Công ty Cổ phần Vật tư Tổng hợp Thanh Hóa: Thương hiệu bền bỉ 50 năm qua ở Xứ Thanh

Ở Xứ Thanh có một thương hiệu mang tên “Vật tư tổng hợp” ra đời năm 1965, ghi dấu ấn sâu đậm trong những năm khói lửa của cuộc chiến tranh, trải qua những bước thăng trầm trong những năm đầu đổi mới,

Gắn kết sản xuất với thị trường


TCCT: Thưa ông, có thể nói Công ty Cổ phần Vật tư Tổng hợp Thanh Hóa là một trong những thương hiệu có bề dày lịch sử ở Xứ Thanh?

Ông Lê Ngọc Hạnh: Công ty Cổ phần Vật tư Tổng hợp Thanh Hóa tiền thân là Công ty Vật tư Tổng hợp Thanh Hóa được thành lập từ ngày 15/3/1965, trực thuộc liên hiệp cung ứng vật tư khu vực I - Bộ Vật tư, sau đó là Bộ Thương mại và nay là Bộ Công Thương.

Trong suốt những năm bão lửa chiến tranh mà Thanh Hóa là một trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ, cho đến khi thống nhất đất nước năm 1975, Công ty là điểm tựa và cầu nối trọng điểm trong việc cung cấp và trung chuyển vật tư sắt thép, xi măng, hóa chất, xăng dầu, than, vật liệu điện, phụ tùng ô tô... phục vụ cho chiến dịch giải phóng miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Khi bước vào thời kỳ đổi mới, Công ty gặp khá nhiều khó khăn trong giai đoạn khởi đầu của nền kinh tế thị trường. Là một đơn vị có bề dày truyền thống nhưng chuyển sang hạch toán kinh doanh thì không phù hợp, bộ máy già cỗi, tư duy sản xuất lạc hậu, nên Công ty sẵn sàng thực hiện chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước với hy vọng đón một luồng gió mới. Tuy nhiên lúc Công ty hoàn thành việc chuyển đổi mô hình hoạt động sang công ty cổ phần vào giữa năm 2006 thì niềm vui vẫn chưa thật sự trọn vẹn với một khoản dư nợ tài chính quá lớn, lên tới 77 tỷ đồng.

Tư tưởng người lao động chán nản, Công ty nợ lương công nhân lao động, các chủ nợ làm đơn gửi Tòa án Kinh tế tỉnh Thanh Hóa... Thêm nữa, do không hiểu bản chất của cổ phần hóa, nội bộ lại không đoàn kết. Đây là thời điểm khó khăn nhất, tiềm ẩn nguy cơ phá sản doanh nghiệp. Và đến ngày 29/10/2009, Tòa án Nhân dân tỉnh đã ra quyết định mở thủ tục phá sản Công ty Cổ phần Vật tư Tổng hợp Thanh Hóa.

Nhưng không thể để một thương hiệu có bề dày truyền thống của Bộ Công Thương, đóng trên địa bàn Xứ Thanh đi vào dĩ vãng, cũng như không thể bỏ mặc cho số phận 157 lao động đã từng đặt niềm tin vào mô hình hoạt động mới, vào ban lãnh đạo mới, Công ty đã chủ động đưa ra nhiều giải pháp đồng bộ, huy động mọi nguồn lực tài chính được trên 66 tỷ đồng đầu tư trực tiếp, cứu doanh nghiệp khỏi “án” phá sản.

Món nợ gần 77 tỷ đồng đã lấy đi của Công ty khá nhiều tâm lực để giải quyết, nhưng cũng cho Công ty một bài học kinh nghiệm quý giá: Hơn lúc nào hết phải gắn kết sản xuất với thị trường, cung ứng những sản phẩm mà thị trường cần. Bài học nằm lòng này đã theo suốt trong những năm Công ty phục hồi và phát triển.

Bởi vậy, sau 9 năm cổ phần hóa, với bao nhiêu thách thức khó khăn, đặc biệt năm 2012 là năm có nhiều diễn biến phức tạp: Suy thoái kép nền kinh tế toàn cầu đã tác động khó khăn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong cả nước nói chung; nhiều doanh nghiệp đã phải ngừng hoạt động và phá sản; nhưng với sự cố gắng, nỗ lực của Hội đồng quản trị, Ban lãnh đạo Công ty, tập thể CBCNV-LĐ cùng với bài học gắn kết sản xuất với thị trường đã giúp Công ty vượt qua thách thức và đã đạt được một số thành quả đáng khích lệ.

Và như thế, thương hiệu Vật tư Tổng hợp Thanh Hóa đã liền mạch 50 năm qua chưa bao giờ đứt đoạn.

Doanh thu hàng năm đều tăng trưởng: Năm 2006; 39 tỷ đồng, đến năm 2014 đạt 167 tỷ đồng. Dự kiến năm 2015, doanh thu đạt 450 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước từ 13,5 tỷ đồng đến 25 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân hàng năm từ 27% trở lên. Thu nhập bình quân của người lao động, năm khởi đầu cổ phần hóa 2006 là 1,6 triệu đồng/người/ tháng, đến nay đã đạt được 5,6 triệu đồng/người/tháng. Đầu tư mới 56,21 tỷ đồng.

TCCT: Xin ông nói rõ hơn về bài học gắn kết sản xuất với thị trường.


Ông Lê Ngọc Hạnh: Công ty luôn quan tâm và coi trọng công tác thị trường. Nắm bắt nhu cầu tinh bột sắn đang tăng cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu, năm 2010, Công ty đã đầu tư nâng cấp dây chuyền sản xuất và chế biến tinh bột sắn từ 60 tấn sản phẩm/ngày lên 150 tấn sản phẩm/ngày tại Công ty TNHH Chế biến nông lâm sản xuất khẩu Như Xuân, góp phần tăng doanh thu và hiệu quả thu hồi, mỗi năm làm lợi cho doanh nghiệp hàng tỷ đồng. Doanh thu hàng năm đạt trên 100 tỷ đồng, chiếm khoảng 2/3 tổng doanh thu hợp nhất.

Có thể kể thêm một số dự án đầu tư đã đánh trúng nhu cầu của thị trường: Tháng 6/2012, lãnh đạo Công ty trực tiếp đến gặp Tỉnh trưởng tỉnh Boli Khămsay - Lào, đề cập đến vấn đề hợp tác trong lĩnh vực chế biến tinh bột sắn. Ngay lập tức lời đề nghị được chấp thuận. Dự án dây chuyền chế biến tinh bột sắn xuất khẩu Lào - Việt tại bản Xốp Phuôn, huyện Khăm Cớt, tỉnh Boli Khămsay tổng vốn đầu tư 6 triệu USD, với diện tích 28,76 ha, năng suất 150 tấn/ngày được triển khai, khi đi vào hoạt động sẽ góp phần mở rộng nguồn cung, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng truyền thống lâu năm cũng như khách hàng mới. Đặc biệt đây là dự án đầy tính nhân văn, nhân kỷ niệm năm quốc tế Lào - Việt 2012.

Đến nay, thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty luôn ổn định; có lượng hàng dự trữ phù hợp để cân đối cung cầu, góp phần bình ổn thị trường và giá cả, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng, sốt giá làm ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp, người dân cung cấp nguyên liệu và người tiêu dùng.

Hoặc như dự án xây dựng phân xưởng chế biến phân vi sinh phức hợp tại nhà máy chế biến tinh bột sắn xuất khẩu, cung cấp phân bón cho bà con vùng nguyên liệu; dự án xây dựng nhà máy sản xuất gỗ dăm xuất khẩu, công suất 150.000 tấn/năm; tổng mức đầu tư 20 tỷ đồng, trang trại chăn nuôi sạch; hợp tác xã vận tải hàng hóa; Trung tâm Thương mại huyện Như Xuân, dự kiến sẽ mang lại doanh thu và lợi nhuận tốt cho Công ty v.v…

Mở rộng vùng nguyên liệu, đặt lợi ích nông dân lên hàng đầu

Nhà máy chế biến tinh bột sắn xuất khẩu Như Xuân

TCCT: Với 2 dự án sản xuất tinh bột sắn và chế biến nông lâm sản xuất khẩu, hẳn Công ty phải có nguồn nguyên liệu rộng lớn?

Ông Lê Ngọc Hạnh: Để có hiệu quả kinh doanh và phát triển bền vững, cùng với việc nâng công suất sản xuất và mở rộng ngành nghề chế biến nông, lâm sản xuất khẩu ở huyện Như Xuân hay xây nhà máy mới ở Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Công ty tập trung xây dựng mô hình liên minh công nông, phối hợp với bà con nông dân mở rộng vùng nguyên liệu, cử cán bộ kỹ thuật hướng dẫn kỹ thuật thâm canh, cung cấp phân bón vi sinh phức hợp, đưa giống sắn mới có năng suất cao vào trồng đại trà đem lại hiệu quả cao cho người dân. Giá cả nguyên liệu luôn được Công ty đặt lên hàng đầu, sức cạnh tranh cao, đảm bảo thu nhập tốt cho bà con vùng nguyên liệu; chế độ tài chính thanh quyết toán kịp thời để bà con có đủ nguồn vốn tái sản xuất.

TCCT: Trong quá trình thực hiện mô hình này, có khi nào bên này hay bên kia “lật kèo” không?

Ông Lê Ngọc Hạnh: (Cười lớn). Chẳng ai dại gì “lật kèo” cả. Là một doanh nghiệp chuyên kinh doanh các mặt hàng nông, lâm sản xuất khẩu, nguyên liệu chính do người dân trồng và cung cấp; ngoài mục đích sản xuất, kinh doanh, Công ty mong muốn có những đóng góp thiết thực trong việc xóa đói, giảm nghèo của tỉnh, nên chính sách của Công ty là xây dựng các vùng nguyên liệu, giúp nhiều nông dân thoát nghèo, trở thành những ông chủ giàu có. Công ty luôn chia sẻ lợi ích với nông dân, lợi ích doanh nghiệp bao giờ cũng đặt ở vị trí thứ 2. Có chỗ dựa trong dân chính là “chìa khóa” mở ra thành công của Công ty.

Do đó Công ty đưa ra cơ chế bảo hành giá cho người nông dân, theo đó, dù được mùa hay mất mùa, Công ty luôn đảm bảo thu mua nông sản cho bà con đúng giá cam kết. Nhờ thế, nông dân không còn chịu cảnh bị tư thương o ép giá đủ bề. Lợi ích mà Công ty mang đến khiến mỗi mùa thu mua, xe chở sắn lại xếp hàng dài hàng cây số để đợi nhập hàng cho Công ty.

Chữ tín - cốt lõi của thành công

TCCT: Từ khi cổ phần hóa năm 2006 đến nay, Công ty không ngừng lớn mạnh, các chỉ tiêu chủ yếu như doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, thu nhập người lao động tăng trưởng qua từng năm, xin ông cho biết kinh nghiệm thành công của Công ty?

Ông Lê Ngọc Hạnh: Tôi nghĩ, ở một nền kinh tế ngày càng mở như nước ta, thị trường công bằng với tất cả những ai tham gia, nên trước hết mỗi doanh nghiệp cần có sự chuẩn bị tốt về cơ sở vật chất, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giá sản phẩm phù hợp, đảm bảo sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu và đặt chữ tín lên hàng đầu, đó là chìa khóa cốt lõi cho sự thành công.

Thứ hai, trong quá trình sản xuất, kinh doanh Công ty luôn quan tâm và coi trọng công tác thị trường; nắm bắt tốt thị trường luôn là cơ hội đem lại sự thành công, đặc biệt với những sản phẩm, dịch vụ mũi nhọn. Thông tin về giá trên thị trường trong nước và xuất khẩu luôn được Công ty theo dõi, cập nhật hàng ngày, và đây là cơ sở cho việc quyết định đầu tư những dự án trọng điểm đánh trúng nhu cầu của thị trường.

Thứ ba, có chính sách đãi ngộ thỏa đáng với người lao động và các đối tác bạn hàng. Đây là con đường phát triển bền vững đối với mỗi doanh nghiệp.

Cuối cùng, tùy thuộc vào thực lực cụ thể của mình, doanh nghiệp nên nắm bắt tốt từng cơ hội mở rộng phạm vi hoạt động sao cho phù hợp với qui mô và vị thế của doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy cải tiến mô hình hoạt động và cơ chế quản lý ngày càng tốt hơn.

TCCT: Xin cảm ơn ông!