[Emagazine] Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò gì trong phát triển công nghệ chiến lược?
12/10/2026 lúc 17:43 (GMT)

[Emagazine] Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò gì trong phát triển công nghệ chiến lược?

phát triển công nghệ chiến lược

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, các tập đoàn kinh tế nhà nước đã xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ và bố trí nguồn lực cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược gắn với hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tại Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), Đảng ủy Tập đoàn đã ban hành Nghị quyết số 951-NQ/ĐU ngày 03/01/2025; Hội đồng thành viên ban hành Chiến lược khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đến năm 2030, định hướng đến năm 2050.

công nghệ

Tập đoàn đặt mục tiêu duy trì tăng trưởng doanh thu bền vững ở mức hai con số, đưa Petrovietnam vào danh sách 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới (Fortune Global 500), đồng thời phấn đấu tối thiểu 25% doanh thu hợp nhất đến từ các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mới. Petrovietnam và các đơn vị thành viên cam kết dành tối thiểu 2% doanh thu hợp nhất hằng năm để tái đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Doanh nghiệp nhà nước

Đối với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Kế hoạch số 2686 ban hành tháng 4/2025 đã giao 57 nhiệm vụ cho các đơn vị triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW. Qua rà soát theo các quyết định và kế hoạch liên quan của Bộ Công Thương, EVN được giao 21 nhiệm vụ, gồm 17 nhiệm vụ về bảo đảm an ninh năng lượng, phục vụ tăng trưởng và hiện đại hóa, cùng 4 nhiệm vụ về tự chủ công nghệ và nội địa hóa. Các nhiệm vụ được phân công đơn vị chủ trì, có bộ phận chuyên môn theo dõi và hướng tới hình thành sản phẩm, giải pháp có khả năng áp dụng chung trong toàn Tập đoàn.

Trong khi đó, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) tập trung phát triển hai nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược: pin sodium-ion, hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS) và hóa chất tinh khiết, siêu tinh khiết phục vụ ngành điện tử, bán dẫn. Tập đoàn đã giao nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển cho các đơn vị thành viên, gồm Công ty Cổ phần Pin Ắc quy miền Nam (PINACO), Công ty Cổ phần Hóa chất Cơ bản miền Nam và Công ty Cổ phần DAP - Vinachem.

Doanh nghiệp nhà nước

Tại EVN, các nhiệm vụ công nghệ chiến lược tập trung vào lưới điện thông minh; hệ thống lưu trữ năng lượng; dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI) và bản sao số; chế tạo thiết bị trọng điểm; chuyển dịch năng lượng.

Trong lĩnh vực lưới điện thông minh, 183/190 trạm biến áp 220 kV đã thực hiện chế độ không người trực. Với lưới điện 500 kV, EVN bắt đầu triển khai điều khiển từ xa tại 10 trạm biến áp. EVN đã chế tạo, thử nghiệm và đưa máy biến áp 500 kV vào vận hành tại Trạm biến áp 500 kV Hòa Bình trong khoảng hai năm qua, với kết quả vận hành tốt. Dự án chế tạo kháng bù ngang cũng đã được khởi công, được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp kinh phí 22 tỷ đồng. Tập đoàn dự kiến tiếp tục nghiên cứu, chế tạo thiết bị bù công suất tĩnh và trạm biến áp lưu động cấp điện áp 220 kV, 110 kV.

EVN

Đối với BESS, EVN đã lắp đặt khoảng 200 MW tại Tổng công ty Điện lực miền Bắc và Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội để bù công suất; đồng thời nghiên cứu các vị trí lắp đặt hệ thống lưu trữ tập trung quy mô khoảng 200-300 MW phục vụ điều tần, điều áp. Trong giai đoạn 2026-2030, Tập đoàn tiếp tục ưu tiên phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng, thiết bị điện, dữ liệu, AI và nghiên cứu chuyển đổi nhiên liệu, điện gió ngoài khơi.

Tại Vinachem, Công ty Cổ phần Pin Ắc quy Miền Nam (PINACO) đã ký kết hợp tác OEM (nhà sản xuất thiết bị gốc), đặt hàng sản xuất 20.000 sản phẩm pin sodium-ion phục vụ xe máy điện và xe đạp điện; đồng thời đào tạo nhân lực, thử nghiệm công nghệ và xây dựng lộ trình đầu tư dây chuyền đóng gói pin trong nước. Sản phẩm mang thương hiệu PINACO dự kiến được thương mại hóa trong năm 2026.

Doanh nghiệp nhà nước

Đối với hóa chất tinh khiết, siêu tinh khiết, Công ty Cổ phần Hóa chất Cơ bản miền Nam đã nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm axit sulfuric (H2SO4) tinh khiết với nồng độ đạt 100%, đáp ứng yêu cầu chất lượng đầu vào dự án Nhà máy sợi carbon của Hyosung Việt Nam. Doanh nghiệp đang đánh giá độ ổn định chất lượng khi sản xuất quy mô lớn, đồng thời nghiên cứu sản xuất axit phosphoric siêu tinh khiết phục vụ ngành điện tử, bán dẫn. Sản phẩm này dự kiến hoàn thành nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm trong năm 2027 và hướng tới thương mại hóa giai đoạn 2028-2030.

Với Petrovietnam, yêu cầu phát triển công nghệ chiến lược gắn với thực tế sản lượng khai thác tại các mỏ dầu khí truyền thống suy giảm tự nhiên nhanh chóng, trong khi nhiều công trình lọc hóa dầu, chế biến khí và nhà máy phân bón đã vận hành tới ngưỡng công suất kỹ thuật, có hệ thống đạt 115-125% công suất thiết kế. Tập đoàn xác định cần chuyển mạnh sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ chiến lược và đổi mới sáng tạo, mở rộng sang các lĩnh vực như hydro sạch, hóa chất xanh, vật liệu mới và kinh tế dữ liệu.

Petrovietnam đã xác định danh mục 34 sản phẩm công nghệ chiến lược, đồng thời triển khai chuyển đổi số, xây dựng nhà máy thông minh và phát triển bản sao số tại các đơn vị thành viên. Tập đoàn nghiên cứu, phát triển nhiên liệu hàng không bền vững (SAF), nhiên liệu xanh, hóa chất xanh, methanol xanh từ phụ phẩm nông nghiệp và sinh khối; đồng thời phát triển vật liệu tiên tiến. Hai dòng sản phẩm dầu nhờn pha nanographene và sơn graphene có độ bền cao đã được thương mại hóa.

Trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác, Petrovietnam nghiên cứu công nghệ nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR), khai thác khoáng sản đáy biển và thiết bị miniROV; ứng dụng AI trong nghiên cứu địa chất, địa vật lý tại Lô B và dự kiến áp dụng công nghệ khoan thông minh tại dự án này. Tập đoàn cũng chuẩn bị tiếp nhận, thử nghiệm công nghệ in 3D kim loại nhằm từng bước làm chủ chuỗi công nghệ sản xuất vật liệu bột in và kỹ thuật in, phục vụ cung ứng phụ tùng cơ khí chính xác, vật tư tiêu hao khó mua trên thị trường.

Doanh nghiệp nhà nước

Để phát triển công nghệ chiến lược, bên cạnh năng lực sản xuất và hạ tầng sẵn có, các tập đoàn đều xác định việc huy động nguồn lực, phát triển nhân lực và hợp tác với các cơ sở nghiên cứu là những yếu tố quan trọng.

Petrovietnam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực cốt lõi trong chiến lược phát triển đến năm 2030, định hướng đến năm 2050. Tập đoàn cam kết cùng các đơn vị thành viên dành tối thiểu 2% doanh thu hợp nhất hằng năm để tái đầu tư cho lĩnh vực này. Việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ lõi, nghiên cứu giải mã công nghệ cao và nâng cao hàm lượng tri thức trong toàn bộ chuỗi giá trị năng lượng được xác định là những hướng triển khai quan trọng.

EVN dự kiến dành tối thiểu 0,4% doanh thu hằng năm cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), có thể tăng lên khoảng 0,8-1% doanh thu. Tập đoàn đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt khoảng 12 chuyên gia trên 10.000 cán bộ, công nhân viên theo định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW. Trong quá trình triển khai, EVN định hướng để các đơn vị xác định nhu cầu thực tiễn, cung cấp dữ liệu và môi trường thử nghiệm, đồng thời phối hợp với các trường đại học, cơ sở nghiên cứu để đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng.

Doanh nghiệp nhà nước

Tại Vinachem, mô hình liên kết doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và đối tác công nghệ được xác định là yếu tố then chốt. Trong lĩnh vực BESS, PINACO hợp tác với các đối tác nước ngoài về công nghệ pin, pack pin và hệ thống quản lý năng lượng; đồng thời phối hợp với các trường đại học nghiên cứu giải pháp điện tử công suất, từng bước làm chủ phần mềm quản lý năng lượng (EMS) và hệ thống quản lý pin (BMS).

Đối với hóa chất tinh khiết, Vinachem phối hợp với các trường đại học nghiên cứu sản xuất hóa chất đạt yêu cầu của ngành điện tử, bán dẫn. Theo lộ trình được nêu trong tham luận, sản phẩm axit phosphoric (H3PO4) siêu tinh khiết của Công ty Cổ phần Hóa chất Cơ bản miền Nam dự kiến hoàn thành nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm trong năm 2027 và hướng tới thương mại hóa giai đoạn 2028-2030. Công ty Cổ phần DAP - Vinachem cũng đang nghiên cứu công nghệ sản xuất axit phosphoric sạch, tinh khiết, dự kiến đưa sản phẩm ra thị trường trong giai đoạn 2028-2030.

Việc kết hợp năng lực nghiên cứu, kinh nghiệm sản xuất công nghiệp, nguồn lực tài chính và hợp tác công nghệ giúp các tập đoàn từng bước hình thành nền tảng phát triển sản phẩm. Tuy nhiên, với những công nghệ đòi hỏi đầu tư lớn, thời gian nghiên cứu dài và tiêu chuẩn kỹ thuật cao, quá trình làm chủ công nghệ vẫn cần các cơ chế hỗ trợ phù hợp.

Thực tiễn triển khai tại Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tập đoàn Hóa chất Việt Nam cho thấy, doanh nghiệp nhà nước không chỉ giữ vai trò tổ chức sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thiết yếu mà còn là lực lượng quan trọng trong nghiên cứu, phát triển và từng bước làm chủ công nghệ chiến lược. Với lợi thế về quy mô, nguồn lực tài chính, hạ tầng và khả năng triển khai các dự án dài hạn, các tập đoàn có điều kiện dẫn dắt đầu tư vào những lĩnh vực công nghệ nền tảng, tạo tiền đề hình thành sản phẩm mới và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. 

Tuy nhiên, để chuyển các kết quả nghiên cứu thành năng lực cạnh tranh thực chất, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế đầu tư, khuyến khích đổi mới sáng tạo, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học và đối tác công nghệ. Đây sẽ là những yếu tố quyết định để doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò tiên phong, góp phần nâng cao năng lực công nghệ quốc gia và bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh sản xuất trong dài hạn.

          

Bài: Trịnh Đạt
Ảnh và đồ họa: Tạp chí Công Thương có sử dụng AI
Thiết kế: Loa Sa