Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua một năm 2016 nhiều thử thách với những biến động lớn của kinh tế toàn cầu. Trong đó đáng chú ý nhất là những sự kiện: (i) Nước Anh quyết định rời bỏ Liên minh Châu Âu sau một cuộc trưng cầu dân ý (Brexit); (ii) Chiến thắng bất ngờ của Donald Trump trong cuộc bầu cử tổng thống tại Mỹ; (iii) giá hàng hóa cơ bản có diễn biến phức tạp, giá năng lượng phục hồi trong khi giá lương thực thực phẩm suy giảm; và (iv) Mỹ bắt đầu tự tin thoát khỏi suy thoái kinh tế bằng việc nâng lãi suất. Trong bối cảnh phức tạp của của môi trường toàn cầu, kinh tế Việt Nam tiếp tục bộc lộ những dấu hiệu cho thấy tính dễ tổn thương trước các cú sốc. Tăng trưởng suy giảm trong nửa đầu năm 2016vì sự cố môi trường biển Miền Trung và hạn hán tại miền Nam và Tây Nguyên, dẫn tới sự suy giảm của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam năm 2016 vẫn có những điểm sáng trong việc điều hành chính sách, khởi động cải cách hành chính mạnh mẽ, kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Những yếu tố này dự kiến sẽ làm nền tảng cho sự phục hồi kinh tế trong năm 2017.

Nhìn lại kinh tế Việt Nam năm 2016

Nông nghiệp và công nghiệp khai khoáng suy giảm

Sau khi hồi phục năm 2015, kinh tế Việt Nam đã bộc lộ những dấu hiệu cho thấy tính dễ tổn thương trước các cú sốc. Tăng trưởng kinh tế gây thất vọng với mức tăng của hai quý đầu năm lần lượt là 5,48% và 5,78% so với cùng kỳ năm trước. Dù phục hồi trong nửa cuối năm, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 6,21%, thấp hơn mức 6,68% năm 2015 và mục tiêu 6,3% mà Chính phủ đặt ra trong phiên họp thường kỳ tháng 9. Đặc biệt, suy giảm thấy rõ trong ngành nông nghiệp và công nghiệp khai khoáng.

Khu vực nông nghiệp, vốn chiếm 11-13% GDP, ước tính chỉ tăng 0,72% và đóng góp được 0,09 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Trong khi đó, tăng trưởng lâm nghiệp và thủy sản cũng giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước khiến cả khu vực nông, lâm ngư nghiệp chỉ tăng 1,36%, thấp nhất trong vòng 6 năm trở lại đây.

Hình 1: Tăng trưởng kinh tế theo ngành, 2014 - 2016 (%)


                                                                                                 Nguồn: Tổng cục Thống kê

Nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo vẫn là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng nhóm ngành này đạt 11,09% (yoy), cao hơn so với hai năm trước (2014: 8,45%; 2015: 10,60%). Tuy nhiên, với mức đóng góp lên tới 28,4% trong cơ cấu GDP khu vực công nghiệp, suy giảm ngành khai khoáng đã tác động không nhỏ tới tăng trưởng khu vực này cũng như tăng trưởng kinh tế chung. Ước tính năm 2016 ngành khai khoáng suy giảm tới 4,0% so với cùng kỳ năm ngoái, làm giảm 0,33 điểm phần trăm tăng trưởng kinh tế.

Tình hình hoạt động doanh nghiệp khởi sắc

Dù tăng trưởng suy giảm so với năm 2015, hoạt động của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là trong khu vực chế biến chế tạo, vẫn được coi là một điểm sáng của kinh tế năm 2016. PMI duy trì trên ngưỡng 50 điểm cho thấy sự phục hồi trong khu vực sản xuất của Việt Nam. Đặc biệt, chỉ số này đã đạt 54 điểm trong tháng 11, cao nhất trong vòng 18 tháng trở lại đây.

Trong năm 2016, Chính phủ mới thành lập đã đưa ra nhiều thông điệp thể hiện quyết tâm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020, như Nghị quyết 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020. Tuy nhiên, các mục tiêu đưa ra trong Nghị quyết như đóng góp của khu vực tư nhân chiếm 48%-49% GDP vào năm 2020, năng suất lao động xã hội tăng khoảng 5%/năm, là những mục tiêu khá cao. Chúng tôi cho rằng Chính phủ mới cần quyết tâm hành động rất cao mới làm được điều này để vực dậy nền kinh tế nội địa.

Bên cạnh đó, tình hình đăng ký doanh nghiệp trong năm 2016 cũng có nhiều cải thiện đáng kể. Số doanh nghiệp đăng ký hoạt động mới đạt 110,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 16,2% so với năm 2015, với 891,1 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký, tăng 48,1%. Số vốn đăng ký trung bình trên một doanh nghiệp tăng đáng kể ở mức 27,5% và đạt 8,1 tỷ đồng/doanh nghiệp.

Áp lực tăng lạm phát đến từ hai phía

Không còn được hỗ trợ bởi các yếu tố bên ngoài như năm 2015, chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng tăng trở lại, đặc biệt trong những tháng cuối năm 2016. Đặc biệt, chỉ số giá chịu áp lực tăng từ cả những yếu tố bên trong và bên ngoài nền kinh tế. Giá cả các loại hàng hóa cơ bản phục hồi kết hợp với điều chỉnh giá nhóm dịch vụ giáo dục và y tế gây ra sức ép lớn lên lạm phát trong nước.

Tính tới thời điểm cuối năm, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 4,74% so với tháng 12/2015. Trong khi đó, lạm phát lõi vẫn duy trì trong khoảng 1,7-1,9% (yoy) trong cả năm 2016, điều này khiến khoảng cách giữa lạm phát và lạm phát lõi ngày càng được nới rộng. Điều này cho thấy rõ sự gia tăng mạnh trong chỉ số giá các nhóm hàng lương thực - thực phẩm, năng lượng và do Nhà nước quản lý.

Mặc dù suy giảm trong những tháng giữa năm, chỉ số giá các mặt hàng lương thực do Ngân hàng Thế giới tính toán vẫn tăng từ 85,95 điểm cuối năm 2015 lên mức 93,15 điểm trong tháng 11/2016. Đi cùng xu hướng này, chỉ số giá nhóm hàng lương thực và thực phẩm của Việt Nam trong tháng 12 lần lượt tăng 2,57% và 3,34% (yoy), so với mức mức tăng -1,65% và 1,47% tương ứng của hai nhóm hàng này cùng kỳ năm 2015.

Hình 2: Lạm phát Việt Nam, 2013 - 2016 (so với cùng kỳ năm trước)

                                Ghi chú: Lạm phát lõi từ tháng 01/2015 do Tổng cục Thống kê công bố

                                        Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ số liệu của Tổng cục Thống kê

Bên cạnh những ảnh hưởng từ thị trường thế giới, lạm phát tăng trở lại trong những tháng cuối năm 2016 còn do việc Chính phủ điều chỉnh giá các dịch vụ cơ bản. Mức giá trong nước tăng nhanh sau những lần điều chỉnh giá nhóm dịch vụ y tế và giáo dục. Giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP. Theo đó đến hết năm 2016, giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước (NSNN) cần tính đầy đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp (chưa tính chi phí quản lý và chi phí khấu hao tài sản cố định). Tính tới cuối năm 2016, chỉ số giá nhóm hàng dịch vụ y tế đã tăng 77,57% so với cuối năm 2015, đóng góp tới 2,7 điểm phần trăm trong mức tăng CPI. Trong khi đó, học phí được điều chỉnh trong tháng Chín đã đẩy mức giá chung của nhóm hàng dịch vụ giáo dục tăng 12,5% (yoy).

Điểm sáng trong điều hành chính sách tiền tệ

Về cơ bản, chúng tôi cho rằng điều hành tiền tệ trong năm 2016 là linh hoạt và chặt chẽ. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn theo sát mục tiêu ổn định lạm phát và thận trọng với mục tiêu này. Tuy nhiên, càng về cuối năm các nhân tố làm tăng lạm phát xuất hiện càng nhiều hơn, bao gồm sự phục hồi trong giá năng lượng và điều chỉnh giá dịch vụ công. NHNN đã có lưu ý về nguy cơ lạm phát quay trở lại trong năm 2017, đồng thời, nên đã có những cân nhắc điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong thời gian tới.

Thặng dư trên cán cân thanh toán từ đầu năm tạo điều kiện thuận lợi cho NHNN mua ròng ngoại tệ để bổ sung dự trữ ngoại hối phần dự trữ đã sử dụng trong năm 2015. Trong phiên họp thường kỳ tháng 12, Chính phủ đã cho biết dự trữ ngoại hối tính tới cuối năm đạt khoảng 41 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay. Theo nhận định của chúng tôi, quá trình trung hòa lượng tiền Việt đẩy ra thị trường để mua USD đã được thực hiện uyển chuyển nhưng chặt chẽ, không gây dư tiền mặt trong nền kinh tế dẫn tới lạm phát, nhưng cũng không gây căng thẳng trên thị trường liên ngân hàng, từ đó góp phần hạ hoặc ít nhất kìm giữ lãi suất ổn định để giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2017

Dù tăng trưởng thương mại dần hồi phục cùng với triển vọng tốt trong thu hút vốn FDI, chúng tôi cho rằng những mục tiêu tăng trưởng mà Chính phủ đang đặt ra là khó có thể đạt được. Do đó, chúng tôi cũng duy trì lưu ý về việc cần tránh tâm lý nôn nóng đạt mục tiêu tăng trưởng cao khi bắt đầu một nhiệm kỳ Chính phủ mới, dẫn tới buông lỏng ổn định vĩ mô. Nếu bất ổn vĩ mô tái diễn, thì cái giá phải trả sẽ đắt hơn nhiều.

Cùng với đó, chi ngân sách đang có xu hướng gia tăng trong những tháng cuối năm và không kịp điều chỉnh xuống tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế trên thực tế, trong khi thu ngân sách, đặc biệt là ngân sách trung ương lại gặp nhiều khó khăn vì phản ánh đúng thực tế tăng trưởng chậm hơn so với dự báo từ đầu năm. Chúng tôi cho rằng mục tiêu duy trì bội chi ngân sách dưới 5% GDP trong năm 2016 sẽ một lần nữa bị phá vỡ. Trong thời gian tới, bên cạnh việc thực tế và khiêm tốn hơn trong việc lập kế hoạch tăng trưởng đầu năm, Chính phủ mới cần có một chiến lược tổng thể và hữu hiệu cắt giảm bộ máy hành chính và chi thường xuyên trong cả nhiệm kỳ.

Tuy nhiên, điểm sáng của kinh tế Việt Nam năm 2017 được kỳ vọng là hoạt động của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt khối doanh nghiệp chế biến chế tạo. Doanh nghiệp đang có điều kiện phát triển thuận lợi khi Chính phủ mới bộc lộ rõ mối quan tâm trong cải cách thủ tục hành chính và cải thiện môi trường kinh doanh. Nghị quyết 19 và 35 của Chính phủ trong năm 2016 được kỳ vọng là sẽ giúp giảm bớt các thủ tục hành chính không cần thiết cũng như hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, đặc biệt là khối doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cần có thời gian để đạt được sự phối hợp và nhất trí giữa các cơ quan thực thi hai nghị quyết này. Qua đây, cũng cho thấy thị trường và các nhà đầu tư đang theo dõi chặt chẽ quyết tâm cũng như khả năng của Chính phủ mới trong việc thực thi những chính sách mới một cách khả thi và hiệu quả.

Thận trọng ứng phó với những cú sốc mới

Ngoài những vấn đề nội tại cố hữu của nền kinh tế nội địa, tình hình kinh tế thế giới đầy bất trắc cũng sẽ gây ra những ảnh hưởng không nhỏ tới Việt Nam.

Thứ nhất, FED tăng lãi suất cơ bản đồng thời gợi mở khả năng sẽ có 3 đợt tăng lãi suất trong năm 2017. Động thái này không chỉ ảnh hưởng tới nền kinh tế Mỹ mà còn ảnh hưởng tới kinh tế toàn cầu. Một trong những thay đổi rõ rệt nhất là sự lên giá của đồng USD. Trong khi đó, đồng Việt Nam hiện vẫn đang được neo giữ với USD sẽ có xu hướng tăng giá thực so với các đồng tiền còn lại. Điều này có thể gây ra những tác động tiêu cực tới hoạt động xuất khẩu và làm trầm trọng hơn tình trạng thâm hụt cán cân thương mại trong năm tới.

Ngoài ra, Việt Nam có thể phải tăng lãi suất tiền gửi để giúp giữ giá trị đồng Việt và giữ tiền trong hệ thống ngân hàng, khi đồng USD tăng giá. Điều này có thể khiến mặt bằng lãi suất tăng, từ đó dẫn tới phản ứng dây chuyền trên thị trường bất động sản làm giá có thể giảm hoặc tăng chậm hơn dự kiến (hạ nhiệt, nguội đi), và điều này có thể gây ra những rủi ro cho các dự án BĐS vốn đã đang trong tình trạng nhạy cảm, dễ tổn thương, và do đó lan sang hệ thống ngân hàng. Mặc dù điều này chưa xảy ra rõ ràng, nhưng Chính phủ và NHNN cũng cần lưu ý.

Thứ ba, việc các nước xuất khẩu dầu đạt được đồng thuận về việc cắt giảm sản lượng khai thác kể từ tháng 1/2017 có thể đẩy giá dầu tăng trở lại. Mặc dù điều này là có lợi cho cán cân ngân sách, những việc giá dầu thô và các mặt hàng năng lượng tăng trở lại có thể tạo ra sức ép lên lạm phát trong nước, vốn đã bị đẩy lên trong thời gian gần đây do việc điều chỉnh giá các nhóm dịch vụ công.