Bảo vệ nguồn nước sạch: Không chỉ với các dòng sông

Thay vì tiêu tốn chi phí đầu tư cho các máy móc xử lý nước thì chúng ta sử dụng các biện pháp bảo vệ nguồn nước sạch, đó mới là cách giải quyết từ gốc của vấn đề ô nhiễm nước. Hơn nữa, điều này còn gi

Trên thế giới, đặc biệt là ở những nước phát triển, các nguồn nước sạch luôn được bảo vệ kĩ lưỡng, nhưng ở Việt Nam, chưa quan tâm bảo vệ nguồn nước đúng mức, dẫn đến tình trạng ô nhiễm và cạn kiệt đáng báo động. 

Ô nhiễm nước - đâu là nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân gây ra ô nhiễm nguồn nước nhưng chúng ta có thể chia thành hai loại chính là ô nhiễm cục bộ và ô nhiễm không cục bộ(1). Ô nhiễm cục bộ xảy ra tại một vị trí xác định rõ ràng, chẳng hạn như: chất thải công nghiệp tại một nhà máy ra sông; cống rãnh xả thải tại một khu nhà; ô nhiễm tại các bãi khai thác khoáng sản; các bể chứa dầu và ga bị rò rỉ v.v... Ô nhiễm không cục bộ xảy ra do sự khuếch tán các chất bẩn từ nhiều nguồn khác nhau, chẳng hạn như: nước mưa có axit và nhiễm bẩn thấm vào đất; hóa chất độc hại sử dụng trong nông nghiệp thấm và khuếch tán trong đất; các vũng nước đọng trên vỉa hè hoặc trên đường chứa nhiều chất bẩn và vi khuẩn độc hại, sau theo dòng chảy ngấm vào đất v.v...

Có thể thấy rằng, việc ô nhiễm nguồn nước hoàn toàn xuất phát từ các hoạt động của con người.

Riêng ở nước ta thì vấn đề đào giếng không thể kiểm soát còn tạo nên một vòng tròn luẩn quẩn đặc trưng: khi nước sạch bị ô nhiễm và khai thác cạn kiệt, người dân không được cung cấp đủ nước sạch khiến họ phải tự đào giếng, như vậy nước sạch sẽ càng ít đi, người dân lại càng đào giếng nhiều hơn, điều đó lại càng khiến cho nước ít đi và ô nhiễm hơn. Vấn đề trở nên trầm trọng đến nỗi số lượng giếng đào ở Hà Nội và TP. HCM nhiều đến mức ảnh hưởng tới cả cấu trúc nền đất, làm đất yếu và dễ bị sụt lún hơn.

Xuất phát điểm của toàn bộ vấn đề về ô nhiễm nước sạch ở nước ta là do chưa quan tâm đúng mức tới tất cả các nguyên nhân gây ô nhiễm. Chúng ta chỉ mới tập trung vào giải quyết một số nguyên nhân gây ô nhiễm cục bộ bằng các chế tài về xử lý nước thải của các nhà máy trước khi xả thải vào hệ thống chung, hay bằng cách tuyên truyền cho người dân giữ vệ sinh các dòng chảy. Nhưng chúng ta quên rằng ô nhiễm nguồn nước sạch còn do sự khuếch tán các chất ô nhiễm. Lấy ví dụ nghĩa trang Văn Điển tại Hà Nội, hoàn toàn không phải do các dòng sông gây ô nhiễm, mà ở đây là do sự thẩm thấu các chất ô nhiễm trong lòng đất lâu ngày chạm tới nguồn nước ngầm, khiến cho người dân mặc dù không muốn nhưng vẫn phải sử dụng nước có màu đen và mùi hôi.  Câu hỏi đặt ra là tại sao các công trình này lại được đặt ngay gần các nguồn nước ngầm sạch? Phải chăng do sự thờ ơ, sự bất cập trong quản lý hay sự thiếu hiểu biết cần thiết về nguyên nhân gây ô nhiễm nước mà chúng ta chưa có các quy định pháp luật phù hợp nhằm bảo vệ nguồn nước. 

Cần một giải pháp tổng thể

Rõ ràng, việc chống ô nhiễm tại các con sông là chưa đủ, mà còn cần phải quan tâm nhiều hơn tới các nguồn nước ngầm nhằm tránh ô nhiễm do khuếch tán. Nhìn ở khía cạnh khác, chúng ta mới chỉ tập trung vào phần ai cũng “nhìn thấy được” (các dòng sông, kênh, rạch) mà quên đi phần “chìm” (các nguồn nước ngầm). Tại các nước phát triển, họ có cả bản đồ cụ thể về các nguồn nước ngầm [2]. Khi một nguồn nước ngầm sạch được phát hiện, nó sẽ được đưa ngay vào bản đồ và đương nhiên có các biện pháp bảo vệ đi kèm. Các vành đai bảo vệ được thiết lập và quy định rõ ràng bởi pháp luật. Ví dụ tại Pháp, xung quanh điểm lộ khai thác của một nguồn nước ngầm có tới ba vòng bảo vệ:

- Vòng bảo vệ trực tiếp: Diện tích từ vài tới vài trăm mét vuông. Tất cả các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm bị cấm. Nguồn nước có thể được bảo vệ bởi lớp phủ hoặc hàng rào bằng bêtông hay gỗ nhằm chống lại sự xâm nhập của các chất ô nhiễm.

- Vòng bảo vệ gián tiếp: Diện tích vùng này khoảng từ 1 tới 10 hecta. Các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm thấp có thể được hoạt động với điều kiện phải có các biện pháp xử lý chất thải. Còn các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm cao (như bãi rác, kho chứa hóa chất…) chắc chắn bị cấm hoàn toàn.

- Vòng bảo vệ từ xa: Bao gồm toàn bộ diện tích mà trên đó bất cứ một hạt mưa nào rơi xuống cũng sẽ chảy tới giếng khai thác. Nói cách khác, đây chính là toàn bộ khu vực ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn nước ngầm. Tại đây cho phép tất cả các hoạt động với điều kiện phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về vệ sinh môi trường. Các cá nhân có nhu cầu đào giếng phải được sự cho phép của chính quyền.

Các quy định nghiêm ngặt như vậy kèm theo sự quản lý minh bạch, rõ ràng đã giúp cho Pháp không bao giờ gặp vấn đề về nước sạch, với 100% người dân có đủ nước sạch dùng hàng ngày. Nước của họ sạch đến nỗi có đủ tiêu chuẩn để uống luôn từ vòi chứ không cần đun sôi. Nên chăng chúng ta cần học các biện pháp quản lý nguồn nước ngầm này của họ. Chúng ta đã có Văn bản quy định về bảo vệ tài nguyên nước dưới đất [3] nhưng còn khá chung chung cũng như tính thực thi còn chưa cao, và chưa phổ biến tới đa số cộng đồng. Trong ý thức của người dân Việt Nam, một công trình mới chuẩn bị xây chỉ cần xem xét vị trí của nó có thuận tiện không, có hợp lý cho quy hoạch không, chứ không xem vị trí của nó có gần nguồn nước ngầm nào không và có ảnh hưởng gì tới nguồn nước này không...

Việc bảo vệ nguồn nước sạch nói chung và nước ngầm nói riêng đã trở nên vô cùng cấp bách, yêu cầu chúng ta cần có các biện pháp khẩn cấp bảo vệ các nguồn nước, bảo vệ sự sống của cộng đồng. Điều này phải được thể hiện bằng các hành động cụ thể và đòi hỏi sự chung sức của nhiều ngành, từ khoa học (vẽ bản đồ các mạch nước ngầm, đề ra các phương án bảo vệ và xử lý nước…), pháp luật và hành chính (đảm bảo sự nghiêm minh trong quá trình thực hiện) tới tuyên truyền giáo dục đối với người dân và các cơ sở sản xuất kinh doanh.

Tài liệu tham khảo

[1] Water Pollution, Harold I Zeliger, Human Toxicology of Chemical Mixtures (Second Edition), 2011, Pages 65-95

[2] Service publique d’information sur eau, French government, 11/2012, www.eaufrance.fr

[3] Quy định Bảo vệ tài nguyên nước dưới đất (Ban hành kèm theo Quyết định số 15/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường)

[4] Fondation de l’eau potable s#re, Canadian government, 11/2012, http://www.safewater.org