“Học thuyết thực dụng”

Luật sư Nguyễn Đắc Minh, người tham gia tư vấn cho nhiều doanh nghiệp thủy sản trong các vụ kiện chống bán phá giá, kể lại rằng, năm 2008 ông đã rất buồn khi một doanh nghiệp “ngây thơ” chất vấn ông: “tôi có bán phá giá đâu mà kiện tôi?”; nhưng ông Minh thực sự bị sốc khi đến năm 2014 này, tức là đã 20 năm sau vụ kiện đầu tiên nhằm vào hàng xuất khẩu Việt Nam, vẫn có doanh nghiệp lặp lại câu hỏi như vậy.

Trên thực tế, hầu hết các nước thành viên WTO đều áp dụng một hệ thống hàng rào kỹ thuật để bảo vệ sản xuất trong nước. Hệ thống này gồm 2 nhánh công cụ là phòng vệ thương mại (với các công cụ: kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ nhập khẩu, hạn chế định lượng (quota) và rào cản kỹ thuật (các quy định về kỹ thuật, an toàn, vệ sinh thực phẩm, nhãn mác…).

Cho đến nay, hàng xuất khẩu nước ta đã lần lượt đối mặt với tất cả các công cụ nói trên. Trong đó có nhiều trường hợp nước nhập khẩu sử dụng công cụ một cách tùy ý, như chuyện Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) sử dụng Bangladesh làm quốc gia thay thế để tính giá thành cá tra Việt Nam trong đợt xem xét hành chính thứ 7 (POR7), còn ở POR8 họ lại chọn Indonesia là quốc gia thay thế; hoặc nước nhập khẩu sử dụng phương pháp tính toán vô lý như việc Hoa Kỳ dùng phương pháp “quy về zeroing” để tính biên độ phá giá của sản phẩm tôm đông lạnh nước ta…

Tùy tiện, vô lý, nhưng đó lại là những “chiêu” được khá nhiều nước sử dụng. Bởi thế các chuyên gia ngoại thương đưa ra một “học thuyết thực dụng” rằng, chuyện “tùy tiện, vô lý” nên để dành cho các nhà đàm phán đấu tranh, thương thuyết, còn câu chuyện của doanh nghiệp là lượng sức mình để vượt qua cái tùy tiện, vô lý một cách “rẻ” nhất.

Khi doanh nghiệp bị động

Xin đưa ra một vài thống kê để phần nào thấy được những thách thức nghiệt ngã mà doanh nghiệp Việt Nam phải vượt qua trong ‘ma hồn trận” hàng rào kỹ thuật

- Tính đến tháng 10/2014, Việt Nam bị 80 vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ nhập khẩu. Trong đó, Hoa Kỳ, EU 2 thị trường xuất khẩu hàng đầu, chiếm gần 40% tổng kim ngạch xuất khẩu nước ta cũng là tâm điểm các vụ kiện doanh nghiệp nước ta.

- Các vụ kiện chủ yếu nhằm vào các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nước ta, như tôm, cá tra (chiếm lần lượt 50%, 22% kim ngạch xuất khẩu thủy sản), dệt may, da giày (đứng thứ 2, thứ 3 tổng kim ngạch xuất khẩu).

- Riêng trong năm 2014 đã xuất hiện nhiều rào cản mới như EU có Hệ thống kiểm tra chứng nhận thủy sản khai thác tự nhiên có khai báo, có kiểm soát (loại rào cản TBT- hàng rào kỹ thuật trong thương mại); Hoa Kỳ có Luật hiện đại hóa thực phẩm (loại rào cản TBT, SPS - biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật);Luật trang trại (loại rào cản SPS).

Những sự kiện trên, một mặt phản ánh thực tế phức tạp, khó tiên lượng trong chính sách ngoại thương của các nước; mặt khác cũng cho thấy doanh nghiệp nước ta còn khá bỡ ngỡ, mới đang trong giai đoạn đầu vươn lên tìm hiểu để làm chủ “cuộc chơi” đầy toan tính này.

Sự bỡ ngỡ khiến nhiều doanh nghiệp bị động, rơi vào tình huống phải đối phó với từng vụ việc cụ thể nhiều hơn là chủ động vạch chiến lược xuất khẩu đáp ứng những tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu. Riêng trong năm 2014 này, khi các vấn đề về dư lượng ethoxyquin vừa tạm lắng xuống thì con tôm lại gặp phải rào cản về dư lượng kháng sinh oxytetraxycline từ thị trường Nhật Bản và EU.

Theo VASEP, từ đầu năm đến nay, đã có hơn 10 trường hợp tôm xuất khẩu của nước ta sang Nhật Bản và EU bị cảnh báo về dư lượng kháng sinh oxytetraxycline. Hậu quả là, Nhật Bản thông báo sẽ kiểm tra chỉ tiêu oxytetraxycline đối với 100% lô tôm nhập khẩu từ Việt Nam. Trong khi đó, cơ quan thẩm quyền EU cảnh báo, nếu tình trạng dư lượng oxytetraxycline trong tôm không được cải thiện, EU sẽ xem xét các biện pháp kiểm soát ngặt nghèo hơn, thậm chí có thể tạm đình chỉ nhập khẩu.

Kết quả điều tra 139 doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành da giày, do Viện Dệt may - Da giày và Thời trang thực hiện cho thấy phần lớn các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của EU.

Nguyên nhân hàng đầu là do thiếu thông tin và hiểu biết thấu đáo về quy chuẩn, tiêu chuẩn pháp lý tại các thị trường xuất khẩu, đặc biệt là thiếu thông tin về tiêu chí về an toàn sản phẩm (mức độ an toàn khi tiêu dùng sản phẩm), chỉ tiêu an toàn sinh thái (mức độ gây độc hại, ảnh hưởng đến môi trường xung quanh trong quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm) v.v...

Mặt khác, phần lớn các doanh nghiệp dệt may, da giày hiện nay hoạt động sản xuất và xuất khẩu theo mô hình CMC, tức là khách hàng cung cấp mẫu thiết kế, nguyên liệu và bộ tài liệu hướng dẫn tuân thủ và yêu cầu kỹ thuật, dẫn đến doanh nghiệp gần như không quan tâm, cập nhật thông tin những quy chuẩn, tiêu chuẩn của nước nhập khẩu. Đến khi doanh nghiệp chuyển sang tự thiết kế mẫu mã, tự phát triển sản phẩm, xuất khẩu trực tiếp cho khách hàng nước ngoài thì cũng là lúc hàng rào kỹ thuật trở thành vấn đề gai góc.

Sự thụ động của doanh nghiệp còn thể hiện rõ ở các vụ kiện. Có những doanh nghiệp bị kiện bán phá giá vẫn bình chân như vại, vì “lý luận” một cách đơn thuần rằng, chi phí mua cá tra nguyên liệu, chế biến 35 ngàn đồng/kg, xuất khẩu 2,5 USD (52 ngàn đồng)/kg thì làm sao gọi là bán phá giá được!

Sẵn sàng “hầu” kiện

Giới chuyên gia cho rằng, nếu muốn trụ vững trên thị trường quốc tế, khi đối mặt với hệ thống rào cản kỹ thuật (các quy định về kỹ thuật, an toàn, vệ sinh thực phẩm, nhãn mác…) không còn cách nào khác, các doanh nghiệp Việt phải hướng đến một nền sản xuất sạch hơn.

Đây được coi là giải pháp sống còn, vì thế, về phía quản lý, từ đầu năm đến nay đã có 3 văn bản liên quan phát triển sản xuất và xuất khẩu thủy sản một cách bền vững được ban hành. Cụ thể là Nghị định 67/2014/NÐ-CP của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản; Nghị định số 36/2014/NÐ-CP về nuôi, chế biến và xuất khẩu cá tra. Và mới đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 20/CT-TTg về việc ngăn chặn hành vi đưa tạp chất vào tôm nguyên liệu và sản xuất, kinh doanh tôm có chứa tạp chất.

Cũng có nhiều doanh nghiệp vươn lên đáp ứng được các điều kiện tiêu chuẩn nhập khẩu của những thị trường khó tính. Riêng lĩnh vực thủy sản có trên 600 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào EU. Tuy nhiên, ngay trong số này vẫn có những doanh nghiệp bị EU “thổi còi”. Nhìn trên tổng thể, khi doanh nghiệp chưa thể kiểm soát được từ khâu nuôi, trồng thì nguy cơ sản phẩm có dư lượng kháng sinh cao, nhiễm tạp chất, bơm nước… khó loại bỏ hoàn toàn. Do đó, việc hình thành chuỗi liên kết trong sản xuất, chế biến, xuất khẩu nông sản mới khắc phục được nguy cơ trên.

Đối với rào cản phòng vệ thương mại, gần như không thể phòng ngừa hoàn toàn các vụ kiện, bởi lẽ chính sách ngoại thương của các nước nhập khẩu chịu sự chi phối rất lớn trong chuyện bảo hộ sản xuất trong nước. Cái chúng ta có thể làm được là xây dựng được những hiệp hội doanh nghiệp mạnh mẽ, có thực quyền, có thể điều phối xuất khẩu của hội viên trong trường hợp thị trường nhập khẩu phát tín hiệu cảnh báo “đèn đỏ”; và, doanh nghiệp sẵn sàng tham gia kháng kiện.

Hàng rào kỹ thuật là câu chuyện con dao hai lưỡi điển hình. Nó là hệ thống công cụ được các nước thành viên WTO xây dựng nhằm bảo vệ người tiêu dùng và sự cạnh tranh lành mạnh giữa hàng hóa nhập khẩu với hàng hóa sản xuất trong nước. Mục tiêu xây dựng rất cao đẹp, được các nước thành viên nhất trí cao, nhưng sự hiện hình của nó trong thương mại quốc tế cho thấy, ý tưởng “thương mại công bằng quốc tế” đã bị giằng xé như thế nào bởi lợi ích quốc gia, lợi ích nhà sản xuất trong nước và lợi ích người tiêu dùng đan xen chằng chịt.