Theo đó, Thông tư quy định hệ thống tiêu chí của Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam (sau đây gọi tắt là Chương trình), bao gồm (1) tiêu chí xây dựng, thẩm định, phê duyệt đề án thuộc Chương trình; và (2) tiêu chí đăng ký, xét chọn sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam.

Thông tư áp dụng đối với các đơn vị chủ trì đề án thuộc Chương trình, cơ quan quản lý Chương trình và các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân liên quan.

Bộ Công Thương ban hành quy định hệ thống tiêu chí của Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam
Bộ Công Thương ban hành Quy định hệ thống tiêu chí của Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam

Theo Thông tư, tiêu chí xây dựng đề án thuộc Chương trình gồm:

Tiêu chí 1: Đề án phù hợp với các quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 16 Nghị định số 28/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về một số biện pháp phát triển ngoại thương.

Tiêu chí 2: Đề án đáp ứng được một trong các mục tiêu (i) nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của thương hiệu trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư; (ii) nâng cao năng lực xây dựng, phát triển, quản trị thương hiệu cho doanh nghiệp nhằm đáp ứng tiêu chí của Chương trình; và (iii) quảng bá Thương hiệu quốc gia Việt Nam gắn với quảng bá thương hiệu sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam.

Tiêu chí 3: Nội dung của đề án phù hợp với quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.

Để đăng ký sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam phải gồm các tiêu chí: (1) Là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam theo quy định của pháp luật; và (2) Sản phẩm, hàng hóa được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.

Doanh nghiệp đăng ký Thương hiệu quốc gia Việt Nam phải gồm các tiêu chí:

(1) Là doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam và do tổ chức, cá nhân Việt Nam nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của doanh nghiệp đó.

Trường hợp doanh nghiệp không đáp ứng tiêu chí về vốn nhưng có sản phẩm tham gia xét chọn thể hiện yếu tố đặc sắc Việt Nam, góp phần nâng cao hình ảnh và giá trị Thương hiệu quốc gia Việt Nam thì Hội đồng Thương hiệu quốc gia Việt Nam xem xét, quyết định.

(2) Là chủ sở hữu văn bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ của sản phẩm đăng ký xét chọn.

(3) Có thời gian hoạt động tối thiểu từ 02 năm liên tiếp trước năm xét chọn.

(4) Tuân thủ các quy định của pháp luật về hoạt động sản xuất, đầu tư, kinh doanh, bảo vệ môi trường, lao động, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ về tài chính, thuế và các nghĩa vụ khác đối với ngân sách nhà nước.

Trường hợp doanh nghiệp có hành vi vi phạm hành chính nhưng đã chấp hành xong quyết định xử phạt, thực hiện đầy đủ các biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có) theo quy định của pháp luật và không trong thời gian bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế tại thời điểm nộp hồ sơ đăng ký xét chọn thì được coi là đáp ứng tiêu chí quy định tại điểm này.

Tham gia xét chọn sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam phải đạt các tiêu chí, cụ thể:

Tiêu chí 1: Chất lượng;

Tiêu chí 2: Đổi mới sáng tạo;

Tiêu chí 3: Năng lực tiên phong.

Việc xét chọn sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam được thực hiện theo phương thức chấm điểm. Thang điểm đánh giá là 1.000, được xác định cụ thể đối với từng chỉ số đánh giá trong tiêu chí quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này.

Tổng điểm quy định để một sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam là từ 650 điểm trở lên và điểm mỗi tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều 6 đạt từ 60% trở lên.

Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (03/4/2026) và thay thế Thông tư số 33/2019/TT-BCT của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định Hệ thống tiêu chí của Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam và Thông tư số 25/2021/TT-BCT ngày 20/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Công Thương sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 33/2019/TT-BCT của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định Hệ thống tiêu chí của Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam.

Trường hợp các văn bản viện dẫn tại Thông tư này được sửa đổi, bổ sung, thay thế thì áp dụng theo các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế đó.

Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân phản ánh kịp thời về Bộ Công Thương để nghiên cứu, giải quyết.

Chi tiết, xem tại đây.