{Emagazine} Đạm Phú Mỹ: Quản trị môi trường đến từng sản phẩm
12/10/2026 lúc 10:14 (GMT)

{Emagazine} Đạm Phú Mỹ: Quản trị môi trường đến từng sản phẩm

 

Với một nhà máy sản xuất hàng trăm nghìn tấn phân bón và hóa chất mỗi năm, bảo vệ môi trường không chỉ dừng ở xử lý chất thải sau sản xuất. Tại Đạm Phú Mỹ, cách tiếp cận đang đi sâu hơn vào từng khâu vận hành: phân tách và kiểm soát nguồn thải, tuần hoàn một phần dòng nước, thu hồi CO₂, giảm tiêu hao năng lượng và gần đây là lượng hóa phát thải đến từng sản phẩm. Việc liên tiếp được Viện Tiêu chuẩn Anh (BSI) xác minh theo ISO 14064-1:2018 và ISO 14067:2018 vì thế là bước tiếp theo của một quá trình quản trị môi trường đã được xây dựng qua nhiều năm.

Ở góc độ sản xuất, ý nghĩa của hai mốc này không chỉ nằm ở việc bổ sung thêm các chuẩn mực quốc tế. Quan trọng hơn, chúng cho thấy quản trị môi trường tại Đạm Phú Mỹ đang đi từ kiểm soát nguồn thải sang lượng hóa phát thải và truy vết carbon đến cấp sản phẩm.

Đạm Phú Mỹ
 

Năm 2025, Nhà máy Đạm Phú Mỹ sản xuất gần 575.000 tấn ammonia, hơn 889.000 tấn urê, trên 203.000 tấn NPK và gần 12.500 tấn UFC85. Cùng năm, Nhà máy sử dụng khoảng 585 triệu m³ khí thiên nhiên, gần 187 triệu kWh điện và hơn 863.000 m³ nước cấp. Ở quy mô đó, một thay đổi nhỏ về định mức cũng có thể tạo ra khác biệt đáng kể về chi phí, sử dụng tài nguyên và lượng phát thải.

 

Đạm Phú Mỹ

Đạm Phú Mỹ đã sớm tiếp cận quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế. Từ năm 2008, DNV (tổ chức đánh giá, chứng nhận quốc tế có trụ sở tại Na Uy) đã đánh giá và cấp chứng nhận hệ thống quản lý tích hợp của PVFCCo, trong đó có hệ thống quản lý môi trường ISO 14001. Hệ thống này được đánh giá duy trì hằng năm và tái chứng nhận theo chu kỳ 3 năm; năm 2024, DNV tiếp tục thực hiện đợt tái chứng nhận. Chứng nhận ISO 14001:2015 hiện có hiệu lực từ tháng 1/2025 đến tháng 1/2028.

Tuy nhiên, giá trị của một hệ thống quản lý môi trường không nằm ở chứng chỉ, mà ở việc nó được đưa xuống dây chuyền như thế nào. Điều này thể hiện khá rõ ở hệ thống quản lý nước thải.

Đạm Phú Mỹ

Thay vì gom tất cả các dòng về một điểm rồi xử lý theo cùng một công nghệ, Nhà máy phân tách theo nguồn phát sinh và tính chất của từng loại. Nước phát sinh từ sinh hoạt, nước nhiễm dầu, nước thải lò hơi, nước thải từ phân xưởng UFC85/Formaldehyde hay NPK có đặc tính khác nhau nên không được xử lý theo một cách duy nhất. Nhà máy tổ chức phân tách theo từng nguồn phát sinh và hiện có 10 công trình, thiết bị xử lý nước thải tương ứng với các dòng thải khác nhau.

Đáng chú ý, một số dòng nước sau xử lý được đưa trở lại phục vụ sản xuất. Nước rửa ngược của hệ thống lọc nước sông sau lắng được tuần hoàn cho hệ thống làm mát. Nước từ hệ thống khử khoáng sau trung hòa cũng được tái sử dụng cho mục đích này. Tại phân xưởng NPK, nước từ tháp rửa khí được xử lý rồi quay lại tháp rửa, phần bã bùn được đưa trở lại quá trình sản xuất phân bón.

Với khí thải, Nhà máy quản lý theo từng nguồn từ UFC85/Formaldehyde, dây chuyền NPK, các thiết bị lọc bụi, lò hơi đến reformer sơ cấp. Đối với tháp tạo hạt, do đặc thù kết cấu chưa phù hợp để lắp hệ thống quan trắc tự động theo hướng dẫn hiện hành, tần suất quan trắc định kỳ được nâng từ 4 lên 12 lần mỗi năm. Kết quả quan trắc định kỳ năm 2025 cho thấy các thông số được phân tích tại những vị trí quan trắc nằm trong giới hạn quy chuẩn áp dụng.

Đạm Phú Mỹ

Quản lý chất thải cũng đi theo nguyên tắc kiểm soát từ nguồn. Chất thải rắn công nghiệp thông thường được phân loại, tập kết tại khu vực lưu giữ riêng trước khi chuyển cho đơn vị có chức năng. Năm 2025, tổng khối lượng nhóm này khoảng 1.588 tấn. Với chất thải nguy hại, việc phân loại được thực hiện ngay tại nơi phát sinh, sau đó tập kết tại khu lưu giữ có mái che, hệ thống thu chất lỏng, thông gió và thiết bị phòng cháy. Tổng lượng chất thải nguy hại trong năm khoảng 146 tấn.

Những công việc này không mới, nhưng việc chúng được duy trì ổn định mới là điều quyết định. Bởi quản trị môi trường trong một nhà máy vận hành liên tục không nằm ở một chiến dịch ngắn hạn. Nó được hình thành từ hàng trăm quy trình nhỏ được thực hiện lặp lại mỗi ngày: một van được kiểm tra đúng thời điểm, một dòng nước được thu hồi, một thiết bị tiêu hao năng lượng được điều chỉnh, một loại chất thải được phân đúng ngay khi phát sinh.

Chỉ khi những việc đó trở thành kỷ luật vận hành, các chỉ tiêu môi trường mới có khả năng cải thiện một cách bền vững.

Đạm Phú Mỹ

Nếu quản lý nước thải, khí thải và chất thải giúp kiểm soát tác động ra bên ngoài, bước khó hơn là giảm tác động ngay từ bên trong dây chuyền. Với ngành sản xuất ammonia và urê, nơi tiêu thụ nhiều năng lượng, hiệu quả môi trường gắn rất sát với hiệu quả công nghệ.

Một ví dụ có từ khá sớm là hệ thống thu hồi CO₂ từ khói thải của primary reformer. Hồ sơ môi trường của Nhà máy cho thấy công trình này đã được cơ quan quản lý xác nhận hoàn thành từ năm 2010. CO₂ sau thu hồi được đưa vào phục vụ sản xuất, thay vì chỉ được nhìn như một dòng khí cần xử lý. Trong bối cảnh hiện nay, khi carbon đã trở thành một chỉ số quản trị, giá trị của giải pháp này càng rõ: giảm phát thải và tận dụng nguyên liệu có thể nằm trong cùng một bài toán kỹ thuật.

Đạm Phú Mỹ

Nhiều giải pháp tiết kiệm năng lượng cũng không mang tên một dự án môi trường nhưng tác động trực tiếp tới phát thải. Theo PVFCCo-Phú Mỹ, tối ưu hệ thống nước làm mát giúp tiết kiệm khoảng 7 triệu kWh điện mỗi năm; chủ động dừng máy nén khi không cần thiết có thể tiết giảm thêm khoảng 3,2 triệu kWh. Cùng với đó là hệ thống điều khiển tiên tiến APC tại xưởng Ammonia, tận dụng nhiệt thừa, lắp biến tần và giảm tổn hao trên hệ thống điện - nhiệt.

Năm 2025, PVFCCo-Phú Mỹ cho biết đã tiết kiệm gần 598.000 MMBTU năng lượng, đưa mức độ tiêu thụ năng lượng giảm 11,2% so với năm 2023. Trong một dây chuyền quy mô lớn, phần năng lượng không phải sử dụng cũng đồng nghĩa với một phần phát thải không hình thành.

Đạm Phú Mỹ

Đạm Phú Mỹ bắt đầu thực hiện kiểm kê khí nhà kính từ năm 2022. Đến kỳ kiểm kê năm 2025, phạm vi được mở rộng sang cả Scope 3, tức những nguồn phát thải gián tiếp trong chuỗi giá trị như nguyên liệu, vận chuyển và một số hoạt động xử lý chất thải.

Ngày 22/7/2026, PVFCCo-Phú Mỹ được cấp chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn ISO 14064-1:2018 cho Báo cáo kiểm kê khí nhà kính năm 2025 của Nhà máy Đạm Phú Mỹ. Tổng lượng phát thải trong phạm vi xác minh là 813.433 tấn CO₂e; trong đó Scope 3 chiếm hơn 248.000 tấn CO₂e.

Ngày 21/9/2026, BSI cấp Ý kiến xác minh số GPCF 846660 đối với Báo cáo Dấu chân carbon sản phẩm của Nhà máy Đạm Phú Mỹ cho kỳ báo cáo năm 2025. Báo cáo được thẩm định độc lập theo ISO 14067:2018 với mức đảm bảo hợp lý và mức trọng yếu 5%.

Để xây dựng Báo cáo Dấu chân carbon sản phẩm năm 2025, Nhà máy Đạm Phú Mỹ đã xác định phạm vi tính toán cho từng dòng sản phẩm với đơn vị tính là một tấn sản phẩm không bao bì; thu thập dữ liệu phát thải ở các giai đoạn nguyên vật liệu, vận chuyển và sản xuất theo các phương pháp luận, cơ sở dữ liệu được công nhận quốc tế. Báo cáo sau đó được các chuyên gia BSI thẩm định độc lập theo ISO 14067:2018 và các tiêu chuẩn liên quan.

Đạm Phú Mỹ

Muốn giảm phát thải, trước hết phải đo được phát thải. Khi biết lượng phát thải gắn với từng sản phẩm và phát sinh chủ yếu ở đâu, PVFCCo-Phú Mỹ có thêm cơ sở để tối ưu sử dụng nguyên liệu, năng lượng, công nghệ và hiệu quả vận hành.

Bên cạnh giá trị đối với hoạt động sản xuất, dữ liệu dấu chân carbon ngày càng có ý nghĩa đối với khách hàng và thị trường. Khả năng cung cấp dữ liệu được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế và xác minh độc lập góp phần nâng cao tính minh bạch, đồng thời tạo nền tảng để PVFCCo-Phú Mỹ đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đối tác về thông tin và truy vết carbon của sản phẩm.

Kết quả CFP theo từng dòng sản phẩm cũng giúp Tổng công ty nhận diện rõ hơn các nguồn phát thải trong chuỗi giá trị để xây dựng các giải pháp cải tiến phù hợp. Đây là cơ sở để PVFCCo-Phú Mỹ từng bước gia tăng giá trị xanh cho sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh các tiêu chuẩn môi trường ngày càng trở thành một phần quan trọng của hoạt động sản xuất, kinh doanh và thương mại quốc tế.

PVFCCo-Phú Mỹ đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm 3% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với năm cơ sở 2022, tương đương khoảng 17.514 tấn CO₂. Để mục tiêu đó có ý nghĩa, điều kiện đầu tiên vẫn là dữ liệu đủ tin cậy: không có đường cơ sở thì khó biết đã giảm bao nhiêu; không xác định được nguồn phát thải thì khó quyết định nên ưu tiên vốn và công nghệ vào đâu.

Đạm Phú Mỹ

Nhìn lại, hành trình quản trị môi trường của Đạm Phú Mỹ được tạo nên từ nhiều lớp công việc: phân tách và xử lý nước thải theo nguồn; tuần hoàn một phần nước và vật chất về sản xuất; kiểm soát khí thải bằng quan trắc định kỳ và tự động; quản lý chất thải ngay từ nơi phát sinh; duy trì phương án phòng ngừa sự cố; thu hồi CO₂; tối ưu năng lượng; kiểm kê khí nhà kính; rồi xác định dấu chân carbon đến cấp sản phẩm.

Vì vậy, dấu chân carbon được BSI xác minh trong năm 2026 nên được nhìn như bước tiếp theo, không phải điểm khởi đầu của câu chuyện xanh tại Đạm Phú Mỹ. Câu hỏi quan trọng hơn mà doanh nghiệp đang dần có khả năng trả lời bằng dữ liệu là: mỗi tấn sản phẩm có thể được tạo ra với ít tài nguyên và ít phát thải hơn đến mức nào?

Khi câu hỏi đó được đo lường, theo dõi và đưa trở lại dây chuyền để cải tiến, bảo vệ môi trường không còn đứng ở cuối quá trình sản xuất. Nó trở thành một phần của công nghệ, của hiệu quả vận hành và, ngày càng rõ hơn, một phần trong giá trị của sản phẩm Phú Mỹ khi bước ra thị trường.

Đạm Phú Mỹ
          

Bài: Bảo Châu
Ảnh: Phú Mỹ
Thiết kế: Đinh Hương

Đồ hoạ có sử dụng AI