Thị trường Nhật Bản là một thị trường  nhập khẩu hàng dệt-may lớn thứ 3 của Việt Nam, chiếm 17,5% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt-may Việt Nam, (thị trường Mỹ chiếm 35,5% và thị trường EU chiếm 19,5%). Với thị trường EU, Việt Nam xuất khẩu hàng dệt-may sang thị trường này bị hạn chế bởi hạn ngạch xuất khẩu cho từng năm. Đối với thị trường Mỹ, sau khi Hiệp định hàng dệt-may được ký kết, hàng dệt-may Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ sẽ phải chịu hạn ngạch, còn thị trường Nhật Bản là thị trường phi hạn ngạch lớn nhất, hàng dệt-may Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này không bị hạn chế. Thế nhưng, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt-may của Việt Nam vào thị trường này đang có chiều hướng giảm xuống, do hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường Nhật Bản đang phải cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm may mặc của các nước thành viên WTO như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, ý, Mỹ, đặc biệt là Trung Quốc, sản phẩm của các quốc gia này có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn sản phẩm may mặc xuất khẩu của Việt Nam về giá cả, chất lượng, mẫu mã, thương hiệu, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người Nhật Bản. Do vậy, để thực hiện tốt những mục tiêu kinh tế trong những năm tới là đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh hàng may mặc Việt Nam trên thị trường Nhật Bản, chúng ta cần xem xét xu hướng tiêu dùng của người Nhật Bản  trong những năm tới và sự tác động tới hàng may mặc xuất khẩu Việt Nam sang thị trường Nhật Bản.

1. Tổng quan về thị trường Nhật Bản

Nhật Bản là một thị trường mở, có quy mô tương đối lớn đối với các nhà xuất khẩu hàng may mặc nước ngoài, là nước nhập khẩu hàng may mặc lớn thứ hai trên thế giới với số dân 126,9 triệu người và mức thu nhập bình quân hàng năm là 30.039 USD/người. Tuy nhiên, việc mua sắm của người Nhật Bản đối với các sản phẩm nói chung và các sản phẩm may mặc nói riêng đều khác biệt với các thị trường như Mỹ, EU hoặc thị trường của các nước khác. Một trong những nguyên nhân là Nhật Bản đang đối mặt với sự thay đổi giữa các nhóm tuổi trong xã hội theo hướng già hoá dân số tương đối nhanh chóng. Theo một nghiên cứu về xu hướng thay đổi dân số Nhật Bản giai đoạn 1990-2025 cho thấy: Năm 2000, nhóm tuổi từ 15-29 là 16 triệu người thì tới năm 2010 sẽ giảm xuống còn 12,3 triệu người và đến năm 2025 chỉ còn 10,8 triệu. Số người dân có độ tuổi từ 30-59 cũng có mức giảm đáng kể qua các năm như năm 2000 có 42,7 triệu người, đến năm 2010 giảm xuống 42,2 triệu người, năm 2025 mức tuổi này chỉ còn 38,7 triệu người. Trong khi đó, nhóm dân số có độ tuổi từ 60-64 lại tăng lên. Năm 2000 có 4,4 triệu người, nhưng đến năm 2025 sẽ tăng lên 5,3 triệu người, nhóm dân số có độ tuổi trên 65 cũng có mức tăng như vậy.

Xu hướng già hoá dân số của Nhật Bản sẽ làm thay đổi mạnh mẽ cách thức tiêu dùng hàng hoá, sự lựa chọn, sở thích, thói quen, tâm lý tiêu dùng. Mặt khác, Nhật Bản là một nước công nghiệp phát triển, có mức thu nhập cao, nên người tiêu dùng sẽ trở nên ngày càng yêu cầu khắt khe và khó tính hơn về chất lượng, độ bền, độ tin cậy, thẩm mỹ, tính năng tác dụng của sản phẩm, thời trang... Họ trở nên tin tưởng và dễ dàng bỏ tiền ra mua những sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng của Nhật Bản như JIS hoặc của quốc tế như ISO 9000, ISO 14000, SA 8000 và họ cũng sẽ trở nên e ngại đối với những sản phẩm không đạt tiêu chuẩn trên. Ví dụ, các cơ quan nhà nước Nhật Bản sẽ ưu tiên mua những sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng của Nhật Bản (JIS). Như vậy, sẽ rất thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài có hàng xuất khẩu vào Nhật Bản mà lại áp dụng tiêu chuẩn chất lượng này, nó sẽ góp phần làm tăng đáng kể khả năng cạnh tranh của sản phẩm so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh khác.

Bên cạnh đó, người tiêu dùng Nhật Bản sẵn sàng trả giá cao để mua những sản phẩm có chất lượng tốt, tính thời trang, thẩm mỹ cao, sản phẩm còn phải thể hiện được những nét đặc trưng của nơi sản xuất về truyền thống, văn hoá, nguyên vật liệu như sản phẩm may mặc của Việt Nam phải có những đường nét, đặc trưng riêng của Việt Nam. Họ thường quan niệm, rằng một sản phẩm may mặc không chỉ đáp ứng nhu cầu thông thường là để mặc mà nó còn là một sản phẩm nghệ thuật làm đẹp cho người sử dụng. Ngược lại, họ cũng sẵn sàng từ chối không mua những sản phẩm đạt chất lượng tốt mà làm theo kiểu dáng “hàng nhái” cho dù bán với giá rẻ hoặc những sản phẩm có những vết xước, vết bẩn trên bao bì, những sợi chỉ, sợi bông còn sót lại trên bề mặt sản phẩm, sản phẩm sắp xếp không ngăn nắp, đẹp mắt, bị xô lệch.v.v... Nhiều chuyên gia kinh tế Nhật Bản có nhận xét giống nhau về hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam là: mặc dù hàng may mặc Việt Nam đạt chất lượng tốt, nhưng chất lượng không ổn định. Về kiểu dáng, mẫu mã rất nghèo nàn, chưa thể hiện những yếu tố đặc trưng của sản phẩm may mặc Việt Nam

Cuối cùng, một yếu tố khác phải kể đến là người tiêu dùng Nhật Bản chịu tác động rất mạnh bởi các phương tiện thông tin đại chúng như các loại tạp chí, phim ảnh. Nếu như có một mẫu mốt mới xuất hiện ở New York, Milan, Pari hoặc Tokyo thì các phương tiện thông tin về thời trang đều đưa tin cập nhật đến mẫu mốt đó, làm thay đổi sở thích tiêu dùng hàng may mặc của người Nhật Bản rất nhanh, dẫn tới vòng đời một sản phẩm may mặc ngày càng ngắn lại. Điều này rất phù hợp với một nghiên cứu khác của các chuyên gia Tổ chức Thương mại Hải ngoại Nhật Bản (JETRO) cho biết, có đến 78% người tiêu dùng Nhật Bản chọn hàng may mặc dựa theo kiểu dáng, 46% khách hàng lựa chọn theo chất lượng, 43% lựa chọn theo nhãn mác và 27% lựa chọn theo giá cả. Trong khi đó, hàng may mặc Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản chỉ mới đáp ứng được một cách tương đối hai yêu cầu, đó là giá cả và chất lượng. Còn yêu cầu về kiểu dáng thì kiểu dáng hàng may mặc Việt Nam rất nghèo nàn, không đa dạng do ngành công nghiệp thiết kế thời trang trong nước chưa phát triển, về nhãn mác, chỉ người tiêu dùng trong nước biết đến nhãn mác của các sản phẩm may Việt Nam. Ngược lại, hàng may mặc của Trung Quốc rất đa dạng mẫu mã, chủng loại, kiểu dáng, cùng với nhiều nhãn hiệu hàng hoá khác nhau, chất lượng tốt, giá cả tương đương, thậm chí còn rẻ hơn hàng hoá của Việt Nam. Đây chính là điều mà các nhà sản xuất-kinh doanh cần chú ý, nhằm nâng cao điểm mạnh và hạn chế điểm yếu đối với các sản phẩm của mình. Đặc biệt, những loại sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam giống của Trung Quốc như áo Jacket, sơ mi, quần áo thể thao.... cần tạo ra sự khác biệt hoá để người tiêu dùng Nhật Bản dễ nhận ra hàng may mặc Trung Quốc và hàng may mặc Việt Nam trong việc so sánh. Nó sẽ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh hàng may mặc Việt Nam trên thị trường Nhật Bản.

2.Tình hình xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam sang thị trường Nhật Bản.

Nhật Bản là một thị trường phi hạn lớn nhất của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 4 trong các nước có hàng may xuất khẩu vào Nhật Bản. Các sản phẩm của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản chủ yếu là hàng may mặc như Jacket, quần áo thể thao, quần âu, sơ mi nữ, sơ mi nam, quần áo lót cho nam, nữ, quần áo dệt kim của nam, nữ..... Hàng may Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản được hưởng thuế ưu đãi phổ cập GSP với mức thuế từ 14-16,8%, mức thuế cho áo sơ mi thì thấp hơn từ 9-11,2%[1]. Mặc dù có nhiều ưu đãi, nhưng hàng may mặc Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt với hàng của các nước như nhóm hàng dệt thoi của Việt Nam phải cạnh tranh với hàng của Trung Quốc, ý, Mỹ, Inđônêxia và hiện tại, mặt hàng này của Việt Nam đứng thứ ba sau hàng của Trung Quốc và ý. Nhóm hàng dệt kim như các loại quần áo dệt kim mặc ngoài và áo len Việt Nam xếp thứ năm, đứng đầu là hàng của Trung Quốc, thứ hai là Hàn Quốc, sau đến hàng của ý, Mỹ và đây cũng là các đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam trong nhóm hàng này. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt-may của Việt Nam sang Nhật Bản tăng hàng năm đến năm 2000 đạt cao nhất ( 620 triệu USD), sau đó đến năm 2001 lại giảm 5% so với năm 2000 còn 592 triệu USD. Theo số liệu mới nhất của Bộ Thương mại thì năm 2002, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt-may sang Nhật Bản bị giảm 20% so với năm 2001.

Hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản

Đơnvị: triệu USD

 

1992

1993

1994

1995

1996

1997

1998

1999

2000

2001

2002

Dệt -may

105,7

58,4

104,1

210,5

309,5

325

321

417

620

592

480

 Nguồn: Báo cáo của Hải quan Nhật Bản và của JETRO

Vụ Châu á-Thái Bình Dương-Bộ Thương mại

Nếu chia theo sản phẩm may mặc, các doanh nghiệp Việt Nam thường chú trọng vào sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm dệt thoi nhiều hơn là các sản phẩm dệt kim. Bởi vì các sản phẩm dệt thoi có vốn đầu tư ban đầu cho máy móc, thiết bị ít hơn, dễ sản xuất, dễ tiêu thụ hơn, đào tạo công nhân sản xuất khá đơn giản, quay vòng vốn nhanh hơn. Còn các sản phẩm dệt kim thì chi phí sản xuất cao hơn, đầu tư về máy móc, thiết bị tốn kém hơn, yêu cầu lao động kỹ thuật cao, khó tiêu thụ hơn. Chính vì thế, trong nhóm hàng này, Việt Nam chỉ xếp thứ năm trong các nhà xuất khẩu hàng dệt kim vào thị trường Nhật Bản.

Còn chia theo nhóm khách hàng, thì được chia thành ba nhóm khách hàng chính: nhóm khách hàng thấp cấp, trung cấp và cao cấp. Hàng may mặc Việt Nam hầu hết tập trung phục vụ nhóm khách hàng thấp cấp và trung cấp với giá thành rẻ, chất lượng vừa phải, nhưng với nhóm khách hàng này, hàng may mặc của Việt Nam phải cạnh tranh rất mạnh với hàng may mặc của nhiều quốc gia khác, trong đó chủ yếu là hàng của Trung Quốc. Còn nhóm khách hàng cao cấp thì vẫn còn bỏ trống do các doanh nghiệp may mặc Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của nhóm khách hàng này, sản phẩm của nhóm khách hàng này là những bộ Veston, Comple, bộ váy, quần âu cao cấp, áo măngtô.... Đây là điều mà các doanh nghiệp nên sớm nghiên cứu đầu tư máy móc, công nghệ, con người để tạo ra sản phẩm nhằm phục vụ nhóm khách hàng này theo huớng đa dạng hoá sản phẩm, đa dạng hoá khách hàng, giảm thiểu rủi ro thị trường. Nếu chúng ta cứ tập trung vào nhóm khách hàng thấp cấp và trung cấp thì hàng may mặc Việt Nam gặp nhiều khó khăn hơn trong cạnh tranh so với hàng của các đối thủ cạnh tranh, bởi vì lợi thế cạnh tranh của hàng may mặc Việt Nam trong nhóm hàng này ít hơn so với các nước khác. Như vậy, rủi ro thị trường sẽ rất lớn, nó sẽ ảnh hưởng tới mục tiêu chung của cả ngành trong việc tăng trưởng xuất khẩu hàng may mặc trong những năm tới. 

3. Một số kiến nghị đối với các doanh nghiệp may mặc Việt Nam xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Nhật Bản.

- Thứ nhất, các sản phẩm may mặc Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản cần thực hiện chiến lược đa dạng hoá: đa dạng về kiểu dáng, mầu sắc, sản phẩm sao cho đáp ứng được nhiều loại sở thích, thói quen tiêu dùng của người dân. Muốn có nhiều loại sản phẩm may mặc, các doanh nghiệp luôn phải cập nhật các thông tin và xu thế thời trang của các trung tâm thời trang trên thế giới, rồi từ đó mới đi vào sản xuất. Được như vậy mới thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh hàng may mặc Việt Nam trước nhiều đối thủ cạnh tranh, tăng thị phần hàng may mặc Việt Nam trên thị trường Nhật Bản, tạo hình ảnh tốt về sản phẩm may mặc của Việt Nam.

- Thứ hai, cần có sự khác biệt hoá giữa các sản phẩm may Việt Nam với các sản phẩm may của những đối thủ cạnh tranh. Sản phẩm may Việt Nam mặc dù tốt về chất lượng nhưng về thiết kế phải thể hiện những nét truyền thống, đặc trưng của Việt Nam như kiểu dáng, mầu sắc, chất liệu vải, khuy, khoá kéo, bao gói...vv. Sự khác biệt hoá sản phẩm giúp cho người tiêu dùng dễ dàng nhận ra sự khác nhau giữa sản phẩm may của Việt Nam với sản phẩm may của Trung Quốc hay của một đối thủ cạnh tranh nào khác, họ có thể dễ dàng so sánh, đánh giá mức độ thoả mãn thu cầu tiêu dùng của mỗi sản phẩm, từ đó đi đến quyết định mua sản phẩm này hoặc chọn sản phẩm kia. Đây là yếu tố rất quan trọng trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.  

- Thứ ba, đẩy mạnh xuất khẩu hàng may mặc của các doanh nghiệp Việt Nam đã đạt được các chứng chỉ chất lượng như ISO 9000, ISO 14000, SA 8000, JIS vào thị trường Nhật Bản. Về chứng chỉ ISO 9000, ISO 14000, SA8000, nhiều doanh nghiệp đã đạt được nhưng chưa thấy doanh nghiệp nào công bố đã đạt được, chứng chỉ tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS ). Vậy tại sao các doanh nghiệp Việt Nam chưa quan tâm đến vấn đề đó, trong khi thị trường Nhật Bản là một thị trường nhập khẩu hàng may mặc quan trọng của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt-may Việt Nam sang thị trường Nhật Bản chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt-may của Việt Nam và nếu doanh nghiệp Việt Nam đạt được chứng chỉ JIS sẽ thuận lợi rất nhiều trong việc tiêu thụ sản phẩm của mình trên thị trường khó tính này. Một khía cạnh khác là người tiêu dùng Nhật Bản rất khắt khe trong lựa chọn tiêu dùng sản phẩm, nếu các sản phẩm đó không có  chứng chỉ chất lượng quốc tế. Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm được đóng dấu chất lượng quốc tế, đặc biệt là đạt được dấu tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản.

- Thứ tư, các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc cần có sự liên kết chặt chẽ với nhau trong việc thu thập thông tin thị trường, sản xuất và xuất khẩu hàng sang Nhật Bản. Khi có sự liên kết giữa các doanh nghiệp, sẽ dễ dàng trong việc huy động tối đa các nguồn lực của mình tập trung vào sản xuất và xuất khẩu những chủng loại hàng mà người tiêu dùng Nhật Bản đang có nhu cầu,  mở rộng quy mô sản xuất, góp phần giảm chi phí trên mỗi sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm may mặc Việt Nam. Còn như hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu hàng dệt-may sang Nhật Bản là mạnh ai người đó làm, phân tán, thiếu sự kết hợp, đầu tư dàn trải không hiệu quả hoặc vượt quá khả năng đầu tư của một doanh nghiệp.

- Thứ năm, tăng cường quảng cáo thương hiệu các sản phẩm may mặc Việt Nam trên thị trường Nhật Bản. Đây là một hình thức đầu tư cho tương lai mà các doanh nghiệp Việt Nam nên làm, bên cạnh bảo đảm giá cả phù hợp, chất lượng sản phẩm tốt, kiểu dáng hợp thời trang, thì thương hiệu sản phẩm cũng rất quan trọng, thương hiệu càng nổi tiếng, được nhiều người biết đến thì sự thành công của sản phẩm đó càng lớn, trong khi đó, thương hiệu sản phẩm may mặc Việt Nam trên thị trường Nhật Bản lại được ít người biết đến. Vì thế, các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng may mặc cần mạnh dạn đầu tư cho việc quảng cáo thương hiệu sản phẩm may mặc trên thị trường này. 

- Thứ sáu là cần có sự phối hợp đồng bộ và hiệu quả giữa các Hiệp hội, Phòng thương mại như VITAS, VCCI và các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam thông qua các biện pháp hỗ trợ xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu sản phẩm, thu thập thông tin, chắp nối các kênh phân phối, tư vấn pháp luật./.