Hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy tái chế, tái sử dụng nước thải
Tại nhiều quốc gia trên thế giới, nước thải sau xử lý không còn là chất thải phải loại bỏ mà là đã trở thành nguồn tài nguyên có thể tái sử dụng cho sản xuất, dịch vụ và nhiều mục đích khác. Với Việt Nam, trong bối cảnh nhu cầu nước cho các hoạt động sản xuất, sinh hoạt ngày càng tăng và mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn được đặt ra mạnh mẽ, việc hoàn thiện khung pháp lý, quy chuẩn kỹ thuật và cơ chế hỗ trợ sẽ là chìa khóa để thúc đẩy tái chế, tái sử dụng nước thải sau xử lý trên quy mô lớn.

Trong những năm qua, lượng nước bình quân đầu người ở Việt Nam giảm khá nhanh, từ 12.800 m3 nước/người (năm 1990) xuống còn 9.000 m3 nước/người (năm 2015), khoảng 8.300 m3/người năm 2025. Nếu chỉ tính riêng lượng nước nội sinh trong lãnh thổ Việt Nam, con số này chỉ còn khoảng 2.800-3.000 m³/người/năm, thấp hơn ngưỡng 4.000 m³/người/năm theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Tài nguyên nước quốc tế (IWRA), đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia thiếu nước. Bên cạnh đó, nước thải từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, làng nghề, sinh hoạt không qua xử lý đổ vào các dòng sông và nguồn nước dưới đất làm suy giảm nhanh chóng lượng nước có thể sử dụng được ở nước ta hiện nay. Nhiều nơi, nguồn nước sau khi tiếp nhận nước thải vẫn được khai thác trở lại cho các mục đích sử dụng, làm gia tăng chi phí xử lý nước cấp, nguy cơ ô nhiễm môi trường và rủi ro đối với sức khỏe cộng đồng. Thực tế này cho thấy việc tái sử dụng nước thải có kiểm soát là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển bền vững.
Tại nhiều quốc gia, nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn được xem là một nguồn tài nguyên nước, được tái sử dụng cho tưới tiêu, sản xuất công nghiệp, bổ sung nguồn nước đô thị và nhiều mục đích khác, góp phần giảm áp lực khai thác nguồn nước tự nhiên. Trong khi đó, ở Việt Nam, việc tái sử dụng nước thải vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Một trong những nguyên nhân là quan niệm trong thời gian dài cho rằng nước là nguồn tài nguyên dồi dào, nên chưa coi trọng việc thu gom, xử lý và tái sử dụng. Bên cạnh đó, đầu tư cho hệ thống xử lý và tái sử dụng nước thải đòi hỏi chi phí lớn, thời gian thu hồi vốn dài, trong khi cơ chế khuyến khích và chính sách hỗ trợ chưa thật sự đồng bộ, chưa tạo động lực đủ mạnh để thu hút doanh nghiệp tham gia. Mặt khác, tình trạng xả thải trái quy định vẫn còn xảy ra ở một số nơi; ý thức tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường của một bộ phận tổ chức, doanh nghiệp còn hạn chế, trong khi năng lực giám sát và thực thi pháp luật của cơ quan quản lý vẫn cần tiếp tục được tăng cường. Những yếu tố này khiến việc phát triển và mở rộng tái sử dụng nước thải tại Việt Nam còn diễn ra thận trọng, chưa đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển bền vững.

Tại Việt Nam thực tế việc tuần hoàn, tái sử dụng nước thải đã từng bước được thể chế hoá tại Luật Bảo vệ môi trường 2020, Luật Tài nguyên nước 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong đó Luật Tài nguyên nước sửa đổi năm 2023 khuyến khích các dự án tái sử dụng nước và đồng thời định hướng các ưu đãi để kích thích đầu tư vào công nghệ và thực hành tiết kiệm nước. Ngoài ra, Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035 đã xác định xử lý và tái sử dụng nước thải là một trong những giải pháp quan trọng nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên nước, giảm phát sinh chất thải và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn. Kế hoạch khuyến khích phát triển các mô hình thu gom, xử lý và tái sử dụng nước thải; đồng thời đưa hoạt động xử lý nước thải sinh hoạt đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu sản xuất, kinh doanh tập trung vào nhóm lĩnh vực ưu tiên triển khai kinh tế tuần hoàn, tạo cơ sở để huy động nguồn lực xã hội và thúc đẩy đầu tư vào công nghệ xử lý, tái sử dụng nước thải.

Trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, để đạt được tỷ lệ 65-70% “xử lý và tái sử dụng nước thải ra môi trường lưu vực các sông” được nhìn nhận là mục tiêu tương đối tham vọng. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà thời gian sắp tới, Việt Nam phải tìm ra lời giải, tháo gỡ các điểm nghẽn nhằm thực hiện cho được mục tiêu này. Dù thực tế Việt Nam đã có một khung pháp lý nền tảng khá vững chắc, tuy nhiên hiện nay việc tái sử dụng nước thải sau xử lý đa phần giới hạn trong các hoạt động nội bộ của các doanh nghiệp. Việc thiếu các quy chuẩn, tiêu chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật chi tiết, cũng như các quy định cụ thể việc triển khai tái sử dụng nước thải sau xử lý của khu công nghiệp, cụm công nghiệp, hay giữa các doanh nghiệp, cơ chế giám sát, kiểm soát chất lượng, kiểm soát rủi ro…đã đặt ra nhiều thách thức, rào cản đối với việc trao đổi và mua bán nước thải đã qua xử lý giữa các doanh nghiệp.

Tại phiên thảo luận Lễ công bố “Hướng dẫn kỹ thuật và chia sẻ kết quả thí điểm, nghiên cứu khả thi về tái sử dụng nước thải công nghiệp, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam” Bà Diệp Thị Kim Hoàn - Giám đốc Phát triển bền vững của DEEP C chia sẻ, về mặt kỹ thuật mô hình thí điểm tái sử dụng nước sau xử lý tại Khu công nghiệp Đình Vũ (DEEP C1, Hải Phòng) là hoàn toàn khả thi, có thể thực hiện được. Theo bà Hoàn vướng mắc lớn nhất hiện gây khó cho DEEP C trong triển khai dự án sau thí điểm thành công là các quy định về pháp luật. Bởi sau giai đoạn thí điểm thành công để tái chế, tái sử dụng nước thải ở quy mô lớn thì cần phải căn cứ trên các quy định pháp luật, với các thông số, hướng dẫn cụ thể trong khuôn khổ của pháp luật, quy định hiện hành.

Theo Giám đốc Phát triển bền vững của DEEP C, điểm nghẽn lớn nhất là ở chỗ "chuyển giao nước thải". Nếu như chỉ tái sử dụng, tuần hoàn, DEEP C có thể sử dụng cho việc rửa đường hay là để tưới cây cảnh quan ấy, về mặt bản chất đấy là tuần hoàn nội tại trong doanh nghiệp sẽ không gặp phải vướng về mặt thủ tục pháp lý. Nhưng theo DEEP C để làm được việc này cũng cần có các tiêu chuẩn, quy chuẩn là nước sau xử lý phải đạt đến mức độ nào thì mới được đem ra để sử dụng…
Trên thực tế DEEP C cho biết đã có những kế hoạch và có thể tuần hoàn và tái sử dụng được rất nhiều, chứ không chỉ dừng ở tỷ lệ 60-70%. Cụ thể DEEP C cho biết có thể tái sử dụng nước sau xử lý vào nhiều công việc như: làm nước vệ sinh, dùng cho hệ thống làm mát KCN; dùng cho phòng cháy chữa cháy, hoặc thậm chí là có thể dùng để rửa các cái tấm pin năng lượng mặt trời lắp trên mái nhà. Tuy nhiên để có thể sử dụng nước sau xử lý thì cũng cần nhiều điều kiện ( như rửa tấm pin năng lượng mặt trời thì sau sử dụng có phải thu gom về để xử lý theo dạng nước thải không...), cần có những hướng dẫn rất cụ thể, chi tiết của cơ quan quản lý để thực hiện, giải quyết yếu tố về mặt kỹ thuật… Xa hơn và phức tạp hơn tuy nhiên cũng là mục tiêu hướng đến của dự án là chuyển giao nước sau xử lý được cho một bên thứ hai là các nhà đầu tư thứ cấp trong KCN tuy nhiên theo đại diện DEEP C hiện vẫn chưa có cơ sở pháp lý, quy định nào cho việc chuyển giao nước thải sau xử lý như một loại hàng hóa hoặc nếu được coi là hàng hóa thì các vấn đề về tài chính, thuế tiếp theo như thế nào, việc chuyển giao có nước thải liên quan đến việc hai bên phải điều chỉnh giấy phép môi trường...

Từ những thành công bước đầu của mô hình thí điểm, DEEP C mong muốn sẽ tiếp tục nhân rộng mô hình, đồng thời cũng rất cần sự đồng hành của các đơn vị liên quan đặc biệt là các cơ quan quản lý trong việc cụ thể hóa các quy định, quy chuẩn, hướng dẫn chi tiết…Theo đại diện DEEP C, tiềm năng tái sử dụng nước sau xử lý còn rất lớn, không chỉ phục vụ tưới cây, vệ sinh hạ tầng hay hệ thống làm mát mà còn có thể đáp ứng nhiều nhu cầu khác trong khu công nghiệp. Tuy nhiên, để hiện thực hóa các mô hình này cần có hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và hướng dẫn quản lý tương ứng với từng mục đích sử dụng nhằm bảo đảm an toàn và kiểm soát rủi ro.
Đánh giá về kết quả chương trình thí điểm, ông Hồ Kiên Trung, Phó Cục trưởng Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng những nghiên cứu này đã chứng minh tính khả thi của việc tái sử dụng nước thải cả về kỹ thuật và kinh tế, đồng thời tạo cơ sở quan trọng để xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật phục vụ doanh nghiệp. Theo ông, Bộ sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành và địa phương hoàn thiện cơ chế, hướng dẫn và tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình triển khai, tạo điều kiện để nhiều mô hình tuần hoàn nước được nhân rộng trong thời gian tới.


Một thông điệp được nhiều đại biểu tham gia Lễ công bố thống nhất là điểm nghẽn lớn nhất của tái chế, tái sử dụng nước thải ở Việt Nam hiện nay không còn nằm ở công nghệ mà ở thể chế. Mô hình thí điểm đã chứng minh tính khả thi về kỹ thuật và hiệu quả kinh tế, song để nhân rộng trên thực tế cần sớm hoàn thiện khung pháp lý, tạo sự yên tâm cho doanh nghiệp đầu tư. Theo các chuyên gia, ưu tiên trước mắt là xây dựng và ban hành hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật đối với nước sau xử lý theo từng mục đích sử dụng, như tưới cây, rửa đường, cấp nước cho hệ thống làm mát, sản xuất công nghiệp hay các nhu cầu khác. Đồng thời, cần thiết lập quy trình đánh giá và kiểm soát rủi ro trong toàn bộ vòng đời của hệ thống tái sử dụng nước, từ công nghệ xử lý, vận hành, giám sát chất lượng đến phân phối và sử dụng.
Bên cạnh việc hoàn thiện hành lang pháp lý, nhiều ý kiến cũng đề xuất xây dựng các chính sách khuyến khích kinh tế tuần hoàn đủ mạnh để thu hút doanh nghiệp tham gia, như ưu đãi về thuế, tín dụng, hỗ trợ chi phí xử lý và vận chuyển bùn sau xử lý đạt quy chuẩn, cũng như nghiên cứu cơ chế cấp tín chỉ carbon đối với các dự án thu hồi năng lượng từ nước thải và bùn thải. Song song với đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn phát sinh nước thải và bùn thải cũng được xem là giải pháp quan trọng nhằm kết nối hiệu quả giữa đơn vị phát sinh và đơn vị có nhu cầu sử dụng, góp phần hình thành thị trường tài nguyên tuần hoàn.
Thay vì coi nước thải là gánh nặng môi trường cần xử lý, nhiều quốc gia đã xem đây là một nguồn tài nguyên thứ cấp có giá trị. Với Việt Nam, khi công nghệ, nhu cầu thị trường và định hướng chính sách đã dần hội tụ, việc sớm hoàn thiện thể chế sẽ là yếu tố quyết định để biến mục tiêu tái sử dụng nước thải, phát triển kinh tế tuần hoàn và bảo đảm an ninh nguồn nước thành hiện thực.

