Thứ sáu, 16/12/2016 10:05(GMT +7)

Nhiều băn khoăn về mức hỗ trợ khi mất việc làm

Nhiều người lao động còn nhầm lẫn giữa hỗ trợ thôi việc và hỗ trợ mất việc. Tạp chí Công Thương sẽ giải đáp rõ hơn về vấn đề này cũng như các mức hỗ trợ người lao động sẽ được hưởng trong từng trường hợp cụ thể.

Bạn Nguyễn Nga (25 tuổi) hỏi: Tôi được biết, trong một số trường hợp khi người sử dụng chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động. Vậy, trong trường hợp nào người lao động sẽ được hưởng trợ cấp mất việc làm và mức trợ cấp như thế nào?

Đáp: Về câu hỏi của bạn, trước hết, các trường hợp được hưởng trợ cấp mất việc làm, được quy định cụ thể như sau:

- Khoản 1 Điều 49 Bộ luật lao động năm 2012 quy định các trường hợp được hưởng trợ cấp mất việc làm như sau:“Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này…”

Như vậy, có 2 điều kiện để người lao động được hưởng trợ cấp mất việc làm gồm người lao động đã làm việc thường xuyên từ 12 tháng trở lên và hợp đồng lao động chấm dứt trong các trường hợp: chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc lý do kinh tế; và chấm dứt hợp đồng lao động do sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp.

Thứ hai, về cách tính trợ cấp mất việc làm:

- Tại Điều 44 và 45 của Bộ luật lao động, về cơ bản khi doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ hay sáp nhập, chia tách thì người sử dụng lao động có nghĩa vụ tiếp tục sử dụng người lao động, chỉ khi không thể sắp xếp được việc làm cho người lao động thì hợp đồng lao động mới chấm dứt và người sử dụng lao động sẽ phải trả trợ cấp mất việc làm.

Theo đó, trợ cấp mất việc làm được tính như sau:

- Mỗi năm làm việc trả 1 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 2 tháng tiền lương.

- Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

Thời gian làm việc để trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 1 tháng đến dưới 6 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 1 năm làm việc.

- Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

Bạn Dương Hoàng (Hà Nội) hỏi: Công ty tôi chuẩn bị thay đổi cơ cấu và công nghệ sản xuất nên chấm dứt hợp đồng lao động với tôi. Vậy, công ty phải trả các loại trợ cấp nào?

Đáp: Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi tới Tạp chí Công Thương! Trong trường hợp này, người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật lao động năm 2012; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng (theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Bộ luật lao động năm 2012).

Theo đó, Điều 46. Phương án sử dụng lao động quy định

- Phương án sử dụng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây:

a) Danh sách và số lượng người lao động tiếp tục được sử dụng, người lao động đưa đi đào tạo lại để tiếp tục sử dụng;

b) Danh sách và số lượng người lao động nghỉ hưu;

c) Danh sách và số lượng người lao động được chuyển sang làm việc không trọn thời gian; người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động;

d) Biện pháp và nguồn tài chính bảo đảm thực hiện phương án.

- Khi xây dựng phương án sử dụng lao động phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.

Điều 44. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế

- Trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

Nếu người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này. Nếu công ty đã thực hiện đầy đủ theo quy định vừa nêu, thì việc công ty cho người lao động nghỉ việc không vi phạm pháp luật lao động.

Ngoài ra, người lao động khi phải nghỉ việc do thay đổi về cơ cấu, công nghệ thì được nhận trợ cấp mất việc làm thay cho trợ cấp thôi việc. Vì vậy, trong trường hợp này, người lao động không được hưởng cả hai chế độ trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thôi việc cùng một lúc.

Về các khoản trợ cấp được hưởng bạn có thể tham khảo cụ thể tại phần giải đáp ở câu hỏi đầu tiên.

Bạn Hoàng Hiền (Bắc Giang) hỏi: Tạp chí Công Thương có thể giúp tôi phân biệt rõ hơn giữa trợ cấp mất việc và trợ cấp thôi việc khác nhau như thế nào?

Đáp: Tạp chí Công Thương xin giải đáp thắc mắc này như sau:

Phân biệt

Trợ cấp mất việc

Trợ cấp thôi việc

Điều kiện được hưởng

Theo quy định tại Điều 49 Bộ luật lao động 2012, điều kiện để được hưởng trợ cấp mất việc như sau:

+ Thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế làm ảnh hưởng đến việc làm của người lao động

+ Sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

+ Người lao động đã làm việc thường xuyên cho người sự dụng lao động

từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm trong các trường hợp trên, mỗi năm làm việc trả 1 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 2 tháng tiền lương.

+ Trợ cấp mất việc làm là khoản trợ cấp mà người sử dụng lao động trả cho người lao động đã làm việc thường xuyên từđủ12 tháng trở lên trong trường hợp người sử dụng lao động có sự thay đổi về cơ cấu, công nghệ hay vì lý do kinh tế hoặc sát nhập, hợp vốn, chia tách doanh nghiệp, không thể giải quyết việc làm mới cho người lao động. Như vậy những trường hợp trả trợ cấp mất việc làm thường là những trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do các yếu tố bên ngoài tác động tới.

Điều 48 Bộ luật lao động 2012 quy định:

+ Người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

+ Do chấm dứt hợp đồng lao động vì nhiều lý do khác nhau (trừ sa thải) đa số là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp mà chủ sử dụng lao động không đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

Thời gian tính trợ cấp

Tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của bảo hiểm và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

Tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

Mức trợ cấp

Mỗi năm làm việc được trả 1 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 2 tháng tiền lương. Nếu xét về mức chi trả ta thấy rằng mức chi trả trợ cấp thôi mất việc làm cao gấp đôi mức chi trả trợ cấp thôi việc và Bộ luật lao động năm 2012 cũng giới hạn mức trợ cấp chi trả thấp nhất mà người lao động được hưởng.

Khi trả trợ cấp thôi việc chủ sử dụng lao động trả cho người lao động mỗi năm làm việc là một nửa tháng tiền lương. Tháng tiền lương được coi làm căn cứ để tính trợ cấp thôi việc là tháng tiền lương của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Thời hạn chi trả

Người sử dụng lao động cũng phải trả trợ cấp mất việc làm trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. Chủ sử dụng lao động phải thực hiện chi trả khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động.

Hà Minh

Viết bình luận