Kinh tế

...16/05/2019 lúc 07:00 (GMT)

5 nhóm hàng xuất khẩu tỷ USD tăng trưởng 2 con số: Máy tính dẫn đầu

TCCTTổng trị giá xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm nay chỉ tăng 6,5%, tương ứng tăng 4,82 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.

Tổng trị giá xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm nay chỉ tăng 6,5%, tương ứng tăng 4,82 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Điều này xuất phát từ việc chỉ có 5 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đạt được mức tăng trưởng cao 2 con số, trong khi nhiều nhóm khác tăng trưởng thấp, thậm chí tăng trưởng âm.

5 nhóm hàng tăng trưởng XK 2 con số
Kim ngạch tăng thêm của 5 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực có tốc độ tăng trưởng cao nhất (tính hết tháng 4/2019), đơn vị tính "tỷ USD". Biểu đồ: T.Bình.

 

Máy tính vượt dệt may

Theo quan sát của phóng viên từ thống kê mới của Tổng cục Hải quan, 4 tháng đầu năm, trong 10 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực cả nước có 5 nhóm đạt mức tăng 2 con số gồm: Máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện; dệt may; giày dép; gỗ và sản phẩm gỗ; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện.

Trong đó, máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện có sự tăng trưởng ấn tượng để vượt qua dệt may chiếm vị trí số 2 về kim ngạch.

4 tháng qua, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 9,63 tỷ USD tăng 12% so với cùng kỳ năm 2018.

Thị trường xuất khẩu đáng chú ý là: Trung Quốc đạt 2,43 tỷ USD, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước; thị trường EU (28 nước) đạt 1,65 tỷ USD, tăng 1,8%; thị trường Hoa Kỳ đạt 1,29 tỷ USD, tăng mạnh 64,1%; thị trường Hàn Quốc đạt 942 triệu USD, tăng 6,6%...

Đối với nhóm hàng hàng dệt may, dù để mất vị trí số 2 về kim ngạch nhưng việc đạt được tốc độ tăng trưởng 2 con số cũng là điều hết sức đáng khích lệ vì những năm gần đây nhóm hàng dệt may thường chỉ đạt tốc độ tăng trưởng dưới 10%.

Hết tháng 4 tháng, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 9,46 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 4 tháng, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam với trị giá đạt 4,42 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 46,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước.

Các thị trường quan trọng khác có thể kể đến như: Nhật Bản đạt 1,16 tỷ USD, tăng 4,7%; thị trường EU đạt 1,16 tỷ USD, tăng 5,5%...

Giày dép các loại đạt 5,39 tỷ USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2018, cũng là kết rất tích cực đối với nhóm hàng này.

EU và Hoa Kỳ là 2 thị trường chính nhập khẩu nhóm hàng giày dép các loại của Việt Nam. 4 tháng đầu năm nay kim ngạch và tốc độ tăng ở 2 thị trường quan trọng này lần lượt là 1,47 tỷ USD (tăng 10,1%) và 2 tỷ USD (tăng 13,5%).

Gỗ và sản phẩm gỗ là nhóm hàng xuất khẩu “tỷ USD” thứ 4 đạt được mức tăng trưởng cao với con số ấn tượng 17,8%, đạt kim ngạch 3,12 tỷ USD.

Thị trường Hoa Kỳ là nơi xuất khẩu lớn nhất với trị giá 1,42 tỷ USD, tăng 34,7% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là Nhật Bản với 414 triệu USD, tăng 18,2%; Trung Quốc với 365 triệu USD, giảm nhẹ 0,1%…

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện là nhóm hàng cuối cùng trong 10 nhóm hàng chủ lực đạt được tốc độ tăng trưởng 2 con số với kim ngạch 1,46 tỷ USD, tăng 13,7%.

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất với 711 triệu USD, tăng 20%; Hồng Kông đạt 227 triệu USD, giảm 34%; Ấn Độ với 167 triệu USD, tăng 168,5%...

Điện thoại chưa đạt được tăng trưởng dương

Sự thay đổi đáng chú ý khác nhưng ở chiều hướng không mấy tính cực là xuất khẩu điện thoại và linh kiện.

Dù vẫn là nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất nhưng 4 tháng qua kim ngạch của điện thoại và linh kiện chỉ đạt 16,01 tỷ USD, giảm nhẹ 0,4% so với cùng kỳ năm 2018. Đây là điều gây không ít bất ngờ nếu so với tốc đố tăng trưởng cao và liên tục trong nhiều năm qua.

Hiện, thị trường EU là nơi tiêu thụ nhiều nhất của nhóm hàng điện thoại và linh kiện với kim ngạch đạt 4,38 tỷ USD, giảm 3,9%.

Tiếp đến là thị trường Hoa Kỳ tăng cao 94,4%, đạt trị giá 3,32 tỷ USD; thị trường Hàn Quốc đạt 1,67 tỷ USD, tăng 8,1%...

Ngoài điện thoại và linh kiện, nhiều nhóm hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam cũng chỉ đạt tốc độ tăng trưởng khá thấp, thậm chí tăng trưởng âm.

Cụ thể, nhóm hàng nông sản (bao gồm hàng rau quả, hạt điều, hạt tiêu, chè, cà phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su) đạt 5,56 tỷ USD, giảm 8,9%.

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 5,31 tỷ USD, tăng 6,8%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 2,82 tỷ USD, tăng 4,5%; thủy sản đạt 2,42 tỷ USD, giảm 0,9%; sắt thép các loại đạt 2,33 triệu tấn, trị giá 1,5 tỷ USD, tăng 22,8% về lượng và tăng 7,3% về trị giá…

Cùng chuyên mục