Vì sao có đến quyết định này?
Ngày 15/12/2015, Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công Thương nhận được Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ đối với sản phẩm phôi thép và thép dài nhập khẩu vào Việt Nam của 4 nhà sản xuất thép trong nước, gồm: Công ty CP Thép Hòa Phát, Công ty TNHH MTV Thép miền Nam, Công ty CP Gang Thép Thái Nguyên và Công ty CP Thép Việt Ý. Trên thị trường, đối với sản phẩm phôi thép, các công ty này chiếm 38,6% tổng sản lượng sản xuất trong nước. Đối với sản phẩm thép dài, các công ty này chiếm 34,2% tổng sản lượng sản xuất trong nước. Trước tình hình này, ngày 18/12/2015, Cục Quản lý cạnh tranh đã ban hành công văn số 1120/QLCT-P2 xác nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ. Ngày 25/12/2015, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ký Quyết định số 14296/QĐ-BCT về việc điều tra áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hóa bị điều tra.
Để phân tích tác động về giá của hàng hóa nhập khẩu, cơ quan điều tra đã tiến hành tính toán giá bán của hàng hóa nhập khẩu tại thị trường Việt Nam và so sánh với giá bán của hàng hóa trong nước dựa trên số liệu do Tổng cục Hải quan cung cấp và dựa trên phương pháp tính toán này, cơ quan điều tra đã tiến hành phân tích các tác động về giá của sản phẩm phôi thép và thép dài. Kết quả cụ thể như sau:
Đối với phôi thép: Về tác động ép giá, trong 3 năm, từ năm 2012-2014, giá bán hàng hóa trong nước có xu hướng giảm, với tốc độ giảm chậm dần. Giá bán trong năm 2014 của hàng hóa trong nước có xu hướng giữ ở mức tương đối ổn định và chỉ giảm nhẹ, trong khi đó giá bán của hàng hóa nhập khẩu có xu hướng giảm tương đối nhanh. Chính vì vậy, nếu như năm 2012 và 2013, giá bán hàng hóa nhập khẩu vẫn còn cao hơn giá bán trong nước, thì đến năm 2014, giá bán của hàng hóa nhập khẩu đã bắt đầu thấp hơn giá bán trong nước.
Tuy nhiên, đến năm 2015, giá bán hàng nhập khẩu bất ngờ giảm nhanh và mạnh hơn mức giảm là gần 30% (tốc độ giảm nhanh nhất trong giai đoạn 2012- 2015), và điều này đã gây sức ép lớn tới giá bán của hàng hóa trong nước. Mặc dù trong năm 2015, giá bán trong nước đã giảm đi đáng kể trước sức ép của hàng hóa nhập khẩu, tuy nhiên vẫn cao hơn so với giá bán của hàng hóa nhập khẩu. Điều này đã cho tháy tác động ép giá của hàng hóa nhập khẩu đối với giá bán hàng hóa trong nước.
Về tác động kìm giá, trong 3 năm từ 2012 - 2014, giá bán trong nước biến động theo xu hướng chung đó là chi phí sản xuất cho xu hướng giảm nhanh hơn so với giá bán trong nước. Tuy nhiên, xu hướng này đã thay đổi đột ngột vào năm 2015, trong khi chi phí sản xuất trong nước chỉ giảm nhẹ so với năm 2014, giá bán trong nước đã phải giảm rất sâu. Với mức giảm đó, có thể thấy giá bán trong nước so với chi phí sản xuất có mức chênh lệch rất ít trong năm 2015, và các doanh nghiệp sản xuất trong nước hầu như không có lãi. Điều này làm ảnh hưởng đến ngành sản xuất trong nước trong năm 2015. Theo như phân tích trên, cơ quan điều tra xác định có hiện tượng kìm giá đối với hàng hóa sản xuất trong nước.
Tương tự như vậy đối với thép dài, trong 3 năm từ 2012 - 2014, giá bán hàng hóa trong nước có xu hướng giảm nhẹ. Vì vậy, mặc dù năm 2012, giá bán của hàng hóa nhập khẩu vẫn còn cao hơn giá bán trong nước. Đến năm 2013 và năm 2014, giá bán của hàng hóa nhập khẩu đã bắt đầu thấp hơn giá bán trong nước. Đến năm 2015, giá bán hàng hóa nhập khẩu bất ngờ giảm nhanh hơn với mức giảm là hơn 20% và cũng là năm có tốc độ giảm nhanh nhất trong giai đoạn 2012 - 2015. Trước sức ép mạnh của hàng nhập khẩu trong năm 2015, giá bán hàng hóa trong nước cũng đã giảm sâu để có thể cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, giá bán hàng hóa sản xuất trong nước vẫn còn cao hơn so với giá bán hàng hóa nhập khẩu. Điều này đã cho thấy tác động ép giá của hàng hóa nhập khẩu đối với giá bán hàng hóa trong nước.
Đối với tác động kìm giá, cũng trong quãng thời gian này, giá bán trong nước biến động theo xu hướng chung là chi phí sản xuất có xu hướng giảm nhanh hơn so với giá bán trong nước. Trái ngược với xu hướng này, năm 2015 trong khi chi phí sản xuất trong nước chỉ giảm nhẹ so với năm 2014, giá bán trong nước đã giảm mạnh tới gần ¼. Với mức giảm giá bán nhanh hơn chi phí sản xuất đã cho thấy những khó khăn và áp lực cạnh tranh của ngành sản xuất thép trong nước để cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu.
Tự vệ là chính đáng
Theo quy định tại Điều 4.2 Hiệp định về các biện pháp tự vệ, khi xem xét thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng của ngành sản xuất trong nước, cơ quan điều tra đánh giá tất cả các yếu tố như: thị phần, sự thay đổi về bán hàng, sản xuất, năng suất, năng suất sử dụng, lợi nhuận, lỗ và việc làm. Sau khi xem xét và phân tích các yếu tố trên, cơ quan điều tra kết luận sơ bộ như sau:
- Giá hàng hóa nhập khẩu đã gây ra tác động ép giá và kìm giá đối với hàng hóa tương tự được sản xuất trong nước.
- Sản lượng sản xuất của phôi thép có sự gia tăng nhẹ trong năm 2015, nhưng tốc độ tăng trưởng giảm rõ rệt so với các năm trước.
- Công suất sử dụng của ngành phôi thép tăng trong giai đoạn 2012 - 2014, nhưng đã giảm mạnh trong năm 2015.
- Lượng bán hàng phôi thép các sự gia tăng trong năm 2015, tuy nhiên, tốc độ này vẫn thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng của tổng cầu trong nước.
- Tương tự như phôi thép, đối với mặt hàng thép dài, mặc dù ngành sản xuất trong nước có sự gia tăng về lượng bán hàng, tuy nhiên, tốc độ này vẫn thấp hơn so với mức tăng của lượng tiêu thụ trên thị trường.
- Thị phần của mặt hàng phôi thép và thép dài đã liên tục giảm trong giai đoạn 2013 - 2015 và giảm xuống thấp nhất vào năm 2015. Trong khi đó, thị phần của hàng nhập khẩu lại tăng liên tục trong giai đoạn 2012 - 2015. ..
Như vậy, xét một cách tổng thể, hoạt động kinh doanh của ngành sản xuất trong nước không có nhiều biến động và tương đối ổn định trong giai đoạn 2011 - 2014. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 2015, các chỉ số đánh giá thiệt hại của ngành sản xuất trong nước đều đã sụt giảm khá rõ ràng, điều này cho thấy ngành sản xuất trong nước đã phải đối mặt với thiệt hại nghiêm trọng.
Giải pháp cần thiết trong thương mại quốc tế
Đây thực chất là một giải pháp cần thiết trong thương mại quốc tế. Ông Phạm Chí Cường, chuyên gia trong lĩnh vực thép, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam rất đồng cảm với quyết định này của Bộ Công Thương. Trong giai đoạn hiện nay, dùng biện pháp tự vệ thương mại là đúng với lý do là khi mình cảm thấy thị trường của mình bị đe dọa là mình có quyền. Tuy nhiên, đây mới chỉ là biện pháp điều tra trong 200 ngày, muốn chứng minh được thực sự các thị trường có gây hại tới thị trường trong nước thì phải có bằng cớ. Đây là một thách thức rất lớn đối với cơ quan điều tra cũng như cho thấy sự phức tạp khôn lường của thị trường. Tuy nhiên, kể cả khi việc điều tra chỉ là "kế hoãn binh" đi chăng nữa thì đây cũng là giải pháp cần thiết trong thương mại quốc tế mà bất cứ nước nào khi vào WTO đều mang ra áp dụng. Biện pháp tự vệ tạm thời được áp dụng đến hết ngày 07/10/2016 và sẽ chấm dứt hiệu lực trong trường hợp Bộ Công Thương ra Quyết định áp dụng biện pháp tự vệ chính thức.
Ngành sản xuất thép Việt Nam là một trong những ngành có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực phòng vệ thương mại quốc tế. Quyết định tự vệ lần này của Bộ Công Thương khiến người ta nhớ lại lần Việt Nam bị Mỹ kiện vì bán phá giá ống thép vào thị trường Mỹ trước đây. Thực tế Việt Nam xuất khẩu ống thép vào Mỹ rất ít, nhưng từ khi con số này chiếm 2,5% tổng lượng ống thép nhập khẩu, Mỹ đã bắt đầu cảnh báo và khi Việt Nam đạt mức 3% thì Mỹ bắt đầu đánh thuế và tiến hành điều tra. Bằng chứng họ đưa ra là mỗi năm lượng ống thép Việt Nam vào Mỹ lại vọt lên mấy trăm phần trăm. Nghe phần trăm thì to vậy chứ tính ra con số thì có đáng là bao so với thị trường mênh mông của Mỹ. Nhưng theo luật, cứ thấy vọt lên thì có quyền tiến hành điều tra và áp thuế bảo vệ. Vụ điều tra này cuối cùng đã không đủ bằng chứng phá giá, mọi chuyện lại bình thường. Có mặt trong đoàn làm việc, ông Phạm Chí Cường khi đó còn là Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam đã phân tích cho phía Mỹ thấy hai ưu điểm mà các nhà sản xuất ống thép của Mỹ không có, Việt Nam lại có, đó là mua nguồn nguyên liệu cuộn cán nguội giá thấp, chính thống và nhân công giá rẻ hơn. Những người bạn Mỹ im lặng không nói gì.
Có thể nói, dù thép không phải là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, nhưng lại là một trong những ngành hàng bị điều tra phòng vệ thương mại nhiều nhất. Lý giải cho điều này, ông Lê Sỹ Giảng - Trưởng nhóm Tư vấn phòng vệ thương mại, Công ty Luật SmiC cho biết, do thép là ngành công nghiệp cơ bản, có sản phẩm đa dạng, việc đầu tư lớn dẫn đến nhu cầu quay vòng vốn nhanh, việc thị trường đi xuống khiến các doanh nghiệp thép sẵn sàng bán dưới giá để thu hồi vốn. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến những vụ việc phải điều tra phòng vệ thương mại quốc tế. Và đã vào cuộc chơi này, ai cũng được đối xử công bằng!
