đơn vị sản xuất NPK hàm lượng dinh dưỡng cao như phân bón Bình Điền, phân bón Miền Nam, phân bón Cần Thơ, phân lân nung chảy Văn Điển với thị trường xuất khẩu chủ yếu là Campuchia, Thái Lan, Myanma. Ngoài ra còn một số thị trường tiềm năng khác như Châu Mỹ la tinh, Úc…
5. Đã xuất khẩu thêm 700.000 tấn gạo
(Đại Biểu Nhân Dân 27/4, tr2, tác giả SD; Thanh Niên Online 27/4, mục Kinh tế, tác giả Trung Hiếu)
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, trong tháng 4 nước ta đã xuất khẩu thêm 700.000 tấn gạo, đạt kim ngạch 345 triệu USD. Tổng lượng gạo xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2012 đạt 2 triệu tấn với giá trị kim ngạch 989 triệu USD và bằng 73% cùng kỳ năm 2011 cả về số lượng lẫn giá trị.
Giá gạo xuất khẩu bình quân 3 tháng đầu năm 2012 đạt 493 USD/tấn, giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2011. Bên cạnh đó, giá trị xuất khẩu nông, lâm và thủy sản tháng 4 nước ta cũng đạt 2,1 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm lên gần 8 tỷ USD.
6. Nông nghiệp xuất siêu gần 3 tỉ USD
(Thanh Niên 27/4, tr7, tác giả Quang Duẩn)
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 25/4 cho biết, xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản trong 4 tháng đầu năm ước đạt gần 8 tỉ USD. Trong khi giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản, thủy sản, tiêu và điều đều tăng từ 16 - 54% so với cùng kỳ năm 2011 thì các nông sản chính chỉ thu về 4,6 tỉ USD, giảm 6,6%.
Cụ thể, do giá cả sụt giảm nên giá trị xuất khẩu cao su giảm 12,9%; cà phê giảm 6,5%; xuất khẩu gạo đạt 2 triệu tấn, thu về 989 triệu USD, chỉ bằng 73,7% về lượng và giá trị. Từ đầu năm đến nay, cả nước chi 5 tỉ USD để nhập khẩu phân bón, thuốc trừ sâu, gỗ và sản phẩm gỗ, thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm 2011.
7. Thúc đẩy cạnh tranh thủy sản tại thị trường Canada
(Đầu Tư Điện Tử 26/4, mục Thương mại, tác giả LP)
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Canađa đang là thị trường nhập khẩu lớn thứ 9 của thủy sản Việt Nam và cũng là địa chỉ thân thuộc của sản phẩm mực, bạch tuộc Việt Nam.
3 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang Canađa đạt hơn 440.000 USD, tăng đột biến tới trên 600% so với cùng kỳ năm trước. Canada được đánh giá là thị trường tiềm năng đối với thủy sản Việt Nam.
Để tiếp tục thâm nhập vào thị trường này, các doanh nghiệp xuất khẩu mực, bạch tuộc Việt Nam còn phải cạnh tranh gắt với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Pêru...
Để chiếm lĩnh thị trường tiềm năng này, ngành thủy sản khuyến cáo, các doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý gây thiện cảm ngay từ lần đầu với các đối tác, rõ ràng về giá cả và điều kiện thanh toán, mẫu hàng chất lượng, nhãn sản phẩm... Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần tìm hiểu, nắm bắt rõ nhu cầu của thị trường; đặc biệt, cần nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng tính cạnh tranh.
8. Doanh nghiệp tập trung gom đường xuất qua Trung Quốc
(Tuổi Trẻ 27/4, tr16, tác giả Trần Mạnh)
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, lượng đường tiêu thụ trong một tháng qua tăng gần 150.000 tấn so với cùng kỳ năm trước là do các doanh nghiệp tập trung gom đường xuất qua Trung Quốc.
Dự báo sản lượng đường năm nay thấp hơn kế hoạch nên nhiều khả năng Việt Nam sẽ thiếu đường từ tháng 8-2012 và phải nhập khẩu đường trở lại.
Ông Đoàn Xuân Hòa, phó cục trưởng Cục Chế biến nông lâm sản và thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, tính đến ngày 15/4, lượng đường tồn trong kho các nhà máy tính là 355.000 tấn, thấp hơn cùng kỳ năm trước 169.900 tấn. Trong khi đó, lượng đường các nhà máy bán ra từ ngày 15/3 đến 15/4 là 219.700 tấn, cao hơn cùng kỳ năm trước 146.800 tấn. Do nhu cầu tăng nên giá đường khu vực miền Nam và miền Trung tăng thêm 200-500 đồng/kg. Hiện giá bán đường trắng loại một đã có VAT tại kho nhà máy trên cả nước phổ biến ở mức 16.500-16.700 đồng/kg.
9. Bình Định kiến nghị không hạn chế xuất khẩu gỗ dăm
(Lao Động 27/4, tr3, tác giả Xuân Nhàn)
Để đảm bảo nguồn nguyên liệu bền vững cho các nhà máy chế biến gỗ và hài hòa lợi ích của người lao động, theo Hiệp hội Sản xuất – xuất nhập khẩu gỗ và lâm sản Bình Định, cần áp dụng đồng bộ, lâu dài các giải pháp quy hoạch...
Hiệp hội Sản xuất – xuất nhập khẩu gỗ và lâm sản Bình Định (FPA BinhDinh) cho hay, cơ quan này đã có văn bản gửi các bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công Thương Tổng cục Lâm nghiệp, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam phản đối đề xuất của Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh (Hawa) về việc áp thuế xuất khẩu và áp dụng hạn ngạch đối với mặt hàng dăm gỗ xuất khẩu.
FPA BinhDinh cho rằng, việc áp thuế này sẽ tác động trực tiếp và gây thiệt hại cho người dân cũng như các đơn vị trồng rừng trên cả nước. Thực tế, mức chênh lệch giữa gỗ nguyên liệu cho dăm gỗ và cho các nhà máy chế biến đồ gỗ là không lớn. Tại thành phố Quy Nhơn, Bình Định, ở thời điểm cuối tháng 2, giá mua gỗ keo nguyên liệu của các nhà máy chế biến dăm là 1,2 triệu đồng/tấn tươi (tương ứng với 1m3 gỗ tròn), trong khi các nhà máy chế biến gỗ trên cùng địa bàn mua với giá 3,3 – 3,4 triệu đồng/m3 gỗ xẻ (tương ứng 1,5 triệu đồng/m3 gỗ tròn).
Mức chênh lệch 250.000 – 300.000 đồng/m3 gỗ tròn là không lớn để cân đối chi phí cưa xẻ và phần thải hồi phần gỗ có đường kính từ 10cm trở xuống. Do vậy, không đủ khả năng khuyến khích người trồng rừng bán sản phẩm cho cơ sở chế biến đồ gỗ - FPA BinhDinh tiếp tục phân tích.
Được biết năm 2011, kim ngạch xuất khẩu dăm gỗ tại Bình Định đạt 48,6 triệu USD, chiếm tỉ trọng đáng kể so với 275 triệu USD giá trị xuất khẩu của ngành gỗ địa phương.
V. THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC – QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG
1. Bộ Công Thương đau đầu với giá xăng dầu
(Đất Việt 26/4, tr10, tác giả Bảo An)
Sau 2 năm điều hành giá bán xăng dầu theo Nghị định 84, Bộ Công Thương cho rằng, vẫn chưa vận hành tốt dẫn đến thị trường nảy sinh bất cập.
Việc điều chỉnh giá bán xăng dầu trong nước chậm hơn biến động giá thế giới, giá bán lẻ thấp hơn giá cơ sở gây lỗ tích lũy cho doanh nghiệp. Trong quá trình điều hành giá chưa có quy định bù chi phí cho doanh nghiệp tham gia bình ổn, dẫn đến Quỹ Bình ổn bị âm hơn 2.300 tỷ đồng, khoản lỗ kinh doanh xăng dầu hơn 5.00 tỷ đồng vẫn chưa có hướng xử lý.
Trong văn bản vừa ký gửi Thủ tướng báo cáo việc thực hiện Nghị định 84, Bộ Công thương cho rằng, hầu hết những quy định của Nghị định 84 cơ bản được vận hành tốt, trừ điều 27 về nguyên tắc quản lý giá bán. Nội dung của điều khoản này quy định giá bán xăng dầu phải được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, trong đó nêu rõ quy định về tăng và giảm giá bán lẻ.
Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú cho rằng, điều 27 có ảnh hưởng mang tính quyết định tới các nội dung điều hành khác, như tổ chức hệ thống phân phối, dự trữ lưu thông, chống xuất lậu, chất lượng xăng dầu…, song do chưa vận dụng tốt, nên thị trường đã nảy sinh bất cập. Điển hình là việc doanh nghiệp đầu mối chỉ được quyết định giá bán trong giai đoạn ngắn từ khi Nghị định có hiệu lực cuối năm 2009 đến tháng 3.2010, còn đại bộ phận thời gian là Nhà nước quyết định giá.
Cũng theo ông Tú, hệ lụy trực tiếp là doanh nghiệp gặp khó khăn, vốn chủ sở hữu đã ít (khoảng 14.000 tỷ đồng vào 2011) nay lại càng bị áp lực, do khoản vay tín dụng ngày một tăng. Năm 2011, vay tín dụng gần 27.000 tỷ đồng, tương đương 193% vốn chủ sở hữu. Song, doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong vay tín dụng kinh doanh xăng dầu, nhận tín dụng mua xăng dầu của đối tác nước ngoài, duy trì ổn định hệ thống phân phối.
Việc doanh nghiệp bị lỗ dẫn đến hoa hồng cho tổng đại lý, đại lý bán lẻ xăng giảm quá thấp, làm ảnh hưởng đến hệ thống phân phối của doanh nghiệp, mất tính ổn định và luôn bị xáo trộn. Ngoài ra, một số thành tố cấu thành giá cơ sở đã lạc hậu, như chi phí định mức được tính dựa trên các yếu tố đầu vào từ năm 2009 (600 đồng/lít) nay đã tăng, nên giá bán lẻ được tính toán, điều hành qua giá cơ sở càng xa giá thế giới.
Nói một cách ngắn gọn về thị trường xăng dầu hơn 2 năm qua, Tiến sỹ Nguyễn Minh Phong - Viện nghiên cứu kinh tế xã hội Hà Nội cho rằng, giá xăng Việt Nam như bản “trường ca” với gam màu chủ đạo là điệp khúc lỗ nặng và kéo dài, bất chấp giá thế giới lên hay xuống. Và điệp khúc này đã, đang và sẽ còn tiếp tục gây bức xúc trong dư luận xã hội. Giá xăng thường lên nhanh - xuống chậm so với giá thế giới. Đặc biệt, dù giá thế giới lên hay xuống, thì doanh nghiệp đầu mối luôn kêu lỗ, cơ quan chức năng luôn chịu cảnh “trên đe dưới búa”, ngân sách nhà nước thất thu và người tiêu dùng cắn răng chịu đựng, vì không còn lựa chọn nào khác.
Điều hành giá xăng yêu cầu được tự do định giá theo thị trường, trong khi chưa có cạnh tranh đầy đủ trên thị trường, và đặc biệt là sự minh bạch về giá sẽ là dấu hỏi đậm, lớn, còn bỏ ngỏ trong nhận thức chung của xã hội. Các thông tin giải trình và phương án tăng giá về điện và xăng dầu hầu hết mang tính áp đặt một chiều; công tác kiểm toán và giám sát đầu tư có nhiều khoảng trống; với nhiều hiện tượng thất thoát, thất thu, sử dụng kinh phí sai mục tiêu, quy định trong kinh doanh của một trong những ngành “đại gia” hàng đầu đất nước này.
Ông Phong nhấn mạnh phải cung cấp chính xác thông tin về chi phí đầu vào, nghĩa vụ tài chính và lợi nhuận định mức của doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, khuyến khích phản biện khoa học và phản biện xã hội về hoạt động, chi phí và giá cả.
Cần xây dựng khung giá chuẩn, đa dạng hóa các nguồn vốn và hình thức đầu tư - kinh doanh, tăng cường năng lực và hiệu lực quản lý Nhà nước, mở rộng sự minh bạch và giám sát xã hội mới mong minh bạch giá mặt hàng xăng dầu.
2. Giá xăng dầu: Đừng viện cớ doanh nghiệp “lỗ”!
(Nhà Báo và Công Luận số ra từ ngày 27/4-10/5, tr24, tác giả PV)
Hơn 9 tháng trước, như để “chiều lòng dân”, Bộ Tài chính đã thực hiện công khai giá cơ sở mặt hàng xăng dầu cùng cách tính giá bán lẻ, các khoản thuế, phí, giá nhập khẩu… Nhưng người dân vẫn chẳng thể tin cái sự minh bạch ấy, vì thấy giá xăng cứ tăng mãi, chưa giảm. Và lần tăng giá nào cũng được đưa ra ngay sau khi các doanh nghiệp xăng dầu đầu mối kêu lỗ.
“Giá xăng dầu: Vẫn là câu chuyện “thầm kín”! là bài viết của tác giả Thu Hằng đăng trên báo Thời báo Kinh doanh thứ 4 ngày 25/4 đã dẫn lời chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh: ““Phải có cơ chế để “ép” doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận bằng kinh doanh giỏi trên thị trường, chứ không phải bằng tăng giá. Chỉ như thế thì mỗi lần điều chỉnh giá xăng dầu mới khiến người dân tin, chứ không viện cớ doanh nghiệp lỗ- mà thông tin lỗ lãi vẫn cứ “mập mờ” mãi như vậy được!”
Từ trước đến nay, giá xăng dầu luôn làm người tiêu dùng … hồi hộp, còn doanh nghiệp thì than vãn “lỗ nặng”.
Ngày 7/3, người tiêu dùng lại được dịp “choáng váng” khi giá xăng tăng vèo thêm 2.100 đồng/lít, giá dầu tăng trên 600 đồng/lít. Người dân chưa kịp trấn tĩnh lại, thì ngày 20/4, giá xăng bất ngờ “leo thang” thêm 400-900 đồng/lít. Như vậy, chỉ trong vòng 1 tháng, giá dầu đã tăng liên tiếp hai lần với tổng mức tăng tới 15%. Trong cả 2 lần tăng giá, người tiêu dùng chỉ biết lý do là vì các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối đang bị lỗ.
Thế nhưng, ngày 22/4, trả lời câu hỏi về chuyện lỗ- lãi của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) sau khi quyết định tăng giá xăng dầu lần thứ hai trong năm nay, ông Bùi Ngọc Bảo- Chủ tịch Hội đồng thành viên Petrolimex, khẳng định: “Tại thời điểm tăng giá, chúng tôi không còn lỗ nữa”.
Vì thế, lần tăng giá này có thể coi là “lịch sử” trong diễn biến giá xăng dầu, vì lần đầu tiên doanh nghiệp thừa nhận mình… hết lỗ!
Ông Bảo còn “thật lòng” hơn khi cho biết Petrolimex vẫn lỗ lớn trong tháng 4, nhưng con số chính xác thì ông không nhớ (vì đã thôi điều hành kinh doanh xăng dầu). Theo ông Bảo, việc tăng giá xăng dầu lần này không chỉ vì lợi ích của doanh nghiệp, mà để giải quyết các vấn đề về nguồn thu ngân sách, nhất là thuế. Bởi vì suốt thời gian dài, Nhà nước đã đưa thuế nhập khẩu về 0 và quỹ bình ổn giá đang bị âm, nên bây giờ phải … bù lại!
Về thông tin 4 doanh nghiệp xăng dầu, trong đó có Petrolimex, gửi công văn kiến nghị tăng giá, lãnh đạo Petrolimex “phân trần” rằng: “doanh nghiệp chỉ thực hiện báo cáo kinh doanh theo định kỳ 15 ngày/lần. Còn giá là do Nhà nước quyết định”.
Nếu theo như cách nói của ông Bảo, thì liên Bộ Tài chính- Công thương cứ thấy doanh nghiệp bị lỗ, sử dụng hết công cụ thuế và quỹ bình ổn là sẽ “tự động” điều chỉnh giá lên?
Thế nhưng, kết quả kiểm toán năm 2009 của Petrolimex lại chứng minh điều ngược lại: Năm 2009 có 9 lần tăng giá xăng dầu thì Petrolimex lãi tới 2.660 tỷ đồng! (?).
Vậy, phải chăng cách điều hành giá xăng dầu hiện nay có vấn đề?
Theo chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh, cách điều hành giá xăng dầu, trong đó có quy định giá cơ sở đang không tạo động lực cho doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả: “Đáng lẽ, doanh nghiệp xăng dầu phải biết tính toán thời điểm phù hợp để nhập hàng, dự phòng các rủi ro, có lời. Nhưng doanh nghiệp của ta cứ kinh doanh lỗ lại đòi tăng giá”, và cho rằng: “Phải có cơ chế để “ép” doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận bằng kinh doanh giỏi trên thị trường, chứ không phải bằng tăng giá. Chỉ như thế thì mỗi lần điều chỉnh giá xăng dầu mới khiến người dân tin, chứ không viện cớ doanh nghiệp lỗ- mà thông tin lỗ lãi vẫn cứ “mập mờ” mãi như vậy được!".
3. Doanh nghiệp xả hàng tồn, đại lý gas khóc ròng
(Sài Gòn Tiếp Thị Online 25/4, mục Tiêu dùng, tác giả Ca Hảo)
Theo công bố của các doanh nghiệp, giá mỗi bình gas 12kg hiện vào khoảng 405.000 – 410.000 đồng, tuy nhiên một vài nhãn hiệu được các đại lý bán thấp hơn 35.000 – 40.000 đồng. Điều này khiến không ít đại lý đau đầu và có ý định đổi nhà cung cấp để có gas với mức giá “mềm” hơn.
Theo một đại lý gas ở quận Bình Tân (Thành phố Hồ Chí Minh), thời gian gần đây, khách hàng thường gọi điện phàn nàn vì sao giá gas SP (gas của Saigon Petro) cao hơn gas Thủ Đức đến 35.000 đồng, khiến bà chủ đại lý này không biết giải thích thế nào. Không những thế, rất nhiều khách quen đã bỏ cửa hàng của bà khiến bà buộc phải liên hệ với công ty Thủ Đức gas để làm đại lý.
“Tôi đã phải nhiều lần giải thích cho khách hàng rằng, một bình gas SP nhập vào đã 375.000 đồng, còn phải trả phí nhân công, điện nước, mặt bằng, thuế… thì không thể bán với giá 370.000 đồng được. Tuy nhiên, nhiều người vẫn không chấp nhận”, chủ đại lý ở quận Bình Tân nói.
Người tiêu dùng không còn quan tâm đến vỏ bình đẹp hay xấu mà chỉ cần giá thấp. “Gas nào cũng là gas” là câu trả lời của nhiều người khi chọn lấy gas giảm giá hoặc gas khuyến mãi. Đặt vấn đề liệu có gas kém chất lượng trong trường hợp này, đại diện một doanh nghiệp kinh doanh gas có uy tín tại Thành phố Hồ Chí Minh nói, không có gas giả hay gas kém chất lượng. Do giá gas thế giới đang giảm mạnh, một số nhãn hiệu buộc phải giảm giá để xả hàng tồn.
Theo vị này, từ đầu tháng đến giờ, đa số doanh nghiệp gas đều lỗ vì lượng hàng tồn giá cao từ tháng trước quá lớn. Trong khi đó, giá gas...
