Nhu cầu Molybdenum tăng mạnh trong ngành Điện hạt nhân

Năng lượng là một trong những lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng lớn nhất trên thế giới. Vì lo ngại đến thay đổi khí hậu, mà thế giới đang dần quay lưng lại đối với các nhà máy điện nhiên liệu hoá thạch v
Vai trò của Molybdenum trong các lò phản ứng hạt nhân
Vai trò phòng ngừa rủi ro của molybdenum là một thực tế, bởi hầu hết các dự án năng lượng mới trên khắp thế giới đều dựa vào các loại thép hợp kim molybdenum, từ năng lượng tái tạo, từ đường ống dẫn dầu mỏ tới các nhà máy điện dùng nhiên liệu hoá thạch truyền thống. 

Phần lớn, molybdenum được sử dụng trong ngành công nghiệp thép để sản xuất các hợp kim thép. Các hợp kim này có khả năng chịu nhiệt cao hơn và độ kháng ăn mòn cũng cao hơn, hai tính chất này của hợp kim đóng một vai trò quan trọng trong các lò phản ứng hạt nhân. Các hợp kim thép có hiệu suất cao này có thể chứa tới 7 % moly. Mỗi lò phản ứng hạt nhân mới cần ít nhất 400.000 pound moly để chế tạo ống. 

Người ta không chỉ sử dụng loại thép đặc biệt này trong chế tạo các lò phản ứng mới, mà còn sử dụng trong nâng cấp các lò phản ứng đang hoạt động. 

“Một số lớn trong 190 lò phản ứng hạt nhân sử dụng các ống ngưng hơi của hệ thống hơi áp lực cao (HPSS), có tuổi thọ trung bình vượt quá 18 năm… theo một báo cáo công bố trong năm 2000, hơn 100 triệu feet ống thép không gỉ hợp kim siêu cao được sử dụng để thay thế các ống bằng hợp kim đồng,” ông James Finch của công ty Seeking Alpha cho biết. 

Nhu cầu moly trong các lò phản ứng hạt nhân còn vì một nguyên nhân khác, đó là, do không có nước làm mát của các nhà máy điện đang trong qui hoạch xây dựng, người ta phải sử dụng nước biển hoặc nước lợ. Vì thế, người ta cần đến hợp kim thép moly có hiệu ứng cao hơn, như là hợp kim 654 SMO® đã được sử dụng trong các nhà máy điện hạt nhân ở Scandinavia. Loại hợp kim này chứa 7,5 % moly, cùng với nickel , manganese và chromium và các kim loại hợp kim khác. 

Triển vọng cho nhu cầu 
Theo Hiệp hội Hạt nhân thế giới World Nuclear Association, hiện có 60 lò phản ứng hạt nhân ở 14 quốc gia đang xây dựng và nhiều dự án khác đang nằm trong kế hoạch. Tổng cộng lại, trên 150 lò phản ứng đã được lên kế hoạch và kiến nghị xây thêm 340 lò phản ứng khác nữa. Nhà máy điện hạt nhân tiêu chuẩn sử dụng 520.000 feet ống thép hợp kim và những nhà máy điện hạt nhân lớn hơn sử dụng tới một triệu feet ống. Điều này cho thấy, nhu cầu moly rất lớn trong lĩnh vực điện hạt nhân.
Đương nhiên, qui mô các lò phản ứng thay đổi khác nhau, nhưng nếu chúng ta lấy con số 400.000 pound moly cho mỗi lò phản ứng như nêu ở trên làm cơ sở, thì tổng nhu cầu moly trong các lò phản ứng như sau: 

60 lò phản ứng đang xây dựng = 24 triệu pound moly
150 lò phản ứng nằm trong kế hoạch xây dựng = 84 triệu pound moly
Kiến nghi xây dựng thêm 340 lò phản ứng nữa = 220 triệu pound moly 

Nếu chỉ tính một nửa số lò phản ứng này được xây dựng, tổng nhu cầu moly chắc chắn sẽ đẩy giá moly lên. 

Ngoài nhu cầu dùng cho chế tạo các lò phản ứng hạt nhân, nhu cầu moly cũng được sử dụng trong đường ống dẫn dầu mỏ, tấm panel pin mặt trời, tuốc bin gió và cả trong các nhà máy điện nhiên liệu hoá thạch và than truyền thống. Trong trường hợp ống dẫn dầu mỏ, cứ mỗi 1.000 feet ống cần tới 2,6 triệu pound moly. Hiện tại, trên thế giới có gần 50.000 dặm đường ống dẫn khí nằm trong kế hoạch xây dựng.
Sự tăng trưởng của thị trường năng lượng sẽ tiếp tục hỗ trợ nhu cầu moly, đồng thời, giúp các nhà đầu tư đa dạng hoá và tận dụng được sự tăng trưởng của thị trường năng lượng.