Bảo đảm an ninh năng lượng - nền tảng cho niềm tin vào năng lực quản trị quốc gia trong kỷ nguyên vươn mình

Giữa những biến động của thị trường năng lượng toàn cầu, thực tiễn bảo đảm điện, xăng dầu và giữ ổn định hệ thống năng lượng thời gian qua đã minh chứng cho năng lực lãnh đạo, điều hành và khả năng ứng phó của Việt Nam trước các cú sốc từ bên ngoài. Qua đó, khẳng định vai trò của an ninh năng lượng như một nền tảng quan trọng củng cố niềm tin vào năng lực quản trị quốc gia trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tóm tắt bài viết: Trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu biến động mạnh bởi xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng và áp lực chuyển dịch xanh, bảo đảm an ninh năng lượng ngày càng trở thành vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự ổn định và phát triển quốc gia. Thông qua phân tích quá trình hình thành tư duy “đi trước một bước” trong phát triển năng lượng, bài viết làm rõ vai trò của ngành năng lượng trong xây dựng nền tảng tự chủ quốc gia, nâng cao năng lực quản trị và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc toàn cầu. Từ thực tiễn điều hành điện, xăng dầu và bảo đảm ổn định hệ thống năng lượng thời gian qua, bài viết khẳng định tính đúng đắn trong đường lối phát triển năng lượng của Đảng, đồng thời phản bác các quan điểm phủ nhận năng lực điều hành và quản trị quốc gia của Việt Nam trong bối cảnh phát triển mới.

Từ khóa: an ninh năng lượng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chuyển dịch năng lượng

Năm 2025-2026, thị trường năng lượng toàn cầu liên tục trải qua những biến động chưa từng có. Đặc biệt, xung đột địa chính trị leo thang tại khu vực Trung Đông những tháng đầu năm 2026 đã tác động trực tiếp lên chuỗi cung ứng năng lượng, gây rủi ro đứt gãy nguồn cung và đẩy giá dầu tăng mạnh. Tại một số khu vực trên thế giới, nguy cơ thiếu điện, thiếu xăng dầu lập tức hiện hữu; và lạm phát đối diện sức ép từ giá nhiên liệu cùng chi phí đầu vào tăng cao. Bài toán an ninh năng lượng vốn đã là ưu tiên của nhiều nền kinh tế, càng trở nên cấp thiết.

Đối với Việt Nam, áp lực cũng vô cùng rõ nét, khi nhu cầu điện tiếp tục tăng cao để đáp ứng quá trình mở rộng sản xuất, tăng trưởng tiêu dùng và phát triển các xu hướng mới như số hóa, điện hóa. Hệ thống điện quốc gia liên tiếp ghi nhận các kỷ lục mới về công suất phụ tải và sản lượng tiêu thụ, và được dự báo sẽ tiếp tục vượt ngưỡng. Trong khi đó, với độ mở kinh tế lớn và vẫn phụ thuộc một phần vào nguồn năng lượng nhập khẩu, Việt Nam chịu tác động trực tiếp từ những biến động của thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, giữa làn sóng khủng hoảng, Việt Nam vẫn duy trì được vận hành an toàn hệ thống điện, bảo đảm nguồn cung xăng dầu cho sản xuất và tiêu dùng, kiểm soát tốt mặt bằng giá, qua đó giữ ổn định các cân đối lớn của nền kinh tế.

Điều gì tạo nên năng lực ấy?

Từ tư duy “đi trước một bước” đến hành trình xây dựng nền tảng năng lượng quốc gia

Nhìn sâu vào lát cắt lịch sử, ngay từ những năm đầu đất nước giành được độc lập, các vấn đề về công nghiệp, tài nguyên và năng lượng đã sớm được đặt trong tầm nhìn phát triển quốc gia. Ngày 30/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký các Sắc lệnh 89-SL, 90-SL và 91-SL bãi bỏ việc giữ độc quyền tìm kiếm và khai thác mỏ của chính quyền thuộc địa trước đây tại một số khu vực và khuyến khích các doanh nghiệp người Việt tham gia hoạt động khai khoáng. Đặc biệt, tại Sắc lệnh số 90/SL, Chính phủ giao Bộ Kinh tế - tiền thân của Bộ Công Thương hiện nay - chỉ đạo công tác điều hành khai thác tại các khu mỏ này, phục vụ nhu cầu nguyên liệu đầu vào của nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất trên cả nước, bao gồm cả các xí nghiệp quân giới quan trọng phục vụ cho công cuộc kháng chiến. Đây chính là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy tư duy độc lập, tự chủ về nguồn cung nhiên liệu và an ninh năng lượng đã được Đảng, Nhà nước hình thành rất sớm và quán triệt sâu sắc.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Cộng sản Việt Nam, lần đầu tiên tư duy “phát triển điện lực đi trước một bước” được xác lập như một nhiệm vụ chủ yếu và chiến lược. Đi cùng với đó là loạt định hướng về phát triển nguồn - lưới điện; yêu cầu bảo đảm cung cấp điện và nhiên liệu cho các ngành sản xuất, phản ánh chủ trương nhất quán về xây dựng nền tảng năng lượng phục vụ công nghiệp hóa và tự chủ quốc gia.

Từ đây, dù trong giai đoạn gian khó hay giàu mạnh, dù trong chiến tranh hay hòa bình, hàng loạt các công trình điện lực, dầu khí, hạ tầng năng lượng… vẫn không ngừng hình thành, từng bước tạo dựng nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Song, nhìn rộng hơn, năng lượng chưa bao giờ chỉ là câu chuyện của điện, than hay xăng dầu. Đó là “hạ tầng của hạ tầng”, là nền tảng cho năng lực tự chủ quốc gia và cũng là thước đo cho tầm nhìn phát triển, năng lực quản trị của một đất nước trong bối cảnh biến động toàn cầu ngày càng phức tạp và cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Khác với nhiều lĩnh vực khác, năng lượng không thể chờ đến khi thiếu mới đầu tư. Một công trình điện lớn có thể mất hàng chục năm chuẩn bị và xây dựng, trong khi nếu thiếu điện xảy ra, tác động sẽ lan rộng tới toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, phát triển năng lượng luôn đòi hỏi tầm nhìn dài hạn, sự đồng bộ về quy hoạch, vốn, công nghệ, thể chế và năng lực điều hành qua nhiều giai đoạn. Hành trình của ngành năng lượng, vì thế, gắn với hành trình tích lũy tri thức, xây dựng năng lực quốc gia.

Hãy nhìn vào sự trưởng thành của năng lực nội sinh đất nước qua các công trình thủy điện: Nếu ở Thủy điện Thác Bà (khởi công năm 1964), Việt Nam gần như phụ thuộc hoàn toàn vào thiết kế, công nghệ và chuyên gia nước ngoài, thì đến Thủy điện Hòa Bình (khởi công năm 1979), đội ngũ kỹ sư và công nhân Việt Nam đã dần tiếp quản nhiều khâu quan trọng của công trường, từ tổ chức thi công đến xử lý các bài toán kỹ thuật phức tạp. Chính từ đại công trường sông Đà, một lực lượng kỹ thuật lớn của đất nước đã được đào tạo và trưởng thành.

Đến Thủy điện Ialy (khởi công năm 1993), đội ngũ kỹ sư Việt Nam không còn chỉ làm theo tư vấn nước ngoài mà đã bắt đầu chủ động tranh luận, phản biện và lựa chọn giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Những quyết định thay đổi công nghệ đào hầm, đẩy nhanh tiến độ thi công cho thấy tư duy “dám nghĩ, dám làm”, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của quốc gia.

Và tại Thủy điện Sơn La (khởi công năm 2005), Việt Nam đã tiến thêm một bước dài khi gần như tự làm chủ toàn bộ quá trình khảo sát, thiết kế, tổ chức thi công và vận hành công trình. Không chỉ làm chủ công nghệ, Việt Nam còn mạnh dạn đổi mới cơ chế thực hiện, áp dụng nhiều giải pháp sáng tạo để rút ngắn tiến độ, đưa công trình về đích sớm 3 năm, làm lợi cho Nhà nước khoảng 1,5 tỷ USD. Ngoài ý nghĩa kinh tế, dự án Thủy điện Sơn La cho thấy năng lực tổ chức thực hiện và khả năng làm chủ những công trình hạ tầng quy mô lớn của Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới.

Mỗi công trình năng lượng đều mang trong mình dấu ấn quyết sách quan trọng, phản ánh năng lực tổ chức thực hiện, khả năng làm chủ công nghệ và khát vọng công nghiệp hóa của đất nước qua từng thời kỳ. Chính tầm nhìn chiến lược và sự lãnh đạo xuyên suốt của Đảng đã tạo nền tảng để Việt Nam từng bước hình thành năng lực tự chủ năng lượng, nâng cao sức chống chịu và giữ vững ổn định trong bối cảnh thế giới nhiều biến động.

Trụ vững an ninh năng lượng trong khủng hoảng

Nếu trong giai đoạn trước, bài toán lớn nhất của ngành năng lượng là “làm sao có điện”, thì bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập, yêu cầu đặt ra ngày càng phức tạp hơn: làm sao để vừa bảo đảm đủ năng lượng cho tăng trưởng kinh tế, vừa nâng cao khả năng chống chịu của toàn hệ thống trước các biến động bên ngoài.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Bộ Công Thương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn ngành đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, chính sách và nâng cao năng lực điều hành trong lĩnh vực năng lượng. Nhiều cơ chế, chính sách quan trọng được tham mưu ban hành nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tạo cơ sở cho thúc đẩy phát triển điện, xăng dầu, dầu khí, than và các loại hình năng lượng then chốt, nâng cao khả năng ứng phó và sức chống chịu của hệ thống năng lượng trước các biến động mới.

Cùng với đó, ngành Công Thương cũng triển khai đồng bộ các giải pháp để bảo đảm các cân đối lớn cho nền kinh tế, nhất là an ninh năng lượng và cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu, nguyên vật liệu đầu vào..., song song việc tập trung đảm bảo tiến độ đầu tư, xây dựng các công trình nguồn điện, lưới điện trọng điểm.

Đầu năm 2026, khi xung đột tại Trung Đông leo thang, nguy cơ gián đoạn vận chuyển dầu thô qua eo biển Hormuz đẩy giá dầu thế giới tăng mạnh trong thời gian ngắn. Trong nước, nhu cầu điện tiếp tục tăng cao cùng quá trình phục hồi sản xuất công nghiệp, phát triển hạ tầng số và các ngành công nghệ cao. Việt Nam đứng trước áp lực kép: vừa phải bảo đảm đủ năng lượng cho sản xuất, đời sống và tăng trưởng kinh tế, vừa phải hạn chế tác động lan tỏa của biến động giá năng lượng tới lạm phát và thị trường trong nước.

Trong bối cảnh đó, xuất hiện những ý kiến lo ngại Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào năng lượng nhập khẩu, khả năng chống chịu của hệ thống còn hạn chế và chỉ cần biến động quốc tế kéo dài sẽ khó tránh khỏi khủng hoảng năng lượng trong nước. Thậm chí có ý kiến cho rằng quá trình chuyển dịch năng lượng và xây dựng tự chủ năng lượng ở Việt Nam mới dừng ở khẩu hiệu.

Thế nhưng, tình hình trong nước đã khẳng định điều ngược lại. Công tác điều hành năng lượng thể hiện bước chuyển rõ nét từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị biến động theo hướng chủ động hơn, với hàng loạt giải pháp linh hoạt nhằm giảm thiểu tác động của biến động năng lượng tới nền kinh tế. Thay vì chỉ phản ứng bị động theo tình huống thị trường, nhiều kịch bản điều hành được xây dựng trên cơ sở dự báo các tình huống rủi ro về nguồn cung và giá.

Điểm nhấn quan trọng là việc tham mưu Chính phủ thành lập Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng theo Quyết định số 385/QĐ-TTg ngày 04/3/2026. Đây là cơ chế phối hợp liên ngành cấp Chính phủ nhằm tăng cường theo dõi, dự báo, điều phối và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh liên quan đến an ninh năng lượng. Với vai trò cơ quan thường trực, Bộ Công Thương trực tiếp tham mưu, điều phối các giải pháp giữa các bộ, ngành và doanh nghiệp năng lượng chủ lực theo hướng tăng cường dự báo sớm, điều phối linh hoạt và hạn chế rủi ro trước các kịch bản bất lợi.

Công tác điều hành thị trường xăng dầu được triển khai như một “mặt trận trọng tâm”, với sự vào cuộc đồng bộ từ Trung ương đến Chính phủ và các bộ, ngành. Việc Bộ Chính trị ban hành các kết luận, định hướng lớn, trong đó có Kết luận số 14-KL/TW, đã tạo cơ sở cho việc chuyển từ tư duy phản ứng sang chủ động kiểm soát rủi ro, thông qua dự báo sớm, xây dựng kịch bản và sử dụng đồng bộ các công cụ chính sách nhằm bảo đảm nguồn cung, ổn định thị trường năng lượng.

Trên cơ sở đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương triển khai hàng loạt giải pháp điều hành linh hoạt, từ điều tiết thị trường xăng dầu, bảo đảm vận hành hệ thống điện đến giữ ổn định hoạt động của các nhà máy lọc dầu trong nước. Cùng với các giải pháp tài chính nhằm giảm áp lực chi phí và kìm đà tăng giá, cơ quan điều hành cũng thúc đẩy đa dạng hóa nguồn dầu thô, mở rộng quyền chủ động nhập khẩu và nâng cao tính linh hoạt của hệ thống năng lượng.

Xác định điện năng là “xương sống” của hệ thống năng lượng quốc gia, Bộ Công Thương đã chỉ đạo bảo đảm nhiên liệu cho phát điện, đồng thời xây dựng phương thức vận hành hệ thống điện năm 2026 theo hướng linh hoạt, chủ động, đáp ứng nhu cầu phụ tải tăng cao, đặc biệt trong các tháng cao điểm mùa khô. Công tác điều độ được triển khai theo hướng tối ưu huy động nguồn điện và tăng cường phối hợp giữa các khâu phát điện, truyền tải, phân phối nhằm nâng cao độ tin cậy vận hành.

Trong bối cảnh nguồn nhiên liệu nhập khẩu biến động mạnh, việc đa dạng hóa nguồn cung và phát triển các loại hình năng lượng mới tiếp tục được đẩy mạnh. Bộ Công Thương thúc đẩy điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, tháo gỡ khó khăn cho các dự án điện khí LNG, điện tái tạo; đồng thời đẩy nhanh các công trình truyền tải trọng điểm, mở rộng nhập khẩu điện từ Lào, nghiên cứu tái khởi động điện hạt nhân Ninh Thuận và triển khai hệ thống lưu trữ năng lượng nhằm nâng cao khả năng vận hành linh hoạt của hệ thống điện.

Những giải pháp này đi thẳng vào giải quyết bài toán trước mắt và góp phần nâng cao tính tự chủ và khả năng chống chịu của hệ thống năng lượng quốc gia trong dài hạn. Điều đó tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của đường lối bảo đảm an ninh năng lượng mà Đảng đã xác lập, đồng thời bác bỏ những quan điểm cho rằng Việt Nam thiếu năng lực quản trị và dễ bị động trước các cú sốc năng lượng toàn cầu.

Kết quả đạt được là rõ nét: trong khi nhiều quốc gia trong khu vực đối mặt với tình trạng gián đoạn nguồn cung hoặc giá tăng đột biến, Việt Nam vẫn duy trì được nguồn cung xăng dầu ổn định, mặt bằng giá ở mức hợp lý và đảm bảo cung cấp điện liên tục.

Tại Thái Lan, giá xăng đã vọt tăng chóng mặt, buộc Chính phủ phải vào cuộc trợ giá; Lào và Campuchia ghi nhận tình trạng đóng cửa nhiều cây xăng, còn Philippines phải tuyên bố tình trạng khó khăn. Ở một số nền kinh tế phát triển, doanh nghiệp thậm chí khuyến cáo người lao động làm việc từ xa để giảm nhu cầu đi lại.

Riêng Việt Nam vẫn giữ được giá xăng dầu ở mức trung bình và thấp hơn so với các nước có chung đường biên giới, thấp hơn trung bình thế giới khoảng 1,3 USD/lít. Theo số liệu cập nhật đến ngày 26/3/2026, giá xăng tại Việt Nam khoảng 24.332 đồng/lít, thấp hơn đáng kể so với Singapore (71.357 đồng/lít), Lào (47.682 đồng/lít), Campuchia (35.789 đồng/lít) hay Trung Quốc (34.827 đồng/lít). Đối với dầu diesel, giá tại Việt Nam khoảng 35.384 đồng/lít, thấp hơn nhiều nước trong khu vực.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ thực tiễn phát triển và điều hành năng lượng

Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong bối cảnh mới, yêu cầu này tiếp tục được đặt ra mạnh mẽ hơn cùng với nhiệm vụ nâng cao năng lực truyền thông chính trị hiện đại, kịp thời định hướng dư luận xã hội, nhất là trong các vấn đề phức tạp, nhạy cảm.

Đối với lĩnh vực năng lượng, trong bối cảnh không gian mạng ngày càng phát triển, các vấn đề liên quan đến điện, xăng dầu hay giá năng lượng rất dễ trở thành tâm điểm của các luồng thông tin trái chiều. Nhiều luận điệu xuyên tạc thường lợi dụng những vấn đề này để phủ nhận năng lực điều hành của Nhà nước, gây tâm lý hoang mang trong xã hội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, năng lực chống chịu của hệ thống năng lượng hôm nay không phải là kết quả hình thành trong ngắn hạn. Đó là thành quả của cả một quá trình tích lũy hạ tầng, thể chế, kinh nghiệm điều hành và năng lực quản trị quốc gia xuyên suốt qua nhiều giai đoạn phát triển.

Nếu nhìn một cách toàn diện và đặt trong bối cảnh chung của thế giới, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng và duy trì ổn định hệ thống. Trong khi nhiều quốc gia đối mặt với nguy cơ thiếu điện, gián đoạn nguồn cung nhiên liệu hay giá năng lượng tăng đột biến, hệ thống điện Việt Nam vẫn duy trì vận hành an toàn, ổn định ngay cả trong những thời điểm phụ tải lập kỷ lục mới. Từ một quốc gia thiếu điện kéo dài trong nhiều năm, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống điện có quy mô đứng đầu ASEAN và nằm trong nhóm các hệ thống điện có quy mô lớn trên thế giới. Chất lượng an ninh năng lượng được nâng cao theo hướng đa dạng, linh hoạt và tăng cường khả năng dự phòng.

Hàng loạt dự án nguồn điện, lưới điện và hạ tầng khí trọng điểm được thúc đẩy; các tuyến truyền tải 500kV tiếp tục giữ vai trò “xương sống” liên kết hệ thống. Các dự án LNG đầu tiên đi vào vận hành; điện tái tạo tiếp tục mở rộng; các dự án lưu trữ năng lượng, điện hạt nhân và điện gió ngoài khơi được chuẩn bị cho giai đoạn dài hạn. Nhờ những chuyển động này, Việt Nam dần hình thành một hệ sinh thái năng lượng hiện đại, linh hoạt và bền vững hơn.

Không một quốc gia nào có thể chỉ dựa hoàn toàn vào cơ chế thị trường tự phát để bảo đảm an ninh năng lượng, đặc biệt trong bối cảnh địa chính trị và chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục biến động. Từ quy hoạch hệ thống điện, phát triển hạ tầng truyền tải, điều hành thị trường năng lượng đến bảo đảm dự phòng chiến lược, vai trò điều phối nguồn lực, hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện ở quy mô quốc gia vẫn là yếu tố quyết định khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc từ bên ngoài.

Thực tiễn bảo đảm điện, xăng dầu và giữ ổn định thị trường năng lượng trong giai đoạn biến động vừa qua đã trở thành minh chứng rõ nét cho tư duy phát triển dài hạn, năng lực lãnh đạo, điều hành và khả năng tổ chức thực hiện của Đảng và Nhà nước; đồng thời bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò quản trị của Nhà nước trong phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hôm nay không thể dừng ở mặt trận lý luận hay việc phản bác các quan điểm sai lệch trên không gian mạng. Quan trọng hơn, đó còn là quá trình củng cố niềm tin xã hội bằng những điều rất cụ thể hiện hữu ngay trong đời sống: ánh đèn vẫn sáng trong mùa cao điểm nắng nóng, những dây chuyền sản xuất không bị ngắt quãng vì thiếu điện, người dân vẫn có thể mua xăng dầu ổn định và nền kinh tế vẫn duy trì nhịp vận hành giữa những biến động toàn cầu ngày càng phức tạp.

Sẵn sàng cho khát vọng vươn mình của dân tộc

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và phát triển các động lực tăng trưởng mới.

Trong định hướng đó, năng lượng là hạ tầng thiết yếu và là một trong những nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh và mức độ tự chủ của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới. Bảo vệ vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, vì thế, là nhiệm vụ then chốt.

Tinh thần này cũng được cụ thể hóa tại Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Công Thương thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, với mục tiêu phát triển công nghiệp hiện đại, bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển đồng bộ hạ tầng năng lượng, thương mại và logistics theo hướng tiệm cận nhóm đầu ASEAN, qua đó đóng góp tích cực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đảng ủy Bộ Công Thương tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo toàn ngành đảm bảo cung ứng điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và giảm tiêu hao năng lượng/GDP đạt 1-1,5%/năm; đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn và lưới điện trọng điểm trong Quy hoạch điện VIII, đồng thời xây dựng lộ trình chuyển đổi năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo một cách hợp lý, đảm bảo an ninh năng lượng đi đôi với giá thành phù hợp, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội.

Đáng chú ý, các văn kiện đều cho thấy một điểm nhất quán: chuyển dịch năng lượng cần gắn trực tiếp với quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng và tạo ra các động lực mới cho phát triển trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu “xác lập mô hình tăng trưởng mới”, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi năng lượng làm động lực chính cho phát triển.

Điều đó đồng nghĩa với việc ngành năng lượng trong giai đoạn tới phải hình thành được một hệ sinh thái đủ sức nâng đỡ cho các động lực phát triển mới của đất nước. Từ công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, hạ tầng số và kinh tế xanh đến các ngành công nghiệp mới như LNG, hydrogen, điện gió ngoài khơi hay lưu trữ năng lượng đều đòi hỏi một hệ thống năng lượng hiện đại, linh hoạt và có khả năng chống chịu cao. Đi cùng với đó là yêu cầu phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao phục vụ chuyển dịch năng lượng và công nghiệp hóa thế hệ mới.

Trong bối cảnh đó, nâng cao chất lượng an ninh năng lượng là bài toán tất yếu, cần sự chuyển dịch đồng bộ trên nhiều phương diện. Hệ thống điện cần tiếp tục được hiện đại hóa theo hướng thông minh hơn, linh hoạt hơn, với năng lực điều độ, dự báo và quản lý rủi ro ngày càng cao. Hạ tầng năng lượng cần được mở rộng về quy mô, gắn với tối ưu hóa để đáp ứng yêu cầu vận hành trong một hệ thống có tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng lớn. Song song là việc hoàn thiện các cơ chế thị trường, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và khuyến khích các chủ thể tham gia thị trường hành xử theo tín hiệu kinh tế, thay vì phụ thuộc vào các biện pháp hành chính.

Quan trọng hơn, an ninh năng lượng trong giai đoạn mới cần được đặt trong mối liên kết chặt chẽ với “chuyển đổi kép”: Xanh - Số, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Năng lượng không chỉ phục vụ tăng trưởng trong nước, mà còn là yếu tố quyết định để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về môi trường, phát thải và phát triển bền vững.

Đây cũng chính là sự tiếp nối của tư duy “điện lực đi trước một bước” trong điều kiện phát triển mới. Nếu trước đây năng lượng đi trước để phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, thì hôm nay năng lượng tiếp tục phải đi trước để mở đường cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Từ đó, an ninh năng lượng trong giai đoạn mới tiếp tục trở thành nền tảng quan trọng củng cố niềm tin vào năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện và quản trị quốc gia, đồng thời góp phần bồi đắp cơ sở xã hội, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Công Thương (2026), Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, truy cập tại: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/bo-chinh-tri-ban-bi-thu-ban-chap-hanh-trung-uong/dai-hoi-dang/lan-thu-iii.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, truy cập tại: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/bo-chinh-tri-ban-bi-thu-ban-chap-hanh-trung-uong/dai-hoi-dang/lan-thu-xiv.

Bộ Chính trị (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Bộ Chính trị (2020), Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết 70-NQ/TW ngày 20/08/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Chính phủ (2026), Nghị quyết số 36/NQ-CP ngày 06/3/2026 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 02 năm 2026.

Chính phủ (2026), Nghị quyết số 55/NQ-CP ngày 19/3/2026 sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Nghị quyết số 36/NQ-CP ngày 06 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 02 năm 2026.

Quốc hội (2024), Luật Điện lực số 61/2024/QH15 ngày 30/11/2024.

Thủ tướng Chính phủ (2023), Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII).

Thủ tướng Chính phủ (2026), Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 18/01/2026 về nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm cung ứng đủ điện phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân trong thời gian cao điểm năm 2026 và giai đoạn 2027-2030.

Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 385/QĐ-TTg ngày 04/3/2026 về việc thành lập Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng.

Thy Thảo