Kết luận 75-KL/TW: Tạo lập tư duy mới về bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu

Trình bày Kết luận số 75-KL/TW tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc cho biết, sau gần 15 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã đạt nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện. Nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, doanh nghiệp và người dân không ngừng được nâng lên; hệ thống chủ trương, chính sách và pháp luật từng bước được hoàn thiện; tổ chức bộ máy tiếp tục được kiện toàn theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Công tác ứng phó với biến đổi khí hậu từng bước chuyển từ bị động sang chủ động thích ứng; quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên có nhiều chuyển biến tích cực; bảo vệ môi trường ngày càng được lồng ghép trong quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Nhiều mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn được triển khai; thị trường các-bon bước đầu hình thành; hợp tác quốc tế về môi trường và biến đổi khí hậu tiếp tục được mở rộng, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Những kết quả đó là nền tảng quan trọng để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Kết luận cũng chỉ rõ nhiều hạn chế cần tập trung khắc phục như: Ô nhiễm môi trường vẫn diễn biến phức tạp; chất lượng không khí tại một số đô thị lớn có thời điểm ở mức đáng lo ngại; ô nhiễm tại lưu vực sông, làng nghề, cụm công nghiệp còn chậm được cải thiện. Hệ sinh thái tự nhiên tiếp tục suy thoái, đa dạng sinh học suy giảm; hạ tầng thu gom, xử lý nước thải và chất thải chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Công tác quản lý môi trường còn phân tán; dữ liệu chưa đồng bộ; khả năng dự báo, cảnh báo và thích ứng với biến đổi khí hậu ở nhiều nơi còn hạn chế; nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực này chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Thực tế đó đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức quản trị trong thời kỳ phát triển mới.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và dự báo bối cảnh phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Kết luận số 75-KL/TW xác định 5 nhóm quan điểm chỉ đạo cốt lõi, làm nền tảng cho việc hoạch định chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện công tác bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.
Thứ nhất, Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới, là nền tảng cho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất, sức cạnh tranh, là một động lực phát triển mới của nền kinh tế. Nguồn lực cho bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu phải được bảo đảm tương xứng với quy mô nền kinh tế và yêu cầu phát triển đất nước.
Thứ hai, Bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người dân. Đặt con người và chất lượng cuộc sống của Nhân dân ở trung tâm của mọi quyết định phát triển; lấy việc bảo đảm môi trường sống an toàn, trong lành, bảo vệ sức khỏe, tính mạng, sinh kế của mọi người dân làm mục tiêu cao nhất. Phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, vai trò kiến tạo của Nhà nước, đề cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp và cộng đồng.
Thứ ba, Quy hoạch, định hướng phát triển trong giới hạn sinh thái, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường. Chuyển từ tư duy ứng phó sang tư duy chủ động kiến tạo phát triển, từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và theo mức độ rủi ro, từ quản lý phân tán theo ngành, địa giới hành chính sang quản trị tổng hợp, liên ngành, liên vùng.
Thứ tư, Chủ động phòng ngừa, kiểm soát chặt chẽ, cảnh báo từ sớm, từ xa nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; tập trung khắc phục, xử lý các vấn đề bức xúc về môi trường. Bảo tồn đa dạng sinh học và phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên. Đẩy nhanh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và chủ động phòng, chống thiên tai.
Thứ năm, Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng, động lực chủ yếu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Chủ động, tích cực và tham gia có trách nhiệm các cơ chế hợp tác quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề môi trường, khí hậu toàn cầu.

Năm nhóm quan điểm chỉ đạo nêu trên tạo thành hệ thống định hướng xuyên suốt của Kết luận số 75-KL/TW, đồng thời là cơ sở để cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, giải pháp và mục tiêu phát triển trong giai đoạn tới. Trên nền tảng đó, Kết luận tiếp tục đề ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, hướng tới xây dựng môi trường sống an toàn, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

Kết luận số 75-KL/TW xác định mục tiêu đến năm 2030, năng lực chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai được nâng cao, bảo vệ tốt hơn tính mạng, sức khỏe, tài sản, sinh kế của Nhân dân.
Các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải được tập trung xử lý, khắc phục; chất lượng môi trường sống của Nhân dân được cải thiện thực chất; suy giảm đa dạng sinh học được ngăn chặn, hướng tới cân bằng sinh thái.
Các nguồn thải lớn phải được kiểm soát chặt chẽ; thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, các-bon thấp gắn với đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, bảo đảm an ninh môi trường và sự phát triển bền vững đất nước.
Giai đoạn 2026 - 2030, bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường; 100% nguồn thải lớn được quan trắc tự động, liên tục; 100% cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đạt 95%; tỷ trọng kinh tế xanh đạt khoảng 10% GDP; tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt tối thiểu 26,1%; phát triển ít nhất 1.200 công trình xanh được chứng nhận và giảm ít nhất 9% lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường.
Tầm nhìn đến năm 2045, đất nước ta có môi trường sống trong lành, hài hòa với thiên nhiên, phát triển bền vững; hệ thống quản trị môi trường hiện đại; thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Kinh tế xanh, tuần hoàn, các-bon thấp là phương thức phát triển chủ đạo, bảo đảm mực tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm, vị thế và uy tín cao trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.

Để hiện thực hóa các quan điểm chỉ đạo và mục tiêu phát triển trong thời kỳ mới, Phó Thủ tướng Thường trực cho biết, Kết luận số 75-KL/TW xác định 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Đây là hệ thống giải pháp toàn diện, đồng bộ, bao quát từ nâng cao nhận thức, hoàn thiện thể chế đến huy động nguồn lực, thúc đẩy chuyển đổi xanh và tăng cường hợp tác quốc tế, nhằm đưa công tác bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trở thành một trong những động lực phát triển của đất nước.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội
Kết luận yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền phải quán triệt sâu sắc yêu cầu bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong xác lập và triển khai mô hình phát triển mới. Trong đó, cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí, truyền thông, các hội nghề nghiệp và cộng đồng trong xây dựng chính sách, phản biện xã hội và giám sát thực thi pháp luật. Công tác tuyên truyền phải tạo được sự thay đổi hành vi, lan tỏa lối sống xanh, tiêu dùng bền vững, phân loại chất thải, tiết kiệm năng lượng và tài nguyên.
Hoàn thiện thể chế, siết chặt kỷ cương và nâng cao hiệu lực thực thi
Kết luận xác định khẩn trương hoàn thiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, làm cơ sở để hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan, bảo đảm đồng bộ, thống nhất. Nghiên cứu xây dựng Luật Biến đổi khí hậu. Đồng thời, tập trung đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát. Chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên dữ liệu, mức độ rủi ro và lịch sử tuân thủ.
Phải quy định rõ trách nhiệm của Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã và từng cơ quan; thực hiện nguyên tắc một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì. Kết quả thực hiện mục tiêu môi trường và khí hậu phải là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và người đứng đầu. Chế tài xử lý vi phạm phải đủ sức răn đe. Đồng thời, các cơ quan quản lý cần tăng cường hướng dẫn, đối thoại, hỗ trợ doanh nghiệp phòng ngừa sai sót và tuân thủ đúng pháp luật.
Huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực
Kết luận nêu rõ, nguồn lực dành cho bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phải được bảo đảm tương xứng với yêu cầu phát triển. Bảo đảm bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng chặt chẽ, đúng mục đích, hiệu quả, không để xảy ra lãng phí, tiêu cực.
Ngân sách nhà nước phải giữ vai trò dẫn dắt, tạo điều kiện huy động mạnh mẽ vốn tư nhân, tài chính xanh, tín dụng xanh, trái phiếu xanh, nguồn vốn quốc tế, các quỹ khí hậu toàn cầu và nguồn hỗ trợ phát triển.
Ưu tiên nguồn lực cho xử lý các điểm nóng ô nhiễm, xây dựng hạ tầng kỹ thuật về bảo vệ môi trường, xử lý chất thải, hạ tầng phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển mạng lưới quan trắc, dự báo, cảnh báo sớm và các công trình có tính chất liên vùng.
Giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, kiểm soát chặt nguồn ô nhiễm
Kết luận yêu cầu tập trung giải quyết ô nhiễm không khí tại các đô thị đặc biệt; ô nhiễm tại các lưu vực sông, kênh, mương, hồ; ô nhiễm tại làng nghề, cụm công nghiệp, khu vực khai thác khoáng sản và khu vực tồn lưu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật.
Đồng thời, thúc đẩy phân loại chất thải phục vụ tái sử dụng, tái chế, xử lý kết hợp thu hồi năng lượng, giảm mạnh tỷ lệ chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt. Đầu tư đồng bộ hệ thống thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý chất thải. Hình thành các khu liên hợp xử lý, tái chế chất thải có công nghệ tiên tiến.
Kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu công nghệ, thiết bị lạc hậu, gây ô nhiễm, tiêu hao nhiều tài nguyên, hiệu quả thấp. Các nguồn phát sinh nước thải, khí thải lớn phải được giám sát tự động, liên tục và theo thời gian thực. Không để phát sinh các khu vực ô nhiễm nghiêm trọng.

Bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và sử dụng hiệu quả tài nguyên
Kết luận yêu cầu, cần mở rộng diện tích và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn thiên nhiên; bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái quan trọng, nhạy cảm; bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm và nguồn gen.
Đẩy mạnh các giải pháp dựa vào tự nhiên, phát triển các bể hấp thụ các-bon xanh; bảo vệ rừng, đất ngập nước, rừng ngập mặn, hệ sinh thái biển và ven biển. Phát triển sinh kế bền vững, du lịch sinh thái, kinh tế dưới tán rừng và các mô hình kinh tế dựa trên dịch vụ hệ sinh thái.
Cùng với đó là hiện đại hóa công tác điều tra, quy hoạch, quản lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên đất, nước, khoáng sản, tài nguyên biển; bảo đảm an ninh tài nguyên quốc gia.
Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai
Kết luận yêu cầu cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu; điều chỉnh chiến lược, quy hoạch và phương án phòng, chống thiên tai phù hợp với từng vùng, từng địa phương.
Ưu tiên đầu tư hạ tầng có khả năng chống chịu cao trước thiên tai, sụt lún, sạt lở và nước biển dâng. Tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng phải tích hợp đầy đủ yêu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu.
Tập trung giải quyết ngập úng tại các đô thị lớn; phát triển đô thị chống chịu; xây dựng các mô hình nông nghiệp thông minh, giảm phát thải, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm. Thực hiện di dời người dân khỏi khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở, đồng thời bảo đảm sinh kế bền vững tại nơi ở mới.
Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và quản lý phát thải khí nhà kính
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Kết luận nhấn mạnh là chuyển đổi các ngành kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn và các-bon thấp. Phát triển các ngành kinh tế mới, công nghiệp tái chế, năng lượng tái tạo, giao thông xanh, đô thị xanh và công trình xanh.
Thúc đẩy tuần hoàn vật liệu và sản phẩm trong toàn bộ chuỗi giá trị. Chuyển đổi hệ thống sản xuất lương thực, thực phẩm theo hướng giảm phát thải và bền vững.
Quá trình chuyển đổi xanh phải bảo đảm công bằng, có chương trình đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp và hỗ trợ sinh kế cho người lao động, nhóm dễ bị tổn thương.
Hoàn thiện hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải khí nhà kính theo tiêu chuẩn quốc tế. Quản lý chặt chẽ hoạt động trao đổi tín chỉ các-bon; xây dựng tiêu chuẩn tín chỉ các-bon trong nước tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế..
Phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và nguồn nhân lực
Theo đó, ưu tiên nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng công nghệ quan trắc, dự báo, cảnh báo; công nghệ sạch, công nghệ tái chế, xử lý chất thải, giảm phát thải; công nghệ thu hồi, lưu giữ và tái sử dụng các-bon.
Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về môi trường và biến đổi khí hậu thống nhất, đồng bộ, tích hợp và liên thông; phục vụ chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát, hoạch định chính sách và công khai thông tin.
Đặc biệt quan tâm nâng cao năng lực cán bộ quản lý môi trường ở cấp cơ sở; xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành; thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp
Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế
Kết luận nhấn mạnh, Việt Nam cần chủ động tham gia định hình các sáng kiến và cơ chế hợp tác khu vực, toàn cầu về môi trường và khí hậu.
Tăng cường ngoại giao môi trường, ngoại giao khí hậu; huy động hiệu quả nguồn lực tài chính, công nghệ và hỗ trợ kỹ thuật từ các đối tác phát triển.
Chủ động đánh giá tác động và thích ứng với các tiêu chuẩn, quy định, hàng rào kỹ thuật quốc tế về môi trường và khí hậu; bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Tăng cường hợp tác xử lý các vấn đề môi trường xuyên biên giới, quản lý tài nguyên nước, phòng, chống thiên tai và bảo đảm an ninh môi trường, an ninh khí hậu, an ninh năng lượng.


