TCCT: Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EFTA trong bối cảnh hiện nay?
PGS.TS Ngô Trí Long: Trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều bất định, cạnh tranh thương mại gia tăng, chuỗi cung ứng toàn cầu đang được tổ chức lại, việc Việt Nam ký kết FTA với EFTA có ý nghĩa kinh tế và chiến lược quan trọng.
Sau 14 năm với 21 vòng đàm phán chính thức, hai bên đã tuyên bố kết thúc đàm phán ngày 2/7/2026. Kết quả này thể hiện nỗ lực hội nhập bền bỉ, đồng thời khẳng định định hướng đa dạng hóa thị trường, đối tác và giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.
EFTA gồm Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein. Tuy quy mô dân số không lớn, đây là những nền kinh tế có sức mua cao, trình độ công nghệ tiên tiến và năng lực tài chính mạnh.
Điểm đáng chú ý là cơ cấu kinh tế giữa Việt Nam và EFTA có tính bổ sung lớn. Việt Nam có lợi thế về năng lực sản xuất, chế biến, nông sản và hàng tiêu dùng. Trong khi đó, EFTA nổi bật về tài chính, dược phẩm, công nghiệp chính xác, công nghệ biển, năng lượng sạch và quản trị hiện đại. Sự bổ sung này tạo cơ hội hợp tác vượt ra ngoài hoạt động mua bán hàng hóa, hướng tới liên kết sản xuất, đầu tư, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo EFTA, năm 2025, thương mại hàng hóa hai chiều đạt 4,8 tỷ EUR, Việt Nam xuất siêu 2,5 tỷ EUR, tăng đáng kể so với mức xuất siêu 0,5 tỷ EUR một thập kỷ trước. Số liệu này không bao gồm thương mại vàng của Thụy Sĩ.
Những con số đó cho thấy quan hệ thương mại đã có nền tảng tích cực, song quy mô hợp tác vẫn còn dư địa phát triển. Theo tôi, ý nghĩa chiến lược của Hiệp định chính là mở rộng không gian thị trường trong điều kiện thương mại quốc tế ngày càng khó dự báo. Đa dạng hóa thị trường không chỉ để bán thêm hàng, mà quan trọng hơn là nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước biến động bên ngoài.
TCCT: Các cam kết mở cửa thị trường được kỳ vọng sẽ tạo thêm cơ hội cho hàng hóa Việt Nam. Theo ông, doanh nghiệp cần nhìn nhận cơ hội này như thế nào?
PGS.TS Ngô Trí Long: Điểm hấp dẫn trực tiếp của FTA là mở rộng khả năng tiếp cận thị trường thông qua ưu đãi thương mại.
Theo thông tin từ Bộ Công Thương, các nước EFTA cam kết tự do hóa ngay trên 90% số dòng thuế, bao phủ khoảng 99,5% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang khối. Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan đối với trên 86% số dòng thuế, tương ứng 99,9% kim ngạch nhập khẩu từ EFTA, theo các lộ trình cam kết.
Đáng chú ý, đối với hàng công nghiệp và thủy sản có xuất xứ Việt Nam, EFTA cam kết tiếp tục duy trì việc xóa bỏ thuế nhập khẩu khi Hiệp định có hiệu lực. Đây là điều kiện thuận lợi cho các ngành dệt may, da giày, điện tử, thủy sản, máy móc và một số nông sản mở rộng thị trường.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận tỉnh táo: Ưu đãi thuế quan tạo điều kiện tiếp cận thị trường, nhưng không đồng nghĩa với việc hàng hóa đương nhiên bán được nhiều hơn. Thậm chí, với những sản phẩm vốn đã được hưởng thuế suất thấp hoặc bằng không, lợi ích mới từ giảm thuế có thể không lớn như tỷ lệ dòng thuế được công bố.
Rào cản thực sự nằm ở chất lượng, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc và năng lực tham gia chuỗi phân phối.
Chẳng hạn, cà phê Việt Nam có thể mở rộng thị trường, nhưng nếu chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thì phần lớn giá trị gia tăng vẫn thuộc về khâu chế biến, thương hiệu và phân phối ở nước ngoài. Tương tự, thủy sản muốn thâm nhập sâu hơn phải đáp ứng nghiêm ngặt yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.
Vì vậy, cơ hội thực chất không phải chỉ là xuất khẩu nhiều hơn, mà là xuất khẩu những sản phẩm có giá trị cao hơn. Nếu tiếp tục cạnh tranh chủ yếu bằng giá rẻ và gia công, Việt Nam khó tận dụng đầy đủ tiềm năng của thị trường EFTA.
Ngược lại, nếu đầu tư công nghệ, xây dựng thương hiệu và nâng cao chất lượng, Hiệp định có thể trở thành động lực thúc đẩy chuyển dịch từ xuất khẩu số lượng sang xuất khẩu giá trị.
TCCT: Bên cạnh thương mại, ông cho rằng đâu là lợi ích chiến lược dài hạn mà Hiệp định có thể mang lại cho Việt Nam?
PGS.TS Ngô Trí Long: Theo tôi, tác động đáng kỳ vọng nhất của FTA Việt Nam - EFTA không chỉ nằm ở thương mại mà còn ở khả năng thu hút nguồn vốn, công nghệ và tri thức quản trị chất lượng cao.
Số liệu được Bộ Công Thương công bố cho thấy, tính đến cuối năm 2025, Thụy Sĩ có 234 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam, tổng vốn đăng ký trên 2,4 tỷ USD. Na Uy có 62 dự án, với tổng vốn đăng ký khoảng 201,57 triệu USD.
Đây là nền tảng hợp tác đáng chú ý, nhưng vẫn còn khoảng cách giữa tiềm năng công nghệ, tài chính của EFTA với quy mô đầu tư hiện có tại Việt Nam.
Thụy Sĩ có thế mạnh về công nghiệp chính xác, tài chính, dược phẩm, chế biến thực phẩm. Na Uy có kinh nghiệm về hàng hải, điện gió ngoài khơi và nuôi trồng thủy sản. Iceland nổi bật về năng lượng địa nhiệt và công nghệ chế biến thủy sản. Những lĩnh vực này phù hợp với nhu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng của Việt Nam, nhất là phát triển công nghiệp công nghệ cao, kinh tế biển, năng lượng sạch và chế biến sâu.
Tuy nhiên, không nên đánh giá thành công của Hiệp định bằng số vốn FDI đăng ký tăng thêm, mà phải xem nguồn vốn đó tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng, chuyển giao công nghệ và năng lực sản xuất mới cho doanh nghiệp Việt Nam.
Một dự án đầu tư chỉ thực sự có ý nghĩa dài hạn khi kéo theo doanh nghiệp cung ứng trong nước, đào tạo lao động kỹ thuật và giúp Việt Nam tham gia những công đoạn có giá trị cao hơn. Ngược lại, nếu chỉ thu hút các dự án lắp ráp, gia công, nhập khẩu phần lớn đầu vào, mức độ lan tỏa sang nền kinh tế sẽ bị hạn chế.
Do đó, cần chuyển từ tư duy thu hút vốn bằng mọi giá sang lựa chọn đầu tư theo chất lượng, công nghệ và hiệu quả lan tỏa. FTA tạo khuôn khổ thuận lợi, nhưng năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp trong nước mới quyết định hiệu quả cuối cùng.
TCCT: Khi thị trường mở cửa sâu hơn, sức ép cạnh tranh cũng sẽ gia tăng. Theo ông, Việt Nam cần tập trung vào những nhiệm vụ nào để biến các cam kết hội nhập thành năng lực cạnh tranh thực chất?
PGS.TS Ngô Trí Long: Cơ hội lớn luôn đi kèm sức ép cạnh tranh. Doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đáp ứng tiêu chuẩn cao hơn, trong khi hàng hóa và dịch vụ từ EFTA có điều kiện tiếp cận thuận lợi hơn với thị trường trong nước theo các cam kết cụ thể.
Vấn đề đặt ra không phải là có nên mở cửa mạnh hơn, mà là làm thế nào để doanh nghiệp Việt Nam đủ sức cạnh tranh khi thị trường mở cửa.
Theo tôi, cần tập trung vào bốn nhiệm vụ then chốt.
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi Hiệp định minh bạch, hiệu quả. Cần sớm hướng dẫn cụ thể về biểu thuế, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục hưởng ưu đãi sau khi Hiệp định có hiệu lực. Đặc biệt, phải giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận thông tin với chi phí thấp.
Thứ hai, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, đổi mới công nghệ và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Chính sách xúc tiến thương mại cần chuyển từ hỗ trợ tìm kiếm đơn hàng sang phát triển thương hiệu, kết nối chuỗi cung ứng và nâng cao giá trị sản phẩm.
Thứ ba, gắn thu hút đầu tư với phát triển công nghiệp hỗ trợ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Cần khuyến khích doanh nghiệp EFTA liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, phát triển nhà cung cấp nội địa và hợp tác đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.
Thứ tư, đánh giá hiệu quả FTA bằng chất lượng tăng trưởng, không chỉ bằng kim ngạch xuất nhập khẩu. Các chỉ tiêu cần theo dõi gồm tỷ lệ tận dụng ưu đãi, giá trị gia tăng nội địa, số doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng và mức độ tiếp nhận công nghệ mới.
Đặc biệt, cần tránh tư duy coi ký kết Hiệp định là đã hoàn thành nhiệm vụ hội nhập. Ký kết mới chỉ là bước khởi đầu; năng lực thực thi và khả năng tận dụng của doanh nghiệp mới quyết định thành công.
TCCT: Vậy đâu là kỳ vọng lớn nhất của ông đối với FTA Việt Nam - EFTA trong thời gian tới?
PGS.TS Ngô Trí Long: Tôi kỳ vọng FTA Việt Nam - EFTA sẽ tạo ra ba chuyển biến: mở rộng xuất khẩu vào những thị trường có sức mua cao; thu hút đầu tư gắn với công nghệ tiên tiến; và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhưng những kết quả đó không tự động xuất hiện sau lễ ký kết. Chúng phụ thuộc vào chất lượng thể chế, năng lực doanh nghiệp và sự chủ động trong tổ chức thực thi.
Giá trị lớn nhất của FTA Việt Nam - EFTA không phải là Việt Nam có thêm một thị trường để bán hàng, mà là có thêm động lực để thay đổi cách sản xuất, cách cạnh tranh và cách tham gia nền kinh tế thế giới.
Nếu chỉ tận dụng ưu đãi thuế quan, lợi ích chủ yếu sẽ dừng ở thương mại. Nhưng nếu kết hợp mở cửa thị trường với đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và phát triển doanh nghiệp nội địa, Hiệp định có thể góp phần tạo bước chuyển về chất trong mô hình tăng trưởng.
Thành công của FTA không chỉ đo bằng xuất khẩu tăng bao nhiêu, mà quan trọng hơn là năng lực cạnh tranh và vị thế nền kinh tế Việt Nam được nâng lên đến đâu. Đó mới là thước đo có ý nghĩa lâu dài của một hiệp định thương mại tự do trong giai đoạn phát triển mới.
TCCT: Xin trân trọng cảm ơn ông!
