PV: Xin ông cho biết về NLCT của các DN Việt Nam hiện nay?
TS. Nguyễn Minh Phong: NLCT của cả quốc gia và DN thể hiện sâu đậm ở khả năng đổi mới và áp dụng nhanh công nghệ tiên tiến, nhưng chúng ta thì chưa làm được điều này, nên NLCT của các DN Việt Nam còn yếu. Theo công bố gần đây của Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật DN vừa và nhỏ (Cục Phát triển DN vừa và nhỏ - Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thì chỉ có 8% trong tổng số 10.994 DN sản xuất công nghiệp tự xác định công nghệ của mình là tiên tiến, trên 50% DN xác định công nghệ đang sử dụng là trung bình, 41,9% DN thừa nhận đang sử dụng công nghệ lạc hậu. Trong các cuộc họp giao ban của Bộ Công Thương, tình trạng máy móc công nghệ lạc hậu thường được đề cập như một nỗi lo khi Việt Nam gia nhập WTO. Tôi xin đưa ví dụ. Dệt may được coi là ngành xuất khẩu chủ lực nhưng hiện có đến 45% máy móc thiết bị cần phải đầu tư nâng cấp,
30-40% cần phải thay thế. Trong ngành Cơ khí, 90% thiết bị công nghệ không đồng bộ lại có thâm niên sử dụng tới gần nửa thế kỷ.
Mặc dù thiết bị và công nghệ ở nước ta rất lạc hậu, nhưng việc đổi mới rất khó khăn chậm chạp, chưa được quan tâm đúng mức. Theo báo cáo của Văn phòng Chương trình kinh tế kỹ thuật về tự động hóa - Bộ Công Thương: Công nghệ chế tạo khuôn mẫu không khó, song hàng chục năm qua, ngành Nhựa vẫn nhập khuôn mẫu khiến giá thành sản phẩm cao hơn khu vực 30%.
Có nhiều nhân tố cản trở đến quá trình đổi mới công nghệ, nhưng hầu hết các DN cho rằng nhân tố tác động lớn nhất là thiếu vốn. Kim ngạch ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị ở nước ta rất ít, chỉ chiếm khoảng 16% tổng kim nhập khẩu hàng năm, trong khi các nước đang phát triển là 30-40%. Trong số 8% DN tự tin về công nghệ như đã nói ở trên thì phần lớn trong số này là các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Cũng theo số liệu khảo sát của Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật DN vừa và nhỏ, trong số 32.225 DN đề cập tới khó khăn của mình trong sản xuất kinh doanh, chỉ có 12,2% nhắc đến những khó khăn khi tiếp cận công nghê mới. Kế hoạch nhà nước hàng năm có rất nhiều chỉ tiêu cụ thể, nhưng chỉ tiêu đổi mới công nghệ bao nhiêu phần trăm thì chưa có. Thực trạng này cho thấy ở nước ta, cả cấp vĩ mô và vi mô đều chưa quan tâm đến việc đổi mới công nghệ.
PV: Nhưng nhiều DN lại cho rằng, thủ tục hành chính rườm rà của các địa phương mới là rào cản cho việc nâng cao NLCT của họ? Vậy theo ông, địa phương phải làm gì để gỡ bỏ rào cản này?
TS. Nguyễn Minh Phong: Tư tưởng coi DN là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn và xây dựng chính quyền thân thiện, đồng hành cùng DN phải trở thành phương châm hành động chung và được cụ thể hóa trong các tác nghiệp hàng ngày của các cấp, ngành. Hơn nữa, cần tiến hành cải cách hành chính từ trên xuống, tăng cường tiêu chuẩn hóa, đơn giản hóa, minh bạch hóa và công khai hóa các thủ tục, quy định hành chính, đồng thời mở rộng áp dụng cơ chế “một cửa” (đồng bộ từ khâu giới thiệu địa điểm, cấp phép, quản lý sau cấp phép...) trên cơ sở tận tâm, tôn vinh và tạo thuận lợi cao nhất cho DN. Các cấp chính quyền cần kịp thời nắm bắt và xử lý để tháo gỡ các khó khăn mà DN gặp phải; không cho phép bất kỳ cá nhân nào có hành vi nhũng nhiễu, gây cản trở và làm tổn hại đến các quyền lợi hợp pháp của DN, ổn định chính sách và xây dựng bộ máy chính quyền đồng hành cùng DN, không phân biệt DN nhà nước hay DN tư nhân. Đặc biệt, thực tế cho thấy, NLCT của DN sẽ được cải thiện tốt hơn ở nơi nào thực hiện tốt sự đối thoại giữa các lãnh đạo và cán bộ quản lý nhà nước với các DN qua nhiều kênh khác nhau, dù trực tiếp, hoặc thông qua mạng internet. Vì vậy, cần định kỳ hàng quý (đối với các ngành liên quan) và hàng năm (đối với lãnh đạo tỉnh) có hội nghị gặp gỡ đối thoại với các DN để trao đổi và giải quyết những khó khăn vướng mắc trong quá trình sản xuất – kinh doanh của đơn vị. Các cơ quan quản lý DN cần xây dựng, thực hiện tiêu chuẩn ISO trong quản lý hành chính công, đồng thời soát xét, đề ra chương trình hành động cụ thể trong thực hiện cải cách hành chính của đơn vị mình.
PV: Liệu chúng ta có thể coi việc dành ưu đãi cho DN trong khuôn khổ thẩm quyền của địa phương được phân cấp là góp phần nâng cao NLCT của DN?
TS. Nguyễn Minh Phong: Tạo điều kiện ưu đãi tối đa trong khuôn khổ thẩm quyền quyết định của chính quyền địa phương được phân cấp, chính là đã góp phần không nhỏ vào nâng cao NLCT của DN.
Các tỉnh có thể miễn các loại phí và lệ phí liên quan đến thủ tục đầu tư và xây dựng, như: đăng ký ưu đãi đầu tư, lập thủ tục giới thiệu địa điểm, cấp chứng chỉ quy hoạch, ký hợp đồng thuê đất, cấp giấy phép xây dựng; thực hiện hỗ trợ lãi suất sau đầu tư đối với khoản vốn vay từ các tổ chức tín dụng sau khi hoàn thành hoặc hoàn thành từng hạng mục đầu tư đưa vào sử dụng và đã trả được nợ vay theo hợp đồng tín dụng; miễn, giảm tiền thuê đất cho các dự án đầu tư vào địa bàn đặc biệt khó khăn, cũng như cho phần diện tích thuê để xây nhà ở cho công nhân của doanh nghiệp; miễn phí sử dụng hạ tầng có thời hạn từ khi bắt đầu sản xuất - kinh doanh và thực hiện biện pháp cưỡng chế thu hồi đất cho thuê nếu sau khi được giao đất, chủ đầu tư dự án không triển khai trên thực tế mà không có lý do chính đáng. Đối với những DN đầu tiên vào KCN mà ở đó quyền sử dụng đất thuộc Nhà nước, nhưng do công ty kinh doanh cơ sở hạ tầng xây dựng cơ sở hạ tầng, thì cho phép DN tính giá gốc thuê đất thô và chỉ trả tiền thuê dịch vụ hạ tầng nào mà DN thực sử dụng. Chính phủ nên cho phép các doanh nghiệp công nghệ cao được áp dụng các ưu đãi dành cho các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư như trước đây, hoặc được hưởng các ưu đãi dành cho DN hoạt động trong khu công nghệ cao (tương tự mô hình DN chế xuất nằm trong KCN được hưởng các ưu đãi theo quy chế khu chế xuất).
Đặc biệt, cần thực hiện hỗ trợ DN (về thủ tục, mặt bằng, vốn...) phát triển sản phẩm chủ lực của Thành phố bắt đầu ngay từ khi đăng ký sản xuất sản phẩm chủ lực và tăng dần mức độ hỗ trợ này để họ đạt tiêu chuẩn theo quy định do Thành phố đặt ra về sản phẩm chủ lực... Để tạo động lực cho doanh nghiệp tham gia cạnh tranh bình đẳng thị trường và tránh ỷ lại, thụ động, trên thực tế, các tỉnh đều sớm dỡ bỏ các hỗ trợ mang tính bao cấp từ NSNN cho DN, chỉ còn duy trì các hỗ trợ trực tiếp một phần kinh phí cho DN xây dựng thương hiệu, đào tạo lao động và triển khai đề án khoa học công nghệ thử nghiệm.
PV: Điểm yếu của các DN là thông tin về thị trường. Vậy các địa phương cần làm gì để giúp DN trong lĩnh vực này, thưa ông?
TS. Nguyễn Minh Phong: Lãnh đạo tỉnh và các cơ quan chức năng của các địa phương cần coi trọng thực hiện và phối hợp các hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại có địa chỉ, cũng như cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cho DN (thông tin, đào tạo lao động, nhà ở...); kết hợp cả hai hoạt động xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại, kể cả việc thành lập quỹ chung (với nguồn vốn NSNN hỗ trợ phần lớn) cho các hoạt động này. Đặc biệt, bên cạnh việc tích cực cử đoàn công tác đi vận động đầu tư và xúc tiến thương mại ở nước ngoài hoặc thông qua các hội nghị, hội thảo, gặp gỡ định kỳ, không định kỳ, cũng như qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua mạng điện tử... các tỉnh đang ngày càng coi trọng hoạt động xúc tiến đầu tư tại chỗ, nghĩa là trực tiếp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các DN đang kinh doanh tại địa phương, để từ đó, truyền đạt các thông điệp cần thiết và quảng bá sự hấp dẫn về môi trường và cơ hội đầu tư đến các DN khác vào làm ăn ở địa phương.
Mặt khác, các địa phương ngày càng cần ý thức rõ hơn về vai trò của chính quyền trong việc hỗ trợ phát triển và cung cấp các dịch vụ trực tiếp đáp ứng nhu cầu của DN, như về liên kết giữa các DN với cơ sở dạy nghề để đào tạo nghề cho lao động (Đồng Nai hỗ trợ cho DN sử dụng trên 20 người tới 100% kinh phí đào tạo lao động tại các cơ sở dạy nghề được thành lập và có đăng ký hoạt động hợp pháp trên địa bàn tỉnh, và hỗ trợ 50% kinh phí cho việc đào tạo ở tỉnh ngoài, nếu các cơ sở tỉnh không đủ sức đào tạo). Việc thành lập quỹ đất để hỗ trợ DN trong lựa chọn địa điểm đầu tư, xây dựng khu tái định cư và xây nhà ở không kinh doanh cho công nhân cũng cần được các địa phương quan tâm. Thành phố Hồ Chí Minh rất coi trọng các hoạt động hỗ trợ DN trong việc xây dựng hệ thống quản lý chất lượng quốc tế (ISO 9000, ISO 14000, HACCP, SA 8000, GMP...), đăng ký sở hữu công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tối ưu hóa công nghệ, tiết kiệm kinh phí sản xuất, tập huấn cho DN về AFTA, APEC, WTO, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, cũng như về sản xuất sạch hơn, công nghệ thông tin, kiểm toán và thương mại điện tử… Việc xuất nhập cảnh và cư trú của các nhà đầu tư, chuyên gia nước ngoài cũng được đơn giản hóa và thuận lợi hóa cho cá nhân, DN…
Tóm lại, nâng cao năng lực cạnh tranh là yêu cầu cấp bách và thường xuyên, cũng như đòi hỏi sự thực hiện đồng bộ các giải pháp và sự phối hợp chặt chẽ giữa tất cả các cấp, ngành, cơ quan hữu quan nhà nước và doanh nghiệp. Đây là một quá trình mở, lâu dài và không thể thực hiện ngày một ngày hai và càng không thể làm theo kiểu hình thức, phong trào…
PV: Xin cảm ơn ông!
Các địa phương cần hỗ trợ tích cực để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
TCCT
Năng lực cạnh tranh (NLCT) của doanh nghiệp (DN) là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố
