Sáng ngày 27/06/2026, Chương trình Bàn tròn Giảng viên VALOMA số 04 do Hiệp hội Phát triển nguồn nhân lực Logistics Việt Nam (VALOMA) phối hợp cùng Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức. Chương trình thu hút sự tham gia của lãnh đạo Hiệp hội, đại diện các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp cùng hàng trăm giảng viên ngành Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng tham dự trực tiếp và theo dõi trực tuyến trên toàn quốc.

nhân lực logistics
Ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, Chủ tịch Danh dự Hiệp hội VALOMA cùng các diễn giả tham gia trao đổi tại Chương trình Bàn tròn Giảng viên VALOMA số 04

Chương trình được tổ chức nhằm tạo diễn đàn để các cơ sở đào tạo chia sẻ kinh nghiệm triển khai chuyển đổi số trong giảng dạy, quản lý đào tạo và phát triển chương trình ngành Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng; Tăng cường kết nối giữa nhà trường, doanh nghiệp và Hiệp hội trong việc cập nhật xu hướng công nghệ, đổi mới phương pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của thị trường. Đồng thời thúc đẩy hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm giữa đội ngũ giảng viên ngành Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng trên phạm vi cả nước.

Tham dự Chương trình, về phía Hiệp hội Phát triển nhân lực Logistics Việt Nam (VALOMA) có ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, Chủ tịch Danh dự Hiệp hội VALOMA; PGS.TS. Trịnh Thị Thu Hương - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương, Phó Chủ tịch Hiệp hội VALOMA.

Về phía Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội có PGS.TS. Vũ Thanh Hương - Trưởng Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội; TS. Nguyễn Lan Anh - Chủ nhiệm Bộ môn Logistics và Chuỗi cung ứng toàn cầu, Khoa Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.

bàn tròn đào tạo logistics
PGS.TS. Trịnh Thị Thu Hương - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương, Phó Chủ tịch Hiệp hội VALOMA phát biểu tại Chương trình.

Tại Chương trình, các diễn giả: TS. Trần Thị Hương - Phó Trưởng khoa Quản lý, Trường Kinh tế, Đại học Bách khoa Hà Nội; TS. Nguyễn Thị Mai Anh - Trưởng khoa Kinh doanh số, Trường Kinh tế, Đại học Công nghiệp Hà Nội; TS. Nguyễn Văn Trường - Giảng viên Khoa Kinh tế vận tải, Trường Đại học Giao thông vận tải; bà Vũ Thị Thu Huyền - Giám đốc Chi nhánh Miền Bắc, Công ty Cổ phần Giải pháp Chuỗi cung ứng Smartlog; bà Hà Thu Hoa - Giám đốc Điều hành Công ty Cổ phần Vận tải Hàng hải Quốc tế Việt Nam (VIMT), Giám đốc Phát triển Kinh doanh Công ty Transin Group đã chia sẻ, trao đổi nhiều thông tin về các mô hình thực tế ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số tại các cơ sở đào tạo.

Hiệu quả từ các mô hình đào tạo theo xu hướng "đại học thông minh", "đại học điện tử"

Chia sẻ về việc ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy Logistics và Quản trị chuỗi cung ứng (SCM) tại Trường Kinh tế, Đại học Bách khoa Hà Nội, TS. Trần Thị Hương - Phó Trưởng khoa Quản lý cho biết, để tích hợp hệ sinh thái phần mềm vào giảng dạy, Trường Kinh tế (SEM) đã đưa nhiều công cụ số hiện đại vào các học phần chuyên sâu để sinh viên tiếp cận thực tế. Các phần mềm tiêu biểu bao gồm SAP ERPsim và Business Builders cho quản trị Logistics và chuỗi cung ứng; ARENA, Tecnomatix và AnyLogic cho mô phỏng hệ thống; cùng với SAP S/4HANA cho các môn quản trị nguồn lực, kho hàng và vận tải.

Bên cạnh đó, ứng dụng mô phỏng AnyLogic được sử dụng để xây dựng mô hình các trung tâm phân phối (Distribution Center), cho phép mô phỏng toàn bộ quy trình từ dỡ hàng bằng xe nâng, lưu kho, đến lắp ráp đơn hàng và bốc hàng lên xe tải. Ngoài ra, AnyLogic còn hỗ trợ mô phỏng quản lý đội bay (Airline Fleet), giúp theo dõi lịch trình, tình trạng hỏng hóc và các cấp độ bảo trì máy bay.

Đối với giải pháp quản trị vận tải SAP Transportation Management (TM), theo giới thiệu, quy trình vận hành của SAP TM qua 5 giai đoạn cốt lõi: Quản lý yêu cầu, Lập kế hoạch vận tải, Thực thi, Tính toán chi phí và Phân tích/Cộng tác. Sinh viên được làm quen với công cụ Transportation Cockpit để lập kế hoạch thủ công hoặc tối ưu hóa và sử dụng biểu đồ Gantt Chart để quản lý trực quan tài xế, xe tải cùng lịch trình vận chuyển.

Trong khi đó, trò chơi mô phỏng Business Builders là một kịch bản thực tế nơi sinh viên đóng vai trò Chuyên viên phân tích chuỗi cung ứng cho một công ty đồ chơi. Qua ba giai đoạn, người học phải phân tích dữ liệu lịch sử để nhận diện rủi ro, đánh giá tác động của các đứt gãy chuỗi cung ứng (như tại kênh đào Panama) và đề xuất các nhà cung cấp hoặc lộ trình thay thế nhằm tăng cường tính kiên cường cho hệ thống.

Trường Kinh tế, Đại học Bách khoa Hà Nội cũng phát triển kỹ năng phân tích và kể chuyện bằng dữ liệu thông qua việc sử dụng SAP Analytics Cloud, nơi sinh viên học cách thực hiện các truy vấn dữ liệu phức tạp và thiết kế bảng điều khiển (Dashboard) trực quan. Giảng viên sử dụng nguồn dữ liệu có sẵn này để tổ chức các bài tập "Kể chuyện từ dữ liệu" (Storytelling with data), giúp sinh viên rèn luyện khả năng trình bày và ra quyết định dựa trên dữ liệu thực tế.

Thông tin về hệ thống Đại học điện tử tại Đại học Công nghiệp Hà Nội (HaUI), TS. Nguyễn Thị Mai Anh - Trưởng khoa Kinh doanh số, Trường Kinh tế cho biết, Hệ sinh thái quản trị toàn diện: Hệ thống bao gồm ba trụ cột chính: Cổng thông tin tập trung, Phân hệ quản trị đào tạo cốt lõi và Hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) dựa trên dữ liệu thông minh.

Trên thực ế, HaUI bắt đầu lộ trình số hóa từ năm 2010 với hệ thống tự chủ nghiên cứu. Nhà trường đã đạt được nhiều giải thưởng lớn như Nhân tài Đất Việt (2012), Sao Khuê (2016) và giải Nhì VIFOTEC (2018). Với quy mô vận hành khổng lồ, hệ thống chuẩn hóa hơn 517 quy trình, sở hữu 6.700 chức năng phần mềm và ứng dụng di động My HaUI với hơn 106.000 lượt tải, qua đó giúp cá nhân hóa trải nghiệm sinh viên (tra cứu, đăng ký 24/7) và hỗ trợ giảng viên quản lý toàn bộ nghiệp vụ từ đào tạo, khảo thí đến nghiên cứu trên một Dashboard duy nhất.

Định hướng thời gian tới, HaUI sẽ chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình "Đại học thông minh", ứng dụng AI và Big Data để hội nhập quốc tế và đã chuyển giao công nghệ cho nhiều đơn vị giáo dục khác.

tham luan
TS. Nguyễn Thị Mai Anh - Trưởng khoa Kinh doanh số, Trường Kinh tế, Đại học Công nghiệp Hà Nội (HaUI) thông tin về hệ thống Đại học điện tử tại HaUI.

Trao đổi tại Chương trình, TS. Nguyễn Văn Trường - Giảng viên Khoa Kinh tế vận tải, Trường Đại học Giao thông vận tải cho biết, chuyển đổi số trong doanh nghiệp Logistics được phân loại thành 5 mức độ, đi từ số hóa dữ liệu cơ bản (mức 1) đến tự thích ứng và tối ưu hóa hoàn toàn (mức 5). Tại Việt Nam, đa số doanh nghiệp vẫn đang ở mức 1 (73,5%) với việc tin học hóa cơ bản và nhập liệu thủ công. Chỉ một tỷ lệ rất nhỏ (0,4%) đạt đến mức 5, tiêu biểu là các hệ thống tự định tuyến và tối ưu hóa lộ trình như ORION của UPS. Một số đơn vị lớn như Cảng Đà Nẵng hay Viettel Post đã bước sang mức 3-4 với việc ứng dụng AI và các nền tảng điều hành thời gian thực.

Các trường đại học hàng đầu thế giới (như Michigan State, UT Dallas, hay Breda University) đã tích hợp sâu các nội dung chuyển đổi số vào giảng dạy, bao gồm phân tích dữ liệu lớn, AI, tự động hóa kho hàng và mô phỏng chuỗi cung ứng. Tại Việt Nam, các chương trình đào tạo cũng bắt đầu có sự phân hóa rõ nét. Nhóm các trường kỹ thuật như Đại học Giao thông vận tải (UTC) hay Bách khoa tập trung vào hạ tầng, dữ liệu và mô phỏng, trong khi khối kinh tế như NEU, UEF lại nghiêng về quản trị, thương mại và xuất nhập khẩu.

Trong chương trình đào tạo, các môn học như "Phân tích dữ liệu chuỗi cung ứng" và "Mô hình hóa - Mô phỏng" đóng vai trò then chốt. Sinh viên không chỉ học lý thuyết mà còn được thực hành với các công cụ như R, AnyLogic để giải quyết các bài toán tối ưu hóa vận tải chặng cuối, vận hành kho hàng hay dự báo nhu cầu. Việc sử dụng các mô hình như Agent-based giúp mô phỏng chính xác các hành vi cá thể trong hệ thống logistics phức tạp.

Mặc dù các cơ sở đào tạo đã nỗ lực cung cấp nền tảng kiến thức về chuyển đổi số, thực tế vẫn tồn tại khoảng cách nhất định giữa nội dung giảng dạy và yêu cầu thực tế của doanh nghiệp. Đào tạo đại học cung cấp phương pháp luận và kiến thức nền tảng, buộc người học phải tiếp tục tự cập nhật và bổ sung kiến thức trong quá trình làm việc để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số ngày càng cao của ngành.

tham luan 1
TS. Nguyễn Văn Trường - Giảng viên Khoa Kinh tế vận tải, Trường Đại học Giao thông vận tải chia sẻ mô hình đào tạo 

Điều doanh nghiệp tìm kiếm và Bộ kỹ năng cần thiết cho sinh viên trong kỷ nguyên số

Nhấn mạnh khoảng cách giữa đào tạo và thực tế cũng như nhu cầu của doanh nghiệp đối với nhân lực logistics, bà Vũ Thị Thu Huyền - Giám đốc Chi nhánh Miền Bắc, Công ty Cổ phần Giải pháp Chuỗi cung ứng Smartlog cho biết: Ngành đang tăng trưởng mạnh (14-16%/năm) nhưng thiếu hụt trầm trọng nhân lực cả về số lượng và chất lượng. Dự kiến cần thêm 2 triệu lao động đến năm 2030, trong khi hiện nay chỉ 5-7% lao động được đào tạo bài bản, dẫn đến hơn 85% doanh nghiệp phải tự đào tạo lại.

Theo bà Huyền, 03 nhóm kỹ năng doanh nghiệp tìm kiếm hiện nay gồm: (i) Nền tảng chuyên môn: Vững quy trình logistics (vận tải, kho bãi, hải quan...), quản trị chuỗi cung ứng, tiếng Anh chuyên ngành và kiến thức tài chính cơ bản; (ii) Tư duy số và công nghệ: Biết thao tác trên các hệ thống TMS, WMS, ERP; có khả năng phân tích dữ liệu (Excel, Power BI); hiểu các xu hướng công nghệ mới như AI, IoT, tự động hóa; (iii) Tư duy giải quyết vấn đề: Có tư duy hệ thống, ra quyết định dựa trên dữ liệu, giao tiếp đa phòng ban và tinh thần học tập suốt đời.

Hiện vẫn còn khoảng cách giữa đào tạo và thực tế: Sinh viên thường giỏi lý thuyết nhưng thiếu kỹ năng thực hành trên hệ thống thật và kinh nghiệm phân tích dữ liệu vận hành. Việc thực tập đúng vai trò với dữ liệu thật có thể rút ngắn thời gian làm quen công việc từ 12 tháng xuống còn 3-4 tháng.

Diễn giả nhấn mạnh tầm quan trọng của tư duy làm chủ (Ownership), làm việc nhóm, chịu áp lực cao, thích nghi công nghệ, tư duy dựa trên dữ liệu (Data-driven) và tinh thần cải tiến liên tục (Kaizen); đồng thời đề xuất lộ trình 4 năm từ sinh viên đến chuyên gia với các hoạt động cụ thể như học nghiệp vụ, thực tập thực chiến, tham gia dự án chuyển đổi số và xây dựng danh mục dự án (portfolio) dữ liệu.

Về hợp tác Nhà trường - Doanh nghiệp, đại diện Smartlog đề xuất 4 hướng hợp tác gồm: mời chuyên gia giảng dạy case study, chương trình thực tập có cấu trúc, hỗ trợ đề tài khóa luận với dữ liệu thật và tổ chức workshop đào tạo công nghệ cho giảng viên.

Smartlog
Bà Vũ Thị Thu Huyền - Giám đốc Chi nhánh Miền Bắc, Công ty Cổ phần Giải pháp Chuỗi cung ứng Smartlog chia sẻ tại Chương trình

Một chia sẻ khác tại Chương trình thông tin, thị trường logistics Việt Nam đang tồn tại một sự mất cân đối lớn giữa số lượng doanh nghiệp và thị phần thực tế. Mặc dù các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) nội địa chiếm số lượng áp đảo (khoảng 90%), nhưng họ chỉ nắm giữ 30% thị phần dịch vụ. Ngược lại, khối ngoại gồm các doanh nghiệp FDI và liên doanh, dù chỉ chiếm số lượng ít, lại nắm giữ tới 70% thị phần nhờ lợi thế về quy mô và công nghệ vượt trội.

Có thể nói, ngành logistics đang chứng kiến hai "thế giới" vận hành song song với trình độ khác biệt. Các tập đoàn FDI đã thực hiện số hóa toàn phần, ứng dụng tự động hóa, AI và quản lý dữ liệu thời gian thực theo tiêu chuẩn toàn cầu. Trong khi đó, đa số SME Việt Nam vẫn quản lý thủ công qua Excel, Zalo, giấy tờ và một nhân viên thường phải kiêm nhiệm nhiều vị trí. Thực trạng cho thấy chỉ có 0,4% doanh nghiệp nội địa đạt mức độ tự động hóa toàn chuỗi.

Để giải quyết tình trạng sinh viên ra trường thiếu tính "sẵn sàng đi làm", diễn giả đưa ra ba đề xuất quan trọng cho các cơ sở đào tạo. Thứ nhất, cần đưa các phần mềm thực tế như TMS, WMS, ERP và dữ liệu thật vào giảng dạy. Thứ hai, yêu cầu thực tập có dự án thực tế tại các doanh nghiệp 3PL lớn hoặc FDI với kết quả được đo lường bằng KPI. Cuối cùng, cần coi tiếng Anh chuyên ngành và tư duy dữ liệu là những môn học bắt buộc để sinh viên có thể làm việc trực tiếp trong môi trường quốc tế.

Khuyến nghị cũng nhấn mạnh, sinh viên ngành logistics cần chuẩn bị một hệ thống kỹ năng đa diện để tham gia vào quá trình chuyển đổi số. Điều này bao gồm kỹ năng số và dữ liệu (như Excel nâng cao, SQL, BI); kiến thức về hệ thống phần mềm (TMS, WMS, ERP); kỹ năng con người để giao tiếp giữa bộ phận nghiệp vụ và IT; và tư duy chiến lược để đánh giá rủi ro, hiệu quả đầu tư cũng như cập nhật công nghệ liên tục.

tham luận
Bà Hà Thu Hoa - Giám đốc Điều hành Công ty Cổ phần Vận tải Hàng hải Quốc tế Việt Nam (VIMT), Giám đốc Phát triển Kinh doanh Công ty Transin Group chia sẻ tại Chương trình

Cùng với các tham luận, các diễn giả cùng các đại biểu đã có nhiều trao đổi thẳng thắn, chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn và các mô hình triển khai hiệu quả. Chương trình không chỉ mang đến nhiều góc nhìn mới về chuyển đổi số trong giáo dục mà còn mở ra thêm những cơ hội kết nối, hợp tác giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp.

y kien 1
y kien 2
y kien 3
y kien 4
y kien 5

Các diễn giả cùng các đại biểu trao đổi, thảo luận tại Chương trình

Chương trình Bàn tròn Giảng viên VALOMA số 04 tiếp tục khẳng định vai trò là diễn đàn kết nối đội ngũ giảng viên, chuyên gia và doanh nghiệp trong lĩnh vực Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng, góp phần thúc đẩy đổi mới đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành trong kỷ nguyên số.