Tạp chí Công Thương xin trân trọng giới thiệu cuộc trao đổi giữa Tạp chí với TS. Dương Đình Giám - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách Công nghiệp, Bộ Công Thương, nhằm mang tới cho bạn đọc những góc nhìn mới cùng về một vấn đề.

PV: Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách Công nghiệp được Bộ Công Thương giao nhiệm vụ xây dựng Đề án “Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Xin tiến sĩ cho biết những điểm mới của Chiến lược lần này so với những bản Chiến lược trước?

TS. Dương Đình Giám: Thứ nhất, các bản chiến lược hay quy hoạch giai đoạn trước hầu hết đều thiếu hoặc chưa làm rõ được việc đánh giá tác động của các chính sách. Chúng ta đều biết, hoạt động của công tác quản lý nhà nước là ban hành các chính sách; và kết quả phát triển kinh tế - xã hội, chính là hiệu quả của hệ thống chính sách. Trong lĩnh vực công nghiệp cũng vậy. Nền công nghiệp quốc gia phát triển tốt hay chưa tốt; cân đối hay mất cân đối giữa các phân ngành, vùng miền đều là hệ quả của hệ thống chính sách phát triển công nghiệp.

Chính với cách tiếp cận như vậy nên trong quá trình xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp lần này, nhóm nghiên cứu đã giành nhiều thời gian cho việc đánh giá lại hệ thống chính sách phát triển công nghiệp trong giai đoạn hơn 10 năm vừa qua (2000 - 2012). Để có thể đánh giá toàn diện hệ thống chính sách công nghiệp trong giai đoạn vừa qua, nhóm nghiên cứu đã chia làm 2 hệ thống, bao gồm các chính sách chung, như các chính sách về môi trường đầu tư và kinh doanh, chính sách thương mại và hội nhập, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách phát triển khoa học công nghệ… và các chính sách đặc thù, bao gồm các chính sách, như chính sách năng lượng quốc gia, chính sách phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên, mũi nhọn, chính sách phát triển các ngành cơ khí trọng điểm, chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ…

Thứ hai, trên cơ sở kết quả phát triển công nghiệp của các giai đoạn trước và đánh giá tác động của hệ thống chính sách, nhóm nghiên cứu đã rút ra được một số bài học, mà chúng tôi coi là khá sâu sắc; đó là:

1. Cần đổi mới mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu. Trong thời gian vừa qua, chúng ta đã nặng về phát triển theo chiều rộng mà ít chú ý tới hiệu quả của đầu tư phát triển. Điều này đã diễn ra trên nhiều lĩnh vực chứ không phải chỉ riêng trong công nghiệp;

2. Không đầu tư dàn trải, mà cần có trọng tâm cho từng giai đoạn. Thực tế cho thấy, vì nguồn lực hạn chế mà lại đầu tư dàn trải nên dường như đầu tư trùng lắp, chưa đủ độ để phát huy hiệu quả và như vậy lại là lãng phí nguồn lực;

3. Cần điều chỉnh phân bố không gian công nghiệp một cách hợp lý, nhằm tạo sự liên kết, hỗ trợ giữa các địa phương, vùng miền. Không phát triển đồng loạt, đồng đều giữa các địa phương như hiện nay;

4. Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, ưu tiên các nhà đầu tư chiến lược. Thu hút đầu tư nước ngoài là quan trọng, song cần lựa chọn đối tác để có những hợp tác đầu tư trọng tâm và hiệu quả hơn…

Thứ ba, trên cơ sở phân tích các nguồn lực, cơ hội và thách thức của công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế khu vực và thế giới, bản chiến lược đã tiến hành xác định các mục tiêu và các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới.

Có thể nói, đây là một công việc khó khăn, bởi với nguồn lực hạn chế, nhưng nhu cầu phát triển thì cao, nên dường như ngành nào, lĩnh vực nào cũng thấy cần phát triển trước. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu đã thống nhất quan điểm (và được nhiều cơ quan, các nhà khoa học ủng hộ) là dứt khoát không dàn trải, phân tán nguồn lực. Trong từng giai đoạn, nếu tập trung ưu tiên sẽ tạo ra những đột phá, từ đó tạo đà cho phát triển các ngành, lĩnh vực khác. Các ngành, lĩnh vực không được ưu tiên, không có nghĩa là không phát triển.

PV: Ông vừa nói về những điểm tiến bộ trong Đề án “Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, với kinh nghiệm nhiều năm tham gia làm công tác quy hoạch, ông có nhận thấy rằng, dường như hiện nay đã có sự chuyển đổi đáng kể trong xây dựng, đánh giá quy hoạch so với giai đoạn trước?

TS. Dương Đình Giám: Đúng thế. Tư duy về quy hoạch giờ đã thay đổi rất nhiều so với trước, nó thay đổi trước hết từ chính những người làm quy hoạch. Trước kia, xây dựng quy hoạch thường rất chi tiết, cái gì được làm ở đâu, quy mô thế nào, được hoạch định rất chi tiết. Cách làm này tưởng là hợp lý nhưng không ngờ nó lại không đúng, không “gặp” được thị trường. Quan điểm về quy hoạch bây giờ khác, bên cạnh một số sản phẩm, lĩnh vực đặc biệt, cần được quy hoạch “cứng” thì còn lại hầu hết là các quy hoạch “mềm”, mang tính định hướng. Quy mô của các dự án phụ thuộc chủ yếu vào chủ đầu tư, cho nên chỉ cần định hướng, mức độ “đúng” theo đó cũng phải được quan niệm khác đi, quy hoạch phải mang tính “mở” rất nhiều.

Xã hội cũng cần có cách nhìn, cách hiểu mới về quy hoạch, nhất là với những đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của quy hoạch, đó là doanh nghiệp. Doanh nghiệp không thụ động chờ quy hoạch hay làm đúng những chỉ dẫn của quy hoạch như trước kia, mà chủ động lựa chọn vị trí, quy mô dự án phù hợp với định hướng của quy hoạch và những tín hiệu của thị trường. Ví dụ, trong Quy hoạch Phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trước kia, khi bàn về dòng xe chủ lực, các nhà quy hoạch đã đưa ra những tiêu chí rất cụ thể, như số chỗ ngồi, dung tích xi lanh, tiêu chuẩn khí thải... thậm chí cả chiều dài hay độ rộng thân của xe... Nhưng nay thì khác, với quan điểm loại xe cụ thể sẽ do nhà sản xuất, căn cứ và nhu cầu thị trường để lựa chọn, Quy hoạch chỉ đưa ra định hướng lựa chọn dòng xe chủ lực là đáp ứng được hài hòa 3 lợi ích: quốc gia (phát triển được ngành công nghiệp ô tô, bảo vệ môi trường...), người tiêu dùng (giá cả hợp lý, sử dụng đa mục đích, an toàn, tiết kiệm nhiên liệu,...) và doanh nghiệp (có lợi nhuận) với một số yêu cầu như các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường (tiêu chuẩn khí thải), tiết kiệm năng lượng, mức độ nội địa hóa...

Tôi cho rằng, cách tiếp cận như vậy sẽ phù hợp hơn, doanh nghiệp (nhà đầu tư) sẽ được chủ động hơn trong lựa chọn các phương án đầu tư của mình. Đó chính là tính “mở” của quy hoạch.

PV: Ông nhận định thế nào về những mặt yếu và mạnh của người làm quy hoạch hiện nay? Sự mạnh – yếu này có ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng của các bản quy hoạch?

TS. Dương Đình Giám: Hiện nay, chất lượng bản quy hoạch phản ánh trình độ người làm quy hoạch. Mạnh - yếu của một người làm quy hoạch được thể hiện ở những kiến thức tổng hợp, nhìn xa trông rộng, không đơn thuần là kiến thức kinh tế, là tính toán, là lỗ lãi vì những yếu tố này là dành cho doanh nghiệp, cho người trực tiếp sản xuất, kinh doanh. Người làm quy hoạch không phải tính toán đến mức chi li như thế, cái cần nhất của họ là phải biết cân đối giữa các yếu tố, giữa các mục tiêu của bản quy hoạch. Nếu làm quy hoạch cho một vùng, một ngành mà chỉ nhìn có một vùng, một ngành đó thôi thì không thể được, mà phải đặt nó trong mối tương quan liên kết giữa các ngành, các vùng liên quan. Thậm chí trong cùng một vùng, việc xét mối quan hệ liên kết giữa các địa phương với nhau là điều rất cần thiết khi xây dựng quy hoạch. Đây chính là cái yếu của người làm quy hoạch nói chung. Và chính sự hạn chế này đã dẫn đến chất lượng của nhiều bản quy hoạch chưa tốt.

Tuy nhiên, ngay cả khi năng lực chuyên môn của người làm quy hoạch tốt đi chăng nữa, thì vẫn còn một điều rất hạn chế nữa là phải “lựa ý khách hàng”. Xét cho cùng, làm quy hoạch cũng chính là làm tư vấn, mà đã tư vấn thì phải chiều khách. Đôi khi người làm quy hoạch bị rơi vào tình thế lựa chọn giữa một bên là “gu” của khách hàng, với một bên là chất lượng của bản quy hoạch, chọn cái nào là một điều rất khó. Muốn có quy hoạch tốt thì người tư vấn, ngoài kiến thức, còn cần phải có bản lĩnh. Người giao nhiệm vụ, tức là người chủ, người lãnh đạo (ngành, địa phương) có thẩm quyền duyệt bản quy hoạch ấy cũng phải biết vì cái chung, không nên áp đặt ý muốn chủ quan, cục bộ cho ngành mình, địa phương mình.

PV: Sự thay đổi trong tư duy làm quy hoạch còn cần phải thể hiện ở những điểm nào nữa, thưa ông?

TS. Dương Đình Giám: Tôi cho rằng, còn cần phải thay đổi tư duy trong cách đánh giá về sự phát triển của từng địa phương, từng ngành.

Không phải tất cả các địa phương trong một vùng đều cần có tốc độ phát triển cao như nhau, bởi nếu như vậy thì các địa phương sẽ phát triển bằng mọi giá, thậm chí ganh đua nhau, làm triệt tiêu thế mạnh của nhau. Trong Đề án “Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” có gợi ý rằng, trên cơ sở một vùng kinh tế trọng điểm, sẽ hình thành 2 khu vực tạm gọi là vùng đệm và vùng lõi. Vùng “lõi” là vùng phản ánh đúng bản chất, hay nói cách khác là thế mạnh kinh tế của vùng, và do vậy, không phải tất cả các địa phương trong vùng đều là vùng “lõi”. Phải chọn lựa địa phương nào sẽ làm vùng “lõi”, hạt nhân cho sự phát triển của vùng, địa phương nào sẽ làm vùng “đệm”, thu hút sự chuyển dịch công nghiệp từ vùng lõi và là nguồn cung các sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ cho vùng lõi.

Nhưng trong thực tế, chắc sẽ ít địa phương chịu an phận làm vùng “đệm”, vì theo tư duy cũ, nó thể hiện rằng địa phương đó kém năng động (do phát triển với tốc độ thấp, không có sản phẩm công nghiệp chủ lực của vùng...). Vì thế, muốn có được sự phát triển hiệu quả chung, ngoài việc thay đổi cách đánh giá như đã nói ở trên, còn cần phải có chế độ hỗ trợ từ Nhà nước hay từ chính những địa phương được coi là “lõi”. Tập trung phát triển một vài địa phương, những địa phương còn lại chấp nhận “hy sinh” làm vùng “đệm”, hiệu quả chung cuối cùng sẽ cao hơn. Người làm quy hoạch phải tư vấn được điều đó.

PV: Để theo kịp sự phân công phát triển theo kiểu “lõi” và “đệm” như vậy, rất cần một sự thay đổi về tư duy, về cách đánh giá mức phát triển của từng địa phương, từng ngành phải không, thưa tiến sĩ?

TS. Dương Đình Giám: Đúng thế. Hiện nay đang có tình trạng phát triển theo phong trào như đã nói ở trên, mà nguyên nhân cơ bản, theo tôi là việc đánh giá sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương đều được tính bằng thước đo của số lượng tăng trưởng, chứ không phải chất lượng tăng trưởng, nền kinh tế cứ phải tăng trưởng 7 - 8%/năm mới đạt, nhưng tăng trưởng với chất lượng như thế nào thì hầu như không được nói tới. Đã đến lúc cần phải thay đổi ngay cách đánh giá này để các địa phương “yên tâm” lựa chọn đúng thế mạnh phát triển của mình mà không phải chịu áp lực tăng trưởng như hiện nay. Như vậy, các địa phương trong một vùng, thậm chí là ở quy mô toàn quốc, sẽ phát triển một cách hài hòa chứ không phải là đồng đều, dàn hàng ngang cùng tiến. Khi đó chắc chắn hiệu quả chung của toàn nền kinh tế sẽ cao hơn.

PV: Xin cảm ơn tiến sĩ về cuộc trao đổi này.