Giá tiêu hôm nay ngày 2/11/2026 tại thị trường trong nước
Giá tiêu hôm nay tại một số vùng trồng trọng điểm đi ngang, qua đó duy trì mặt bằng giá tiêu trong nước ở mức từ 134.000 - 136.500 đồng/kg. Cụ thể:
Tại khu vực Tây Nguyên, giá tiêu tại tỉnh Đắk Lắk đi ngang, hiện ở mức 136.500 đồng/kg. Giá tiêu tại tỉnh Gia Lai đi ngang, hiện ở mức 134.000 đồng/kg. Giá tiêu tại tỉnh Lâm Đồng đi ngang, hiện ở mức 135.500 đồng/kg.
Tại khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu ở TP. Hồ Chí Minh đi ngang, hiện ở mức 134.500 đồng/kg; giá tiêu tại tỉnh Đồng Nai đi ngang, hiện ở mức 134.000/kg.
Lưu ý: Các giá trên chỉ mang tính chất tham khảo, mức giá thực tế sẽ có sự chênh lệch theo từng địa phương, phương thức vận chuyển, phương thức thanh toán, khối lượng giao dịch…Quý độc giả vui lòng liên hệ đến các doanh nghiệp, đại lý kinh doanh hồ tiêu gần nhất để được tư vấn cụ thể.

Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại và Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dẫn số liệu thống kê từ Cục Hải quan cho biết, tháng 9/2026, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam đạt 25,15 nghìn tấn, trị giá 163,5 triệu USD, tăng 10,6% về lượng và 10,8% về trị giá so với tháng 8/2026. So với tháng 9/2025, lượng xuất khẩu tăng 23,4% và trị giá tăng 20,4%.
Tính chung 9 tháng năm 2026, lượng hạt tiêu xuất khẩu đạt 216,66 nghìn tấn, với kim ngạch 1,41 tỷ USD, lần lượt tăng 16,2% và 11,4% so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kim ngạch thấp hơn tốc độ tăng trưởng sản lượng cho thấy yếu tố giá chưa tạo được động lực tương xứng cho hoạt động xuất khẩu. Cụ thể, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu trong tháng 9/2026 đạt 6.501 USD/tấn, tăng nhẹ 0,1% so với tháng trước nhưng giảm 2,5% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 9 tháng, giá xuất khẩu bình quân đạt 6.509 USD/tấn, giảm 4,1%.
Về thị trường, Hoa Kỳ tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu trong cơ cấu xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam. Trong tháng 9/2026, xuất khẩu sang thị trường này đạt 6,60 nghìn tấn, trị giá 46,16 triệu USD, tăng lần lượt 44% về lượng và 39,5% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, xuất khẩu hạt tiêu sang Hoa Kỳ đạt 52,74 nghìn tấn, chiếm 24,34% tổng lượng xuất khẩu, tăng so với tỷ trọng 22,40% của cùng kỳ năm 2025. Lượng xuất khẩu tăng 26,3%, trị giá tăng 21,4%.
Bên cạnh Hoa Kỳ, một số thị trường ghi nhận tăng trưởng tích cực về lượng trong 9 tháng như Thổ Nhĩ Kỳ tăng 84,3%, Thái Lan tăng 58,5%, Hà Lan tăng 20,6%, Ai Cập tăng 19,3% và Philippines tăng 16,4%.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu sang Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất giảm 26,4%, Ấn Độ giảm 20,8%, Đức giảm 15% và Anh giảm 14,1% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này cho thấy nhu cầu tại các thị trường nhập khẩu chưa phục hồi đồng đều.
Trong bối cảnh giá xuất khẩu bình quân giảm, việc nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh chế biến sâu, đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và phát triển bền vững sẽ là những yếu tố quan trọng giúp ngành hồ tiêu Việt Nam nâng cao giá trị xuất khẩu. Đồng thời, doanh nghiệp cần tiếp tục đa dạng hóa thị trường, tận dụng cơ hội tại các thị trường có nhu cầu tăng trưởng để duy trì đà xuất khẩu trong những tháng cuối năm 2026.
Theo dõi giá tiêu được cập nhật hàng ngày trên Tạp chí Công Thương tại đây.
Giá tiêu hôm nay ngày 2/11/2026 trên thị trường thế giới
Trên thị trường thế giới, dựa trên báo giá của các doanh nghiệp xuất khẩu và giá xuất cảng tại các nước, Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cập nhật giá tiêu mới nhất ngày 2/11/2026 so với ngày trước đó. Cụ thể như sau:
Giá tiêu đen Lampung của Indonesia đi ngang, đạt 6.800 USD/tấn. Tương tự, giá tiêu trắng Muntok đi ngang so với ngày trước đó, đạt 9.286 USD/tấn.
Giá tiêu đen ASTA 570 của Brazil ổn định, hiện ở mức 5.800 USD/tấn.
Giá tiêu đen ASTA của Malaysia đi ngang ở mức 9.100 USD/tấn. Ngoài ra, giá tiêu trắng ASTA của nước này cũng đi ngang, đạt 12.000 USD/tấn.
Giá tiêu các loại của Việt Nam ổn định, trong đó, giá tiêu đen của Việt Nam loại 500 gr/l đạt 5.950 USD/tấn; loại 550 gr/l đạt 5.995 USD/tấn; giá tiêu trắng của Việt Nam đạt 8.450 USD/tấn.
