Tóm tắt:
Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình, yêu cầu phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng trở nên cấp thiết. Đó là nền kinh tế có năng lực nội sinh mạnh, có khả năng tự quyết định đường lối phát triển, có sức chống chịu trước biến động bên ngoài và chủ động hội nhập quốc tế hiệu quả. Bài viết làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phân tích yêu cầu phát triển kinh tế độc lập, tự chủ ở Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và vị thế quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.
Từ khóa: Hồ Chí Minh, sức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại, kinh tế độc lập, tự chủ, kỷ nguyên vươn mình, hội nhập quốc tế.
1. Đặt vấn đề
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam. Tư tưởng ấy không chỉ soi đường cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, mà còn tiếp tục có giá trị định hướng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong tư tưởng của Người: sức mạnh dân tộc là nền tảng bên trong, là nhân tố quyết định. Đó là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập, tự do, tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, truyền thống văn hóa và trí tuệ Việt Nam. Sức mạnh thời đại là nguồn lực bên ngoài quan trọng, bao gồm sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, các xu thế phát triển của thời đại, thành tựu khoa học - công nghệ, kinh nghiệm quản trị, nguồn vốn, thị trường và các điều kiện quốc tế thuận lợi.
Qua 40 năm đổi mới, thế và lực của đất nước được nâng lên rõ rệt; quy mô nền kinh tế mở rộng; đời sống nhân dân được cải thiện; vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng cao. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam chịu tác động ngày càng nhiều và trực tiếp từ biến động kinh tế thế giới, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, chủ nghĩa bảo hộ, biến đổi khí hậu, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và cạnh tranh công nghệ. Trong điều kiện đó, phát triển kinh tế độc lập, tự chủ không chỉ là yêu cầu kinh tế, mà còn là yêu cầu chính trị, chiến lược, gắn với bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, ổn định xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa.
“Kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc đặt ra yêu cầu cao hơn đối với tư duy phát triển. Đó là kỷ nguyên không chỉ vượt qua nghèo nàn, lạc hậu, mà phải vươn lên phát triển nhanh, bền vững, có năng lực cạnh tranh cao, tự chủ về công nghệ, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao chất lượng sống của nhân dân và khẳng định vị thế Việt Nam trong cộng đồng quốc tế. Muốn vậy, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát triển kinh tế độc lập, tự chủ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Khái quát nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
2.1. Sức mạnh dân tộc là nền tảng bên trong, có ý nghĩa quyết định
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sức mạnh dân tộc trước hết là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; là ý chí độc lập, tự do; tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường; truyền thống văn hóa, bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh không dừng lại ở tình cảm tự nhiên, mà được nâng lên thành ý chí chính trị, thành hành động cách mạng, thành sức mạnh tổ chức của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Người nhấn mạnh: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi...” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 458).
Một nội dung nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh là niềm tin sâu sắc vào nhân dân. Người coi nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử, là nguồn gốc của mọi thắng lợi. Vì vậy, sức mạnh dân tộc không chỉ là sức mạnh tinh thần, mà còn trở thành sức mạnh vật chất khi được giác ngộ, tổ chức và huy động đúng đắn. Trong mọi hoàn cảnh, Người luôn nhấn mạnh phải dựa vào sức mình là chính, không trông chờ, ỷ lại vào bên ngoài. Nguồn lực quốc tế là quan trọng, nhưng chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua nội lực của dân tộc. Tinh thần đó được thể hiện rõ trong lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 596). Người coi nguồn lực nội sinh giữ vai trò quyết định, còn nguồn lực ngoại sinh chỉ phát huy tác dụng thông qua nguồn lực nội sinh.
Luận điểm này có ý nghĩa trực tiếp đối với phát triển kinh tế độc lập, tự chủ trong kỷ nguyên vươn mình. Ngày nay, sức mạnh dân tộc không chỉ biểu hiện ở lòng yêu nước hay tinh thần đoàn kết, mà phải được chuyển hóa thành năng lực phát triển cụ thể: năng lực thể chế, năng lực quản trị quốc gia, chất lượng nguồn nhân lực, trình độ khoa học - công nghệ, sức mạnh của doanh nghiệp Việt Nam, văn hóa kinh doanh, kỷ luật lao động, tinh thần khởi nghiệp và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Một nền kinh tế muốn độc lập, tự chủ không thể chỉ dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ hoặc lợi thế ngắn hạn, mà phải dựa vào con người, tri thức, công nghệ, thể chế và năng lực đổi mới sáng tạo.
2.2. Sức mạnh thời đại là nguồn lực quan trọng cần tranh thủ, hấp thụ và chuyển hóa
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà yêu nước lớn, mà còn là người có tầm nhìn thời đại sâu sắc. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Người nhận thấy cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới; cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì độc lập, tự do gắn liền với phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân, phong trào xã hội chủ nghĩa và cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa bình, dân chủ, công bằng. Khi phân tích bản chất áp bức của chủ nghĩa thực dân, Người viết: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 287).
Từ nhận thức đó, Người đặt cách mạng Việt Nam trong quan hệ mật thiết với phong trào cách mạng thế giới. Sức mạnh thời đại trong tư tưởng của Người bao gồm sức mạnh của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và nhân dân lao động, phong trào xã hội chủ nghĩa, phong trào vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Biết tranh thủ sự ủng hộ quốc tế là nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam; nhưng sự ủng hộ ấy chỉ phát huy hiệu quả khi dân tộc Việt Nam có đường lối đúng đắn, bản lĩnh độc lập và năng lực tự tổ chức sức mạnh của mình.
Trong bối cảnh hiện nay, nội hàm sức mạnh thời đại có nhiều biểu hiện mới. Đó là thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng tái tạo, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Đó còn là xu thế hợp tác, liên kết, hội nhập kinh tế quốc tế; các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; dòng vốn đầu tư, công nghệ, tri thức quản trị, tiêu chuẩn sản xuất hiện đại và sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong kỷ nguyên vươn mình, Việt Nam không thể phát triển nhanh và bền vững nếu không chủ động tranh thủ các nguồn lực đó. Tuy nhiên, tranh thủ sức mạnh thời đại không có nghĩa là tiếp nhận thụ động hoặc lệ thuộc vào bên ngoài. Điều quan trọng là phải biết lựa chọn, hấp thụ, làm chủ và chuyển hóa ngoại lực thành nội lực. Một dự án đầu tư nước ngoài chỉ có ý nghĩa chiến lược khi góp phần chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, mở rộng thị trường và tăng giá trị gia tăng nội địa.
Như vậy, sức mạnh thời đại là nguồn lực quan trọng nhưng không tự động biến thành sức mạnh quốc gia. Nó chỉ trở thành động lực phát triển khi được tiếp nhận trên nền tảng độc lập, tự chủ, có chọn lọc, có năng lực hấp thụ và phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc.
2.3. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là quan hệ biện chứng giữa tự lực, tự cường và hội nhập quốc tế
Điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Người xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và thời đại, giữa độc lập dân tộc và đoàn kết quốc tế, giữa tự lực, tự cường và tranh thủ sự giúp đỡ bên ngoài. Người không tuyệt đối hóa sức mạnh dân tộc theo hướng biệt lập, khép kín; cũng không xem sức mạnh thời đại là yếu tố có thể thay thế cho nỗ lực của dân tộc. Trong tư tưởng của Người, độc lập, tự chủ phải đi liền với hợp tác quốc tế; tự lực, tự cường phải đi liền với tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân loại tiến bộ. Người căn dặn: “Kháng chiến trường kỳ gian khổ đồng thời lại phải tự lực cánh sinh. Trông vào sức mình... Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr. 522).
Quan điểm của Đảng về phát triển đất nước trong giai đoạn mới tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người, giữ vai trò đặc biệt quan trọng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập 1, tr. 34). Đây là sự kế thừa và phát triển trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.
Về mặt kinh tế, quan hệ biện chứng đó thể hiện ở chỗ: độc lập, tự chủ không đồng nghĩa với đóng cửa; hội nhập quốc tế không đồng nghĩa với phụ thuộc. Một nền kinh tế độc lập, tự chủ là nền kinh tế có khả năng tự quyết định chiến lược phát triển, có sức chống chịu trước biến động, có năng lực bảo vệ lợi ích quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc tế. Đồng thời, nền kinh tế ấy vẫn phải chủ động tham gia phân công lao động quốc tế, tiếp thu thành tựu khoa học - công nghệ, mở rộng thị trường, thu hút nguồn lực và hợp tác bình đẳng với các quốc gia khác.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên vươn mình đòi hỏi phải tránh hai khuynh hướng sai lầm: một là nhân danh độc lập, tự chủ để khép kín, e ngại hội nhập; hai là tuyệt đối hóa hội nhập, chạy theo tăng trưởng ngắn hạn, thu hút đầu tư bằng mọi giá, xem nhẹ năng lực tự chủ về công nghệ, thị trường, tài chính, năng lượng, dữ liệu và an ninh kinh tế. Cả hai khuynh hướng đều không phù hợp với tinh thần Hồ Chí Minh.
Tóm lại, cốt yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là: lấy nội lực làm quyết định, ngoại lực làm quan trọng; lấy độc lập, tự chủ làm nền tảng cho hội nhập; lấy hội nhập hiệu quả làm phương thức bổ sung, nhân lên sức mạnh dân tộc trong kỷ nguyên vươn mình.
3. Phát triển kinh tế độc lập, tự chủ ở Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình
3.1. Kinh tế độc lập, tự chủ là nền tảng vật chất của độc lập dân tộc trong điều kiện mới
Trong thời đại Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc trước hết là độc lập chính trị, quyền tự quyết của quốc gia, chủ quyền lãnh thổ và quyền làm chủ của nhân dân. Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hóa và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc, độc lập dân tộc phải được bảo đảm bằng nền tảng kinh tế vững mạnh. Nếu nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào một thị trường, một nguồn vốn, một công nghệ, một chuỗi cung ứng hoặc một hệ thống tài chính bên ngoài, thì độc lập, tự chủ có thể bị ảnh hưởng ngay cả khi chủ quyền chính trị vẫn được khẳng định.
Quan điểm về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ được nêu rõ: “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ không chỉ xuất phát từ quan điểm, đường lối chính trị độc lập, tự chủ mà còn là đòi hỏi của thực tiễn, nhằm bảo đảm độc lập, tự chủ vững chắc về chính trị, bảo đảm phát triển bền vững và có hiệu quả cho nền kinh tế, cho việc mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021, tr. 249). Theo Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin, “Nền kinh tế độc lập, tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc, phụ thuộc vào nước khác, người khác, hoặc vào một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối, chính sách phát triển, không bị bất cứ ai dùng những điều kiện kinh tế, tài chính, thương mại, viện trợ… để áp đặt, khống chế, làm tổn hại chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021, tr. 250). Quan niệm trên cho thấy, kinh tế độc lập, tự chủ không phải là nền kinh tế biệt lập, tách khỏi thế giới, mà là nền kinh tế có khả năng tự quyết định chiến lược phát triển, có năng lực chống chịu trước biến động bên ngoài, không để các quan hệ kinh tế quốc tế bị lợi dụng nhằm gây sức ép, áp đặt hoặc làm tổn hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc. Đây chính là nền tảng vật chất để bảo đảm độc lập dân tộc trong điều kiện mới.
Trong kỷ nguyên vươn mình, nội dung của kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng mở rộng. Đó không chỉ là tự chủ về lương thực, tài chính, tiền tệ, thương mại, sản xuất công nghiệp, mà còn là tự chủ về công nghệ, dữ liệu, hạ tầng số, năng lượng, logistics, nhân lực chất lượng cao, công nghiệp nền tảng, công nghiệp hỗ trợ, y tế chiến lược, công nghiệp quốc phòng và năng lực đổi mới sáng tạo. Những lĩnh vực này có ý nghĩa sống còn đối với năng lực cạnh tranh và an ninh phát triển của quốc gia.
3.2. Những thành tựu tạo tiền đề cho kỷ nguyên vươn mình
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế năng động, hội nhập sâu rộng, có quan hệ thương mại với hầu hết các khu vực kinh tế lớn trên thế giới. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kết cấu hạ tầng được cải thiện; khu vực kinh tế tư nhân phát triển; khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp quan trọng vào xuất khẩu, việc làm và chuyển dịch cơ cấu sản xuất. Việt Nam tiếp tục duy trì khả năng phục hồi và tăng trưởng tích cực. Năm 2025, quy mô GDP theo giá hiện hành ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD. GDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương đương 5.026 USD. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước (Cục Thống kê, 2026). Điều này phản ánh quy mô, độ mở và sức bật mới của nền kinh tế, tạo tiền đề quan trọng để Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình với tâm thế chủ động hơn, tự tin hơn.
Những thành tựu đó cho thấy đường lối đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và hội nhập quốc tế là đúng đắn. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập 1, tr. 25). Đồng thời, cũng nêu yêu cầu: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nền văn hóa, con người Việt Nam; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập 1, tr. 34).
Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội cho thấy, đường lối đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và hội nhập quốc tế là đúng đắn. Đồng thời, chúng cũng chứng minh giá trị của việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại: phát huy nội lực dân tộc, nguồn lực trong nước, khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo, đồng thời tranh thủ ngoại lực (vốn, công nghệ, thị trường, tri thức quản trị) và các điều kiện thuận lợi của thời đại. Đây là minh chứng sinh động cho giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong thực tiễn phát triển đất nước.
3.3. Những thách thức đối với kinh tế độc lập, tự chủ
Bên cạnh thành tựu, phát triển kinh tế độc lập, tự chủ ở Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức.
Một là, độ mở lớn khiến nền kinh tế dễ chịu tác động bởi biến động bên ngoài.
Khi thị trường thế giới suy giảm, chuỗi cung ứng đứt gãy, chi phí logistics tăng, xung đột địa chính trị gia tăng hoặc các nước lớn thay đổi chính sách thương mại, sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng mạnh. Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế có quan hệ biện chứng; giữ vững độc lập, tự chủ là nền tảng, song độc lập, tự chủ không có nghĩa là biệt lập, đóng cửa. Ngược lại, giữ vững độc lập, tự chủ cần gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; nếu thiếu bản lĩnh độc lập, tự chủ, hội nhập có thể làm gia tăng nguy cơ phụ thuộc, trong khi hội nhập hiệu quả sẽ tạo thêm điều kiện để củng cố năng lực tự chủ và nâng cao vị thế quốc gia.
Hai là, năng lực tự chủ công nghệ còn hạn chế.
Một số ngành sản xuất vẫn phụ thuộc nhiều vào máy móc, linh kiện, nguyên vật liệu, phần mềm, nền tảng số và công nghệ lõi từ bên ngoài. Nếu không từng bước làm chủ công nghệ, Việt Nam có nguy cơ mắc kẹt ở các khâu giá trị gia tăng thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Ba là, khu vực doanh nghiệp trong nước còn yếu so với yêu cầu phát triển mới.
Nhiều doanh nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, công nghệ chậm đổi mới, quản trị chưa hiện đại, khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu còn thấp. Sự liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI chưa thật sự chặt chẽ.
Bốn là, chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của kỷ nguyên số, kỷ nguyên xanh và kinh tế tri thức.
Khi cạnh tranh quốc tế chuyển mạnh từ lao động giá rẻ sang tri thức, công nghệ, kỹ năng và sáng tạo, đây là điểm nghẽn cần được tháo gỡ. Yêu cầu đặt ra là chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế bằng đổi mới hoàn thiện thể chế kinh tế, hành chính, đặc biệt là tăng cường áp dụng khoa học công nghệ hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Năm là, các vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng tác động trực tiếp đến kinh tế.
An ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, dịch bệnh và rủi ro tài chính đều có thể ảnh hưởng đến ổn định và tự chủ kinh tế. Vì vậy, xây dựng kinh tế độc lập, tự chủ trong kỷ nguyên vươn mình phải gắn với tăng cường năng lực chống chịu, bảo đảm an ninh kinh tế và phát triển bền vững.
Những thách thức trên đây đặt ra yêu cầu phải vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát huy cao nhất nội lực dân tộc, đồng thời chủ động tiếp thu, làm chủ và chuyển hóa sức mạnh thời đại thành năng lực phát triển của chính mình.
4. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để phát triển kinh tế độc lập, tự chủ ở Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình
4.1. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong phát triển kinh tế
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết đòi hỏi phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong phát triển kinh tế, điều đó có nghĩa là tăng trưởng phải phục vụ lợi ích của nhân dân, bảo vệ chủ quyền quốc gia, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kỷ nguyên vươn mình không chỉ là kỷ nguyên tăng trưởng về quy mô kinh tế, mà còn là kỷ nguyên nâng cao chất lượng phát triển, chất lượng sống và vị thế con người Việt Nam. Nếu phát triển kinh tế chỉ chạy theo tốc độ tăng trưởng mà xem nhẹ công bằng xã hội, môi trường, văn hóa, an ninh quốc gia và chủ quyền kinh tế thì sẽ không phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh. Đối với Người, mục tiêu cao nhất của độc lập là đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Do đó, mọi chiến lược phát triển kinh tế cần đặt lợi ích quốc gia - dân tộc và lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Trong thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng, mở rộng thương mại, hợp tác tài chính, chuyển đổi số, phát triển năng lượng, khai thác tài nguyên, Việt Nam cần có tầm nhìn dài hạn, không đánh đổi độc lập, tự chủ, môi trường và an sinh xã hội lấy lợi ích ngắn hạn.
4.2. Phát huy nội lực dân tộc là yếu tố quyết định
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, muốn tranh thủ được sức mạnh thời đại, trước hết phải có sức mạnh của chính mình. Trong kỷ nguyên vươn mình, nội lực của Việt Nam cần được phát huy trên nhiều phương diện.
(i) Hoàn thiện thể chế phát triển.
Thể chế là nguồn lực quan trọng hàng đầu, quyết định khả năng huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội. Một thể chế minh bạch, ổn định, hiệu quả sẽ giải phóng sức sản xuất, khơi dậy tinh thần sáng tạo, tạo niềm tin cho người dân và doanh nghiệp. Ngược lại, thể chế chậm đổi mới, thủ tục hành chính phức tạp, kỷ luật thực thi yếu, tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm sẽ làm suy giảm nội lực quốc gia.
(ii) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trong kỷ nguyên số và kinh tế tri thức, lợi thế lao động giá rẻ không còn bền vững. Việt Nam cần chuyển sang cạnh tranh bằng năng suất, kỹ năng, công nghệ, sáng tạo và chất lượng. Đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, an ninh mạng, tự động hóa, công nghệ sinh học, năng lượng mới, logistics, quản trị hiện đại cần được coi là nhiệm vụ chiến lược.
(iii) Xây dựng doanh nghiệp Việt Nam vững mạnh.
Doanh nghiệp trong nước là lực lượng trực tiếp tạo ra của cải, việc làm, thương hiệu và năng lực cạnh tranh quốc gia. Một nền kinh tế độc lập, tự chủ không thể thiếu các doanh nghiệp dân tộc mạnh, có khả năng làm chủ thị trường trong nước, tham gia chuỗi giá trị quốc tế và từng bước hình thành thương hiệu toàn cầu. Cần hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ, tiếp cận vốn, phát triển thương hiệu và chuyển đổi số.
(iv) Thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Đây là động lực trung tâm của kỷ nguyên vươn mình. Một nền kinh tế muốn tự chủ trong thế kỷ XXI phải từng bước làm chủ công nghệ, dữ liệu và tri thức. Việt Nam cần tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, kết nối viện nghiên cứu - trường đại học - doanh nghiệp, hình thành thị trường khoa học - công nghệ và khuyến khích mạnh mẽ tinh thần sáng tạo trong xã hội.
4.3. Chủ động tranh thủ sức mạnh thời đại trên cơ sở độc lập, tự chủ
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là thu hẹp hội nhập, mà là hội nhập sâu rộng hơn, chủ động hơn và hiệu quả hơn. Trong kỷ nguyên vươn mình, Việt Nam cần tranh thủ mạnh mẽ các nguồn lực của thời đại, nhưng phải trên cơ sở độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia - dân tộc.
(i) Cần nâng cao chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài.
FDI vẫn là nguồn lực quan trọng, nhưng phải chuyển từ ưu tiên số lượng sang chất lượng. Cần lựa chọn các dự án có công nghệ cao, quản trị hiện đại, thân thiện môi trường, liên kết với doanh nghiệp trong nước, có cam kết đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ. Những dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao tài nguyên, gây ô nhiễm hoặc ít liên kết với nền kinh tế trong nước cần được sàng lọc chặt chẽ.
(ii) Tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Các FTA không chỉ mở rộng thị trường xuất khẩu, mà còn tạo sức ép cải cách thể chế, nâng cao tiêu chuẩn lao động, môi trường, quản trị và chất lượng sản phẩm. Muốn tận dụng tốt, doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao năng lực đáp ứng quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
(iii) Chủ động tham gia cuộc cách mạng khoa học - công nghệ toàn cầu.
Sức mạnh thời đại hiện nay tập trung rõ ở công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, tự động hóa, công nghệ xanh và kinh tế tri thức. Việt Nam cần từng bước phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế, ứng dụng, cải tiến và làm chủ công nghệ trong các lĩnh vực chiến lược.
(iv) Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế.
Phụ thuộc quá mức vào một thị trường, một nguồn cung, một đồng tiền, một tuyến vận tải hoặc một nền tảng công nghệ đều có thể tạo ra rủi ro chiến lược. Đa dạng hóa quan hệ kinh tế giúp Việt Nam tăng khả năng chống chịu, mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế đàm phán.
4.4. Kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc là một chỉnh thể toàn diện. Độc lập chính trị phải gắn với độc lập kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh. Vì vậy, phát triển kinh tế độc lập, tự chủ trong kỷ nguyên vươn mình phải gắn chặt với bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Cần coi an ninh kinh tế là một bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. An ninh kinh tế không chỉ là ổn định kinh tế vĩ mô, mà còn bao gồm an ninh tài chính, tiền tệ, năng lượng, lương thực, nguồn nước, dữ liệu, chuỗi cung ứng, hạ tầng số, hạ tầng giao thông, cảng biển, logistics và các ngành công nghiệp nền tảng.
Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, chủ quyền số và an ninh dữ liệu trở thành vấn đề chiến lược. Dữ liệu là tài nguyên mới, đồng thời là yếu tố liên quan trực tiếp đến chủ quyền, an ninh và năng lực cạnh tranh quốc gia. Nếu hạ tầng số, nền tảng số, dữ liệu quốc gia và dữ liệu công dân bị phụ thuộc hoặc bị khai thác trái phép, nguy cơ mất an ninh kinh tế và an ninh quốc gia là rất lớn. Vì vậy, phát triển hạ tầng số, nền tảng số, công nghiệp an ninh mạng và năng lực quản trị dữ liệu phải là bộ phận quan trọng của kinh tế độc lập, tự chủ.
5. Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một di sản lý luận có giá trị bền vững, đồng thời là phương pháp hành động có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong tư tưởng của Người, sức mạnh dân tộc là nền tảng bên trong, có ý nghĩa quyết định; sức mạnh thời đại là nguồn lực bên ngoài quan trọng; sự kết hợp đúng đắn giữa hai nguồn sức mạnh đó tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam.
Trong kỷ nguyên vươn mình, vận dụng tư tưởng ấy vào phát triển kinh tế độc lập, tự chủ đòi hỏi phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; phát huy nội lực là yếu tố quyết định; chủ động tranh thủ ngoại lực là yếu tố quan trọng; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại, văn hóa, xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Kinh tế độc lập, tự chủ không phải là khép kín, biệt lập, mà là hội nhập quốc tế trên nền tảng năng lực nội sinh vững mạnh, thể chế hiện đại, khoa học - công nghệ tiên tiến, doanh nghiệp dân tộc đủ sức cạnh tranh và bản lĩnh chính trị vững vàng.
Bối cảnh mới đặt ra nhiều khó khăn, thách thức, nhưng cũng mở ra những cơ hội lớn để Việt Nam phát triển nhanh và bền vững. Nếu biết khơi dậy sức mạnh yêu nước, đại đoàn kết, tự lực, tự cường của dân tộc; đồng thời chủ động tiếp thu, làm chủ và chuyển hóa thành tựu khoa học - công nghệ, tri thức quản trị, nguồn lực và xu thế tiến bộ của thời đại, Việt Nam có thể nâng cao năng lực tự chủ, sức chống chịu, chất lượng tăng trưởng và vị thế quốc gia. Đó chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, góp phần đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2021). Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin: Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Cục Thống kê. (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025. Bộ Tài chính. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII: Tập 1. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh. (2011a). Hồ Chí Minh toàn tập: Tập 1. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh. (2011b). Hồ Chí Minh toàn tập: Tập 3. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh. (2011c). Hồ Chí Minh toàn tập: Tập 6. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Applying Ho Chi Minh’s thought on combining national strength with the power of the times to develop an independent and self-reliant economy in Vietnam in the era of national rise
Duong Van Toan1
Duong Minh Ngoc1
1Hanoi University of Civil EngineeringAbstract:
The combination of national strength with the power of the times is a distinctive element in Ho Chi Minh’s thought, reflecting his strategic vision, dialectical thinking, and creative revolutionary methodology. In the context of Vietnam entering a new era of national rise, the requirement to develop an independent and self-reliant economy has become increasingly urgent. Such an economy is not closed or isolated but possesses strong internal capacity, the ability to determine its own development path, resilience to external shocks, and proactive international integration. This study clarifies Ho Chi Minh’s thought on combining national and global strengths, analyzes the requirements for building an independent and self-reliant economy in Vietnam, and proposes solutions to leverage internal resources, effectively utilize external resources, and enhance national competitiveness and position in the new development stage.Keywords: Ho Chi Minh, national strength, power of the times, independent self-reliant economy, era of national rise, international integration
