Nền kinh tế nước này có tốc độ tăng trưởng thất thường và phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực thương mại và nông nghiệp, hai ngành tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân.

Năm 2013, GDP của Togo đạt 4,299 tỉ USD, tăng trưởng 5,5%, lạm phát ở mức 2,2%. GDP đầu người là 506 USD/năm. Trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp chiếm 27,6%, công nghiệp 33,7% và dịch vụ 38,7%.

Nông nghiệp sử dụng 65% lao động cả nước với các sản phẩm chính gồm ngô, sắn, kê, lúa, bông, cà phê.

Về công nghiệp, Togo là một trong những quốc gia sản xuất phốt phát hàng đầu thế giới. Mặc dầu vậy, ngành này cũng gặp phải không ít khó khăn do ảnh hưởng của giá phốt-phát và sự cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Togo cũng là một trong những trung tâm quá cảnh và dịch vụ của khu vực Tây Phi (lĩnh vực dịch vụ chiếm 38,7% GDP). Cảng biển Lomé, điểm vào của hàng hoá đi những nước thuộc khu vực Sahara đã được hưởng lợi từ cuộc khủng hoảng chính trị tại Côte d’Ivoire trong những năm gần đây.

Về ngoại thương, năm 2013, kim ngạch xuất khẩu của Togo đạt 882,2 triệu USD gồm các mặt hàng bông, phốt phát, cà phê, ca cao và hàng tái xuất. Riêng cacao, cà phê và bông chiếm khoảng 40% nguồn thu xuất khẩu trong đó bông là mặt hàng quan trọng nhất. Các đối tác xuất khẩu chính gồm có Ấn Độ, Libăng, Burkina Faso, Benin, Trung Quốc, Niger, Hà Lan, Ghana.

Kim ngạch nhập khẩu đạt 1,677 tỷ USD gồm máy móc thiết bị, thực phẩm, sản phẩm dầu khí. Các đối tác nhập khẩu gồm có Trung Quốc, Hà Lan, Pháp, Anh.

Togo được coi là Thụy Sĩ của Tây Phi, nơi đặt trụ sở của Quỹ phát triển Cộng đồng kinh tế các quốc gia Tây Phi (ECOWAS), Ngân hàng phát triển Tây Phi (BOAD) và các ngân hàng khu vực khác. Hơn 10 năm nay, Togo tiến hành cải cách kinh tế, bao gồm tư nhân hoá, minh bạch tài chính công, giảm chi tiêu chính phủ, ổn định chính trị và thúc đẩy thương mại, nhằm tìm lại vị trí trung tâm thương mại trước đây ở khu vực Tây Phi.

Trong một thập kỷ qua, với sự giúp đỡ của Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Togo đã áp dụng những biện pháp cải cách kinh tế (tư nhân hóa, mở rộng hoạt động tài chính công…), giảm chi tiêu chính phủ. Vì vậy, nước này đã nhận được sự ủng hộ tích cực của các nhà tài trợ quốc tế.

Togo đã có những tiến bộ trong việc tự do hoá nền kinh tế, cụ thể là lĩnh vực thương mại và hoạt động cảng. Tuy nhiên, chương trình tư nhân hoá các lĩnh vực bông, viễn thông và nước dường như vẫn giậm chân tại chỗ.

Trao đổi thương mại Việt Nam-Togo

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Togo vẫn còn khiêm tốn. Năm 2013, xuất khẩu sang Togo đạt 40,69 triệu USD tăng 36% và nhập khẩu đạt 35,18 triệu USD, tăng 29% so với năm trước đó. Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu chính gồm gạo, xi măng, nguyên phụ liệu thuốc lá, xe máy nguyên chiếc và linh kiện phụ tùng xe máy, clanke, sắt thép các loại, máy vi tính.... Do sản xuất lúa trong nước không đủ nên mỗi năm Togo phải nhập khẩu khoảng 100.000 tấn gạo, chủ yếu từ Thái Lan, Trung Quốc, Pakistan và Việt Nam. Bên cạnh việc phục vụ tiêu dùng trong nước, mặt hàng xe máy và gạo nhập khẩu còn được tái xuất sang các nước láng giềng như Ghana, Benin.

Bảng 1. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Togo năm 2013

Những mặt hàng xuất khẩu

Giá trị (USD)

Gạo

15,405,074

Xi măng

5,950,000

Nguyên phụ liệu thuốc lá

3,811,426

Linh kiện phụ tùng xe máy

3,253,539

Xe máy nguyên chiếc

3,220,446

Hàng hoá khác

2,392,105

Clanhke

1,705,500

Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện

1,289,365

Sắt thép các loại

955,764

Sản phẩm dệt may

841,968

Lưới đánh cá

625,532

Sản phẩm hoá chất

414,052

Sản phẩm chất dẻo

220,607

Đĩa lưu trữ thông tin thuộc nhóm 8523

158,634

Hàng rau quả

72,498

Chất dẻo nguyên liệu

67,161

Giày dép các loại

64,671

Hàng hải sản

50,822

Sản phẩm từ cao su

46,691

Sản phẩm gốm, sứ

40,831

Bao túi thuộc chương 63

25,962

Bánh kẹo, sản phẩm ngũ cốc

25,246

Sản phấm sắt thép

13,471

Dược phẩm

13,268

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

10,401

Nước uống các loại đóng chai (mã 2202)

10,003

Máy móc thiết bị, dụng cụ & phụ tùng

9,954

Tổng cộng

40,694,989

Nguồn: Tổng cục Hải quan VN

Các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu chủ yếu từ Togo gồm sắt thép phế liệu, bông các loại, hạt điều, gỗ và sản phẩm gỗ...

Bảng 2. Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Togo năm 2013

Những mặt hàng nhập khẩu

Giá trị (USD)

Sắt thép phế liệu

14,313,694

Bông các loại

12,934,878

Hạt điều

6,361,124

Gỗ & sản phẩm gỗ

1,432,281

Cà phê

114,851

Hàng hoá khác

18,973

Đậu tương

10,310

Tổng cộng

35,186,111

Nguồn: Tổng cục Hải quan VN

Một số lưu ý khi kinh doanh tại Togo

Thời gian qua đã xảy ra một số trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu Togo lừa đảo doanh nghiệp Việt Nam qua mạng Internet. Thủ đoạn mà những “đối tác” Togo hay dùng là đặt mua hàng với khối lượng lớn, thời gian ký hợp đồng rất gấp và thường hối thúc nhà xuất khẩu chuyển trước một số phí từ 1500 đến 6000 USD như phí đăng ký sản phẩm nhập khẩu, phí xin giấy phép nhập khẩu và hợp thức hoá giấy tờ này, phí theo quy định của Bộ Tài chính Togo về kiểm soát chống khủng bố, rửa tiền, buôn lậu ma tuý, phí trả cho luật sư thay mặt người bán ký hợp đồng trước sự chứng kiến của ngân hàng nước sở tại, phí hợp thức hoá hợp đồng vv…Trong khi theo Luật Thương mại của Togo, nhà xuất khẩu không phải trả những loại phí trên. Một số đối tượng còn tự nhận là các tổ chức của chính phủ hoặc phi chính phủ đứng ra mua hàng để phục vụ các hoạt động nhân đạo tại châu Phi.

Vì vậy, khi phát hiện những dấu hiệu kể trên, doanh nghiệp Việt Nam cần chấm dứt mọi giao dịch để tránh thiệt hại về tài chính cũng như lãng phí thời gian.

Để tìm kiếm khách hàng tại châu Phi, doanh nghiệp nên liên hệ với các Thương vụ Đại sứ quán Việt Nam tại Algeria, Ai Cập, Nam Phi, Maroc và Nigeria, các Đại sứ quán châu Phi tại Hà Nội; tích cực tham gia các Hội chợ triển lãm quốc tế, các Hội thảo, Diễn đàn Doanh nghiệp, các đoàn nghiên đi cứu thị trường và xúc tiến thương mại do Bộ Công Thương (Vụ Thị trường Châu Phi, Tây Á, Nam Á) và các Hiệp hội tổ chức hoặc qua đối tác quen biết giới thiệu. Doanh nghiệp cũng có thể tìm hiểu thông tin thị trường và cơ hội kinh doanh qua trang webwww.ttnn.com.vn; vietnamexport.com của Bộ Công Thương. Hạn chế việc tìm kiếm đối tác qua mạng Internet.

Togo là một nước nói tiếng Pháp và tất cả các văn bản được thảo bằng ngôn ngữ này ngay cả tại các tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế có trụ sở làm việc tại đây. Do vậy, nếu một văn bản hành chính (như giấy phép kinh doanh) viết bằng tiếng Anh thì đó có thể là một hành vi lừa đảo.

Về phương thức thanh toán, doanh nghiệp nên đề nghị sử dụng tín dụng thư không huỷ ngang có xác nhận hoặc bảo đảm của ngân hàng để đề phòng rủi ro trong khâu thanh toán./.