[Emagazine] Từ phòng nghiên cứu đến thị trường: Thúc đẩy chuyển giao và ứng dụng công nghệ ngành Công Thương
09/10/2026 lúc 11:06 (GMT)

[Emagazine] Từ phòng nghiên cứu đến thị trường: Thúc đẩy chuyển giao và ứng dụng công nghệ ngành Công Thương

 

 

Khoảng cách từ phòng nghiên cứu đến sản xuất vẫn còn lớn khi nhiều kết quả chưa vượt qua được các bước thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa. Với ngành Công Thương, rút ngắn quãng đường này không chỉ đòi hỏi nghiên cứu bám sát nhu cầu sản xuất, mà còn cần nguồn lực cho giai đoạn hoàn thiện công nghệ, sự tham gia thực chất của doanh nghiệp và cơ chế đủ rõ để công nghệ có thể đi tiếp ra thị trường.

Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng của phát triển. Với ngành Công Thương, yêu cầu đặt ra không chỉ là triển khai thêm các nhiệm vụ nghiên cứu, mà quan trọng hơn là làm sao để các nhiệm vụ đó được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm và năng lực sản xuất thực tế.

Theo ông Hoàng Ninh - Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số, Bộ Công Thương, để rút ngắn quá trình từ nghiên cứu đến ứng dụng, nhiệm vụ khoa học, công nghệ phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, được tập trung đủ nguồn lực và có sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ khi hình thành.

Một đề tài khoa học được nghiệm thu mới chỉ hoàn thành một chặng của quá trình phát triển công nghệ. Để kết quả nghiên cứu đi vào dây chuyền sản xuất, công nghệ còn phải trải qua thử nghiệm trong điều kiện thực tế, hiệu chỉnh thiết kế, nâng độ tin cậy, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm định và sản xuất thử.

Thúc đẩy chuyển giao và ứng dụng công nghệ ngành Công Thương

Từ mô hình thử nghiệm trong phòng thí nghiệm đến một sản phẩm đủ điều kiện đưa vào sản xuất còn phải trải qua nhiều khâu hoàn thiện và kiểm chứng. Với các lĩnh vực cơ khí, điện, tự động hóa hay công nghiệp chế biến, sản phẩm không chỉ cần “chạy được” mà còn phải vận hành ổn định ở quy mô thực, đáp ứng tiêu chuẩn của khách hàng, tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn ngành và chứng minh được hiệu quả kinh tế.

Theo TS. Vũ Văn Khoa - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí, nhiều công nghệ chỉ thực sự được hoàn thiện khi bước sang giai đoạn sản xuất thử nghiệm. Sau kết quả bước đầu trong phòng thí nghiệm, công nghệ vẫn phải tiếp tục được thử nghiệm ở quy mô thực, hiệu chỉnh thiết kế, kiểm chứng và hoàn thiện. Trong khi đó, kinh phí của một đề tài nghiên cứu thông thường không phải lúc nào cũng đủ cho các khâu thử nghiệm, hiệu chỉnh và hoàn thiện công nghệ.

TS. Vũ Văn Khoa - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí

Khó khăn không chỉ nằm ở kinh phí. Với những thiết bị đòi hỏi cao về an toàn và độ ổn định, đơn vị sử dụng thường rất thận trọng trước một sản phẩm mới chưa có nhiều dữ liệu vận hành thực tế. “Có thiết bị điện được nghiên cứu, chế tạo trong nước phải đưa ra nước ngoài thử nghiệm để đáp ứng tiêu chuẩn, nhưng khi trở về vẫn cần thêm thời gian để thuyết phục đơn vị sử dụng đưa vào hệ thống”, TS. Vũ Văn Khoa - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí cho biết.

Dây chuyền hàn khung vỏ xe điện VinFast VF 3
Dây chuyền hàn khung vỏ xe điện VinFast VF 3 do Trung tâm Cơ khí nặng, Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME) thiết kế, chế tạo và tích hợp.

Thực tế từ các đơn vị nghiên cứu cũng cho thấy, không ít kết quả mới dừng ở mô hình thử nghiệm. Muốn đánh giá đầy đủ độ bền, hiệu quả và khả năng vận hành ổn định, thiết bị cần được thử nghiệm trong thời gian đủ dài tại nhà máy. Đây lại là phần việc đòi hỏi vốn đối ứng, môi trường thử nghiệm và sự phối hợp trực tiếp của doanh nghiệp.

Vì vậy, nguồn lực cho nghiên cứu không thể chỉ dừng ở việc tạo ra mô hình trong phòng thí nghiệm. Muốn công nghệ đi tiếp vào sản xuất, vẫn phải có nguồn lực cho thử nghiệm thực tế, hiệu chỉnh thiết kế, chuẩn hóa và sản xuất thử. GS.TS. Huỳnh Trung Hiếu - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh đề xuất sử dụng ngân sách nhà nước như “vốn mồi” cho nghiên cứu phát triển, đồng thời duy trì đầu tư với những hướng nghiên cứu cần thời gian dài mới có thể ứng dụng hoặc tạo nền tảng cho các ứng dụng tiếp theo.

 Thúc đẩy chuyển giao và ứng dụng công nghệ ngành Công Thương

Khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất có thể xuất hiện ngay từ khâu lựa chọn đề tài, khi hướng nghiên cứu chưa gặp đúng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Theo ông Hoàng Ninh, nghiên cứu cần bắt đầu từ nhu cầu sản xuất, đồng thời xác định rõ ngay từ đầu sản phẩm cuối cùng là gì, ai sẽ sử dụng, tiêu chí đánh giá và khả năng nhân rộng. Doanh nghiệp vì vậy cần tham gia từ khâu xác định vấn đề cần giải quyết, yêu cầu kỹ thuật, điều kiện vận hành đến thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa sản phẩm; viện, trường phát triển giải pháp, còn Nhà nước tạo cơ chế hỗ trợ. Trong những trường hợp phù hợp, doanh nghiệp cũng cần cùng đầu tư cho quá trình nghiên cứu để kết quả tạo ra bám sát hơn yêu cầu sản xuất và có khả năng đi tiếp vào ứng dụng.

Lò hấp chất thải y tế URENCO 13
Lò hấp chất thải y tế giúp loại bỏ mầm bệnh lây nhiễm mà không gây ô nhiễm khói thải.

Trường hợp Viện Nghiên cứu Cơ khí phối hợp với Công ty Cổ phần Vật tư Thiết bị Môi trường 13 (Urenco 13) cho thấy hiệu quả của việc doanh nghiệp tham gia ngay từ quá trình nghiên cứu và hoàn thiện sản phẩm. Trong đề tài do Bộ Công Thương giao năm 2019, hai bên cùng nghiên cứu, thiết kế và chế tạo hệ thống xử lý rác thải y tế bằng phương pháp nhiệt ướt. Urenco 13 đóng góp một phần kinh phí, đồng thời đưa ra các yêu cầu để thiết kế phù hợp với điều kiện vận hành tại Việt Nam và hệ thống thiết bị sẵn có. Sau khi đề tài được nghiệm thu, theo TS. Vũ Văn Khoa, doanh nghiệp đã chế tạo khoảng 20 thiết bị cùng loại.

Ở đây, nhu cầu thực tế không xuất hiện sau khi sản phẩm đã hoàn thành mà được đưa vào quá trình thiết kế và hoàn thiện công nghệ. Chính sự tham gia đó giúp kết quả nghiên cứu có điều kiện bám sát hơn yêu cầu sử dụng.

Nếu trường hợp Urenco 13 cho thấy vai trò của sự phối hợp giữa đơn vị nghiên cứu và doanh nghiệp, thì câu chuyện tại Tổng công ty Thiết bị điện Đông Anh - CTCP (EEMC) lại cho thấy yêu cầu về năng lực tự chủ công nghệ từ phía doanh nghiệp. Với máy biến áp 500 kV - 3×300 MVA, EEMC phải tích lũy năng lực trong nhiều năm, từ thiết kế, tính toán, công nghệ chế tạo đến thử nghiệm và kiểm soát chất lượng. Cùng với đó là kinh nghiệm công nghệ, dữ liệu kiểm chứng và đội ngũ đủ năng lực làm chủ toàn bộ quy trình tạo ra sản phẩm.

Từ thực tế của EEMC, ông Nguyễn Hải Quân - Phó Tổng giám đốc EEMC cho rằng, doanh nghiệp cần một cơ chế đặt hàng xuất phát từ nhu cầu thực tế của ngành, với lộ trình rõ từ nghiên cứu, thử nghiệm đến ứng dụng và thương mại hóa. Với những sản phẩm công nghệ mới, rủi ro cũng cần được chia sẻ hợp lý giữa Nhà nước, đơn vị sử dụng và đơn vị nghiên cứu - chế tạo trên cơ sở tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình thử nghiệm và đánh giá chất lượng rõ ràng. Khi đầu ra được xác định cụ thể, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để mạnh dạn đầu tư cho phát triển và làm chủ công nghệ.

ông Nguyễn Hải Quân - Phó Tổng giám đốc EEMC

Đồng thời doanh nghiệp cũng phải nâng được năng lực hấp thụ công nghệ. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp có đủ nhân lực, hạ tầng và năng lực tổ chức để tiếp nhận, vận hành, bảo trì, nâng cấp và tiếp tục hoàn thiện trong quá trình sản xuất.

Thúc đẩy chuyển giao và ứng dụng công nghệ ngành Công Thương

Vượt qua giai đoạn thử nghiệm chưa đồng nghĩa với việc sản phẩm của một đề tài khoa học sẽ có chỗ đứng trên thị trường. Để có thể thương mại hóa, công nghệ phải đủ tin cậy, có giá thành phù hợp và đáp ứng được nhu cầu thực tế. Ở phạm vi toàn ngành, việc lựa chọn công nghệ cần tập trung vào những hướng có khả năng nâng năng lực sản xuất, giảm phụ thuộc vào bên ngoài, tăng tỷ lệ nội địa hóa và tạo ra sản phẩm có thị trường.

Khi nhiều bên cùng tham gia phát triển công nghệ, quyền sở hữu, quyền khai thác, trách nhiệm đầu tư và cách phân chia lợi ích cần được xác định rõ ngay từ đầu. Có như vậy, kết quả nghiên cứu mới có thể tiếp tục được phát triển thành sản phẩm và thương mại hóa, thay vì dừng lại sau một đề tài hay một lần chuyển giao.

Tại các trường đại học, viện nghiên cứu, hoạt động chuyển giao công nghệ cũng cần được mở rộng sang đánh giá tiềm năng thương mại, bảo hộ sở hữu trí tuệ, định giá công nghệ, tìm kiếm đối tác. Bên cạnh đó, cần có cơ chế để các trường đại học, viện nghiên cứu hình thành doanh nghiệp khởi nguồn từ kết quả nghiên cứu (spin-off), qua đó tiếp tục hoàn thiện công nghệ, phát triển sản phẩm, dịch vụ và đưa ra thị trường.

Khi thương mại hóa trở thành một phần của quá trình phát triển công nghệ, cách đánh giá nhiệm vụ khoa học, công nghệ cũng cần thay đổi. Bên cạnh kết quả học thuật hay mô hình thử nghiệm, cần đánh giá cả công nghệ đã được kiểm chứng, sản phẩm được chuyển giao, mức độ ứng dụng và hiệu quả thực tế trong sản xuất.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi được chuyển hóa thành năng lực công nghệ, sản phẩm mới và hiệu quả cụ thể trong sản xuất. Với ngành Công Thương, yêu cầu này gắn trực tiếp với năng suất, chất lượng, khả năng nội địa hóa và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Theo ông Hoàng Ninh làm chủ công nghệ là điều kiện, tạo ra sản phẩm là kết quả trực tiếp, còn nâng cao năng lực cạnh tranh mới là mục tiêu cuối cùng.

Hoàng Ninh - Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số, Bộ Công Thương

Một đề tài được nghiệm thu vì thế chưa phải là điểm kết thúc. Giá trị của nghiên cứu chỉ thực sự được khẳng định khi công nghệ đi vào sản xuất, tạo ra sản phẩm và mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp. Khi đó, kết quả khoa học mới chuyển thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của ngành.

          

Nội dung và Trình bày: Lan Anh

Hình ảnh đồ hoạ có sử dụng AI