Chưa chú trọng đầu tư công nghệ và ngành nghề cho nhiều giá trị gia tăng:
Một trong những biểu hiện hiệu quả thấp của kinh tế nước ta là chỉ số ICOR. Không có nước nào chỉ số đó vượt trên 4, trong khi ở nước ta thường xuyên từ 5 đến 6, thậm chí có nơi, có lúc từ 7 đến 8! (Để có được tăng trưởng 1% GDP, đã phải huy động vốn đầu tư đến 8% GDP).
Ngay trong dự kiến mức phấn đấu năm 2013: Vốn đầu tư khoảng 29-30% GDP, mức tăng trưởng GDP khoảng 5,5%, dù đạt được thì chỉ số ICOR vẫn còn khá cao: 5,5. Điều này thể hiện, đầu tư còn quá lãng phí ở nhiều lĩnh vực.
Sự lãng phí “khách quan” nằm ở chỗ các giải pháp công nghệ được lựa chọn. Nếu làm một phép tính phân tích tăng trưởng kinh tế nước ta trong hơn 20 năm qua theo Hàm Coob-Dowglass: Y= Vα Lβ Kλt, ta sẽ thấy α + β # 1,0. Có nghĩa là yếu tố công nghệ không đóng vai trò gì đáng kể đối với sự tăng trưởng (λ # 0,0).
Nói cách khác, công nghệ của ta tiêu tốn nhiều sức lao động, năng lượng và cả nguyên vật liệu đầu vào… Tình trạng này gọi là mới có quảng canh, chưa có thâm canh. Tức là mới chỉ dựa vào các yếu tố vốn và lao động, chưa coi trọng nhiều đến yếu tố kỹ thuật công nghệ cao. Trừ các doanh nghiệp FDI, còn các doanh nghiệp trong nước và quốc doanh chưa đi vào công nghệ mũi nhọn. Ngay trong các doanh nghiệp FDI, phần thực hiện tại Việt Nam không đóng vai trò quyết định giá trị sản phẩm, mà chỉ chủ yếu là lắp ráp. Trong các mặt hàng điện tử như điện thoại di động, yếu tố cốt lõi là con chíp và bo mạch thì ta không sản xuất được ở trong nước.
Vì chưa dựa vào công nghệ cao nên sản phẩm ít có giá trị thặng dư, không mang tính độc đáo, tiên phong, khả năng cạnh tranh thấp. Chưa có nhiều sáng chế, phát minh, giải pháp quản lý khoa học, hoặc mua lại sáng chế, chuyển giao công nghệ tiên tiến để từ đó đi thẳng vào công nghệ cao, tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Chất lượng lao động nước ta chưa theo kịp yêu cầu:
+ Năng suất lao động thấp: Ngoài nguyên nhân công nghệ và quản lý thì chất lượng lao động lành nghề kém trong một số ngành ở nước ta cũng là nguyên nhân trực tiếp của tình trạng năng suất lao động thấp.
+ Lười: Trước đây, chúng ta thường tự hào nhân dân ta ta cần cù lao động. Nhưng nay đức tính đó đang mất dần. Số lao động yêu nghề, có chí tiến thủ, thích tìm tòi sáng tạo, tự giác hoàn thành nhiệm vụ vì lợi ích của đất nước… không nhiều. Trong khi đó, lại có không ít thanh niên chỉ thích hưởng thụ, thậm chí đua đòi, hưởng thụ trên mức thu nhập.
Nước Nhật khi đi vào giai đoạn phát triển thần kỳ, có một khẩu hiệu ngầm: “Trước mắt người Nhật, toàn thế giới đều là những người lười”. Còn với người Hàn Quốc trong thời kỳ NIEs: “Trước mắt người Hàn Quốc, toàn thế giới đều là những người lười, kể cả người Nhật”.
Mấy chục năm qua, chúng ta đã không làm được như họ.
+ Chất lượng đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn: Cả nội dung học, cách học đều khô cứng, học sinh không rèn luyện kiến thức và kỹ năng thực tế, nên bỡ ngỡ khi ra trường. Trừ một số ngành kỹ thuật công nghệ, xây dựng, tài chính, ngân hàng… mấy năm qua đã có nhiều cải tiến, còn lại đa số các ngành khác, khi ra trường học sinh phải mất rất nhiều thời gian để học lại trong thực tế mới có đủ trình độ làm việc.
Đào tạo người có năng lực thực sự (năng lực hành động) và có tư cách cá nhân cao đang là nhiệm vụ nặng nề của ngành Giáo dục – Đào tạo và của cả xã hội.
Hệ thống quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển:
+ Vai trò của doanh nghiệp chưa được coi trọng: Nền kinh tế của một quốc gia là một hệ thống thống nhất, Trung ương và địa phương phải là một hệ thống, chứ không thể thành nhiều hệ thống. Nhưng hiện nay ở nước ta, một số nơi có sức thu hút FDI hay ODA thì cứ thu hút, còn những nơi khác khó khăn hơn thì mãi cũng chẳng có đầu tư gì đáng kể. Trong chừng mực nào đó có thể nói: Hệ thống quản lý vĩ mô vẫn mang tư duy cũ, mới chỉ quan tâm đến các chỉ số kinh tế vĩ mô, chưa hiểu hết và chưa quan tâm đầy đủ tới các chỉ số kinh tế vi mô.
Sự phân cấp phân quyền quá dàn trải; bộ máy quản lý lớn và cồng kềnh, mỗi nơi làm một tý, nảy sinh cơ chế xin - cho, đi cửa sau… rất phức tạp cho doanh nghiệp, nhiều khi làm ngưng trệ hoạt động kinh doanh, làm mất cơ hội của doanh nghiệp. Đặc biệt là những rủi ro do chính sách hoặc thể chế gây ra, khiến doanh nghiệp không thể lường trước.
+ Chưa hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng và thụ hưởng kết quả tăng trưởng: GDP là thu nhập quốc nội, nhưng GDP của nước ta có đến gần 1/3 là do FDI mang lại, mà FDI thì ta chỉ được giữ lại một phần trong đó thôi, phần khác lớn hơn phải chuyển ra nước ngoài - nước quốc tịch hoặc đại bản doanh của nhà đầu tư.
Trong khi đó, GNP là thu nhập quốc dân, được tính bằng:
GNP = GDP – phần chuyển ra nước ngoài + phần chuyển từ nước ngoài về.
Ngày nào kinh tế nước ta phát triển cao hơn, cơ cấu GDP thay đổi theo hướng tỷ trọng đầu tư trong nước cao hơn (không phải là 2/3 như hiện nay mà là 3/4 hay 4/5, gồm cả nhà nước và tư nhân mà tư nhân sẽ tất yếu phải ngày càng lớn hơn), thì lúc đó GDP sẽ tiến đến gần với GNP. Mặt khác, nếu Việt Nam có nhiều đầu tư ra nước ngoài, ta cũng sẽ được hưởng một phần thu nhập từ nước ngoài chuyển về để bù đắp phần đã bị chuyển đi.
Vì thế, lúc này cần phải xem xét chỉ tiêu GNP bên cạnh GDP.
+Trong một số lĩnh vực, chưa có các chỉ tiêu đánh giá kinh tế vi mô: Chẳng hạn như trong các ngành hàng dệt may, da giày, chế biến gỗ, hàng điện tử, sản xuất điện năng…, cần tính toán lợi thế so sánh của các mặt hàng đó trong nền kinh tế, cũng như lợi thế so sánh với mặt hàng tương tự của nước khác để có chiến lược phát triển trong nước (ví dụ, nên làm thủy điện đến đâu…) và chiến lược xuất nhập khẩu. Tính toán giá trị ngoại tệ ròng của kim ngạch xuất khẩu (sau khi trừ đi phần nhập khẩu) trong từng mặt hàng và từng ngành hàng để có chiến lược tăng giảm quy mô sản xuất và quy mô thị trường… Quản lý chặt chẽ và phát triển mạnh thị trường chứng khoán, đừng để được chăng hay chớ, bỏ mặc một số phần tử thao túng…
+ Chưa đi vào kinh tế tri thức: Chưa có chính sách nhất quán từ trên xuống dưới về trọng dụng nhân tài. Nhiều lĩnh vực như là cửa cấm, chỉ dành cho con cha, cháu ông hoặc người có nhiều tiền đút lót. Người có tài cũng không được tuyển dụng, hoặc đã tuyển dụng bằng các con đường nào đó rồi thì cũng không giao trọng trách. Nhiều nơi, tuy có việc thi cử tuyển dụng nhưng kết quả thi cử không phản ánh đúng thực chất người có tài. Vì thế mà cán bộ tham mưu kém chất lượng, dẫn đến tình trạng nhiều chính sách, quy chế này nọ ban hành ra sớm bị lỗi, không đến nơi đến chốn hoặc lạc hậu so với thực tiễn.
+ Ít hỏi ý kiến dân: Đành rằng tri thức giỏi, chuyên gia giỏi trong các cơ quan nhà nước không ít, nhưng với chế độ làm việc hành chính, xử lý thông tin vào, ra hằng ngày theo mệnh lệnh, liệu họ có điều kiện phát huy được tài năng ở đó không?
Phải có các chuyên gia ở nơi khác, độc lập với cơ quan nhà nước, mới có thể có cách suy nghĩ, cách nhìn khác, tiếp cận những nguồn thông tin khác, mới có thể có những đề xuất khác.
Các Viện nghiên cứu, các Trung tâm, các Hội, các trường đại học phải là những lực lượng quan trọng tham gia chủ lực vào việc hoạch định các chính sách của quốc gia. Ngoài ra, cá nhân các chuyên gia độc lập, như những cán bộ nghiên cứu đã nghỉ hưu, các nhà khoa học, nhà văn, nghệ nhân, nghệ sĩ có tên tuổi và tâm huyết cũng là những nguồn lực với tư cách là ý kiến của nhân dân, khi ta biết cách lấy ý kiến của họ.
+ Nạn tham nhũng trong hệ thống quản lý: Tính minh bạch kém (như trong một số trường hợp đấu thầu dự án…) và cơ chế xin - cho là môi trường cho nạn tham nhũng. Năng lực thực sự và trách nhiệm cá nhân của rất nhiều bộ phận trong hệ thống quản lý không đáp ứng kịp khi mở rộng diện hoạt động trong cơ chế thị trường cũng là nguyên nhân sinh ra tham nhũng.
Vì sao kinh tế Việt Nam phát triển không nhanh và “lủng củng”?
Nền kinh tế nước ta hơn 20 năm qua đã có bước phát triển khá: Thu nhập GDP đầu người từ dưới 200 USD (1990) lên trên 1.000 USD (2010); tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 5 - 5,5%/ năm. Tuy nhiên, so
