[eMagazine] Gia Lai: “Làm mới” để giữ nghề truyền thống vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Trong đời sống của 47 dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn Gia Lai, những nghề truyền thống không chỉ tạo sinh kế mà còn lưu giữ bản sắc, ký ức và những giá trị văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ. Trước những thay đổi trong đời sống và nhu cầu sử dụng, đồng bào đang tìm cách “làm mới” nghề truyền thống, từ thay đổi mẫu mã, ứng dụng máy móc đến mở rộng đầu ra, để nghề xưa tiếp tục có chỗ đứng trong cuộc sống hôm nay.
Tỉnh Gia Lai sau sáp nhập có địa bàn rộng, với 47 dân tộc cùng sinh sống, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 23%. Trong đó, người Jrai chiếm 15,54%, Bahnar 5,69%, Mường 0,42%, Hrê 0,30%, Chăm và các dân tộc thiểu số khác 1,25%.
Ở quy mô toàn tỉnh, tính đến cuối năm 2025, Gia Lai có khoảng 60 làng nghề, làng nghề truyền thống và làng có nghề, với hơn 12.000 cơ sở ngành nghề, tạo việc làm cho gần 24.000 lao động nông thôn. Bên cạnh đóng góp vào sinh kế, hoạt động làng nghề còn góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa đặc trưng của địa phương.
Trong đó, tại các cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, đan lát… không chỉ gắn với đời sống mà còn lưu giữ bản sắc văn hóa và những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, khi nhu cầu và thị hiếu ngày càng thay đổi, nghề truyền thống cũng đứng trước yêu cầu phải thích ứng. Từ đó, nhiều người đang tìm cách đổi mới sản phẩm, cách làm và đầu ra để giữ nghề, giữ bản sắc và tạo sinh kế.

Ở thôn 2, xã An Hòa, chị Đinh Thị Riêng, 33 tuổi, người H’re, đang từng ngày tìm cách đưa nghề dệt truyền thống đến gần hơn với nhu cầu của thị trường.
Ngoài những mẫu trang phục truyền thống, chị chủ động tìm hiểu thêm các kiểu áo cổ tròn, cổ tim, cổ sơ mi, khăn, thắt lưng, khố… Những bộ trang phục vẫn giữ hoa văn đặc trưng, nhưng được phối màu hài hòa, kiểu dáng đa dạng hơn để phù hợp với nhu cầu của khách hàng.
Điểm đáng chú ý trong cách làm của chị Riêng là sự kết hợp giữa kỹ thuật truyền thống với phương thức sản xuất hiện đại. Những công đoạn tạo nên giá trị riêng của sản phẩm vẫn được thực hiện thủ công, trong khi máy may công nghiệp được sử dụng ở những khâu phù hợp để rút ngắn thời gian hoàn thiện.

“Trước đây, tôi dệt hoàn toàn bằng tay phải mất hơn 2 tuần mới hoàn thành một bộ trang phục, nhưng nay nhờ sử dụng máy may công nghiệp, thời gian thực hiện được rút ngắn đáng kể. Tuy nhiên, những công đoạn như thêu hoa văn, đính hạt cườm, dây ngũ sắc hay các chi tiết trang trí vẫn phải làm thủ công để giữ nét tinh tế cho sản phẩm", chị Riêng chia sẻ và cho biết, hiện mỗi tháng, cơ sở bán gần 50 bộ trang phục ra thị trường, tạo việc làm thường xuyên cho nhiều lao động địa phương.
Cùng hướng đi đó, tại Làng du lịch cộng đồng Ia Mơ Nông, xã Ia Ly, các nghệ nhân ở làng Kép 1, Kép 2, Phung đã đưa thổ cẩm vào nhiều sản phẩm mới phục vụ du khách và thị trường. Bên cạnh váy áo truyền thống, thổ cẩm được sử dụng để may áo dài, khăn quàng cổ, cà vạt, túi xách và các sản phẩm lưu niệm nhỏ với kiểu dáng hiện đại.

Theo chị H’Uyên Niê, Phó ban Quản lý Làng du lịch cộng đồng Ia Mơ Nông, việc cách tân là hướng đi cần thiết để nghề dệt truyền thống thích ứng với đời sống hôm nay. Nếu trước đây thổ cẩm chủ yếu được sử dụng trong lễ hội thì hiện nay du khách và giới trẻ có xu hướng lựa chọn những sản phẩm tiện dụng, dễ sử dụng hằng ngày. Vì vậy, các nghệ nhân vẫn giữ hoa văn đặc trưng của người Jrai nhưng chủ động thay đổi kiểu dáng, chất liệu để sản phẩm gần gũi hơn với thị trường.
Khi những tấm vải truyền thống bước ra khỏi không gian lễ hội để hiện diện trong đời sống thường ngày, nghề dệt cũng có thêm cơ hội tồn tại. Đằng sau mỗi sản phẩm không chỉ là sự thay đổi về mẫu mã, mà còn là nỗ lực giữ lại những hoa văn, kỹ thuật và dấu ấn văn hóa của cộng đồng Jrai, Bahnar, H’re.


Nếu việc đổi mới giúp sản phẩm truyền thống thích ứng với thị trường, thì việc duy trì nghề trong cộng đồng lại là nền tảng để nghề không bị đứt gãy.
Tại xã Vân Canh, khoảng 78 người vẫn còn duy trì nghề dệt thổ cẩm; riêng làng Hà Văn Trên có 30 phụ nữ, nghệ nhân còn gắn bó với khung cửi. Trước nguy cơ nghề truyền thống mai một, địa phương đã thành lập Tổ dệt thổ cẩm làng Hà Văn Trên, tạo điều kiện để chị em sinh hoạt, trao đổi kinh nghiệm và duy trì nghề.
Bà Đinh Thị Hà, Tổ trưởng Tổ dệt thổ cẩm, cho biết Tổ hỗ trợ vật liệu, cải tiến mẫu mã và kết nối đầu ra cho sản phẩm. Từ năm 2024 đến nay, Tổ liên kết với một số doanh nghiệp, khách hàng trong và ngoài tỉnh, bình quân mỗi tháng nhận dệt 15 - 20 sản phẩm, giúp các thành viên có thu nhập khoảng 4 - 5 triệu đồng/người.
Đáng chú ý, hoạt động của Tổ không chỉ hướng tới tiêu thụ sản phẩm mà còn khuyến khích phụ nữ trẻ học nghề, tạo điều kiện trao truyền kỹ năng giữa các thế hệ.
Từ góc độ địa phương, ông Nguyễn Xuân Việt, Chủ tịch UBND xã Vân Canh, cho biết xã đã vận động nghệ nhân truyền dạy nghề, mở các lớp đào tạo cho người dân và phối hợp với các hội, đoàn thể hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm. Địa phương cũng triển khai Đề án xây dựng điểm du lịch cộng đồng gắn với nghề dệt thổ cẩm tại làng Hà Văn Trên, qua đó vừa góp phần bảo tồn văn hóa, vừa tạo thêm thu nhập cho người dân.

Tại xã Ia Ly, việc gắn nghề dệt với du lịch cộng đồng cũng đang mở ra một không gian mới cho nghề truyền thống. Năm 2021, địa phương đã thành lập làng du lịch cộng đồng. Các tour trải nghiệm được xây dựng gắn với nghề dệt thổ cẩm, để du khách gặp gỡ nghệ nhân, tìm hiểu quy trình dệt, chụp ảnh, thuê và mua sản phẩm truyền thống.
Cách làm này tạo thêm điểm nhấn văn hóa cho hoạt động du lịch, đồng thời giúp người dân quảng bá, tiêu thụ sản phẩm và giữ nghề.

Thời gian tới, Ban Quản lý làng du lịch cộng đồng xã Ia Ly dự kiến xây dựng các vùng trồng bông nguyên liệu nhằm chủ động nguồn sợi phục vụ dệt thổ cẩm, từng bước khôi phục quy trình từ trồng bông, se sợi, nhuộm màu đến dệt vải. Cùng với đó là hỗ trợ người dân nâng cao chất lượng, xây dựng mẫu mã phù hợp nhu cầu thị trường để thổ cẩm có đầu ra ổn định hơn.

Nếu những nghệ nhân đang tìm cách làm mới sản phẩm và cộng đồng nỗ lực duy trì nghề, thì lớp trẻ đang mở thêm một hướng đi: khởi nghiệp từ chính những giá trị truyền thống của quê hương.
Tại vùng biên giới phía Tây Gia Lai, Rơ Mah H’Dịu, sinh năm 1996, Bí thư Đoàn xã Đức Cơ, đã lựa chọn khởi nghiệp gắn với việc vực dậy nghề truyền thống. Năm 2022, chị thực hiện mô hình “Thành lập làng nghề thanh niên đan lát rổ, rá, gùi bằng tre, nứa”.
Mô hình hướng tới ba nhóm: thanh niên mong muốn khởi nghiệp tại quê hương; thanh niên chưa có việc làm; thanh niên khuyết tật chưa có định hướng phát triển kinh tế.
Chị Rơ Mah H’Dịu (bên trái ảnh) khởi nghiệp từ nghề đan lát truyền thống vừa tạo việc làm cho thanh niên DTTS, vừa bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc.
Để triển khai, chị H’Dịu kêu gọi sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác; quy hoạch vùng trồng nguyên liệu tre phục vụ hoạt động đan lát; xây dựng nhà trưng bày sản phẩm, tổ chức trình diễn quá trình nghệ nhân làm ra sản phẩm và kết hợp với du lịch sinh thái.
Từ đó, nghề truyền thống không chỉ được nhìn nhận như một giá trị cần bảo tồn, mà trở thành một hướng để thanh niên học nghề, học cách làm kinh tế và tìm kiếm sinh kế ngay tại quê hương.
“Hiện nay, mô hình mới chỉ thực hiện được ở quy mô nhỏ. Tôi sẽ tập trung vào một số sản phẩm có tính ứng dụng cao hơn như: Đàn T’rưng, giỏ tre... để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tăng thu nhập cho các thành viên”, chị H’Dịu cho biết.

Không gian phát triển cho nghề truyền thống cũng đang được mở rộng thông qua du lịch. Trong khuôn khổ Năm Du lịch quốc gia 2026- Gia Lai 2026, tỉnh Gia Lai đã giới thiệu các giá trị văn hóa, sản phẩm đặc trưng và những nghề thủ công truyền thống thông qua Triển lãm “Không gian Du lịch, Văn hóa - Hội nhập và lan tỏa”. Tại đây, các nghệ nhân trực tiếp trình diễn dệt thổ cẩm, đan lát mây tre, điêu khắc gỗ dân gian và chế tác nhạc cụ dân tộc, giúp du khách tìm hiểu quy trình làm nghề và giá trị văn hóa truyền thống. Việc kết nối nghề thủ công với du lịch, sản xuất và các sản phẩm OCOP đang tạo thêm không gian để những giá trị vốn thuộc về buôn làng được giới thiệu rộng rãi hơn.

Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường, nhiều làng nghề ở Gia Lai đang thay đổi và sáng tạo để đưa sản phẩm truyền thống vượt qua những giới hạn cũ. Từ một bộ trang phục được rút ngắn thời gian sản xuất, một chiếc túi thổ cẩm phù hợp với đời sống hiện đại đến những sản phẩm đan lát do thanh niên làm ra, nghề truyền thống đang tìm cách thích ứng với nhu cầu mới.
Đó cũng là cách để những giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ được lưu giữ, mà tiếp tục hiện diện trong đời sống, tạo sinh kế và được trao truyền cho những thế hệ tiếp theo.
